17/10/20

Ôn 1

Thành ngữ đã học 

一石二鳥 yì shí èr niǎo. Giản thể: 一石二鸟

三人為眾 sān rén wéi zhòng. Giản thể: 三人为众

唇三口四 chún sān kǒu sì

一日三秋 yī rì sān qiū

四分五裂 sì fēn wǔ liè

九牛一毛  jiǔ niú yī máo

 以一當十 yǐ yī dāng shí. Giản thể: 以一当十

朝三暮四 zhāosān-mùsì 

八兩半斤 bā liǎng bàn jīn. Giản thể: 八两半斤


Chữ Hán đã học

  1. 半 bán = một nửa. Chữ hội ý, gồm bát 八 (chia ra) ngưu 牛 bò (viết thiếu nét) = chia hai con bò, mỗi phần là một nửa.
  2. 八 bát = tám. Hình một vật bị chia hai. Nghĩa gốc là chia ra. Mượn dùng (giả tá) chỉ 8.
  3. 斤 cân = cái rìu. Hình cái rìu (búa). Cũng mượn chỉ đơn vị đo lường khối lượng, 1 cân = 16 lượng.
    Hiện hai từ cân, lượng vẫn còn dùng, nhưng với nghĩa không giống xưa. Cân, khẩu ngữ, chỉ kilogam. 1 cân = 10 lạng; 1 lạng = 100 g. Lượng (hoặc lạng) còn dùng làm đơn vị đo lường khối lượng kim loại quý như vàng, bạc, bạch kim; còn được gọi là cây. 1 lượng = 37,5 g = 10 chỉ.
  4. 眾 chúng = đám đông. Giáp cốt văn vẽ hình ba người là việc dưới ánh mặt trời (xem hình). Ba người, tượng trưng (hội ý) đám đông. Về sau người ta thay hình ông mặt trời bằng hình con mắt 罒 , hẳn là của một ông chủ nào đó đang canh chừng đám nô lệ làm việc. Cũng viết: 衆. Giản thể: 众 gồm ba chữ nhân, phần dưới của dạng phồn 眾
  5. 九 cửu = chín. Vẽ (tượng hình) cái khuỷu tay, nghĩa gốc của nó cũng là cái khuỷu tay. Mượn (giả tá) chỉ số 9.
  6. 以 dĩ = lấy. Giáp cốt văn vẽ cái lưỡi cày, nghĩa gốc của nó là lưỡi cày. Nghiã mở rộng là lấy, dùng, làm ..  hoặc làm giới từ, với nghĩa vì, do, bằng, .. về sau chỉ dùng các nghĩa mở rộng, còn nghĩa "lưỡi cày" thì dùng chữ khác.
  7. 鳥 điểu  = chim. Chữ tượng hình. Ở dạng giáp cốt văn (chữ thời kì đầu) hình khá giống con chim. Các nét vẽ theo thời gian bị lược bớt, giờ nhìn không mấy giống nữa. 
  8. 當 đương. Là chữ hình thanh, gồm thượng 尚 (thích) chỉ âm + điền 田  (ruộng) chỉ ý. Nghĩa gốc là hai mảnh ruộng bằng nhau, mở rộng thành tương đương, tương xứng, như trong thành ngữ môn đương hộ đối. Để được tương xứng thì phải chăm sóc, nên đương 當 có thêm nghĩa cai quản, trông coi, như đương quyền là nắm quyền, đương vị là nắm giữ chức vị, đương gia là chăm sóc việc nhà. Lại do cai quản chăm sóc nên phải đối phó nhiều thứ vấn đề, nên nghĩa của chữ đương lại mở rộng thêm là đối mặt, đương đầu, hướng vào. .. Đây là nghĩa của chữ đương trong câu đang xét.  
  9. hòa 禾 = cây lúa. vẽ (tượng hình) cây lúa với bông lúa trên ngọn. 
  10. hỏa 火 = lửa. Vẽ hình ngọn lửa. 
  11. 口 khẩu = miệng.
  12. 列 liệt gồm bộ xương 歹 và cây dao 刂 (cách viết khác của chữ đao 刀), nghĩa gốc là chia ra (lấy dao lóc xương ra). Nghĩa rộng là bày ra, dàn hàng. Dùng làm danh từ thì có nghĩa là hàng, dãy, đoàn. Liệt trong liệt vị, liệt cường, liệt kê đều là chữ liệt 列 này. (Liệt trong liệt sĩ thì viết khác).
  13. 裂 liệt = vải vụn sau khi cắt 列 áo 衣 còn dư. Liệt 列 còn chỉ âm đọc. Mở rộng nghĩa thành cắt, rách, xé ra rồi chia tách, li tán. 
    列 cũng có một nghĩa là chia tách, nên có khi cũng dùng thay 裂. 
  14. 兩 lưỡng = hai, cặp. Đọc (chuyển chú) lượng (lạng) = đơn vị đo lường khối lượng cổ, bằng 1/16 cân. Cũng viết 两. Hình cái ách và hai cái yên ngựa trên cỗ xe song mã xưa.
  15. 莫 mạc. Hình mặt trời 日 đã khuất sau đám lá ( viết thành 艹 và 大) Nghĩa gốc là chiều tối, về sau bị mượn (giả tá) làm phó từ, có nghĩa là đừng, chớ. Nghĩa gốc chiều tối thì thêm chữ nhật 日 đặt chữ mới: 暮 mộ
  16. 毛 mao = lông. Vẽ hình cái lông chim
  17. 暮 mộ = chiều tối. 朝暮 triêu mộ = sáng sớm và chiều tối. Nhà văn Võ Hồng có tập truyện ngắn Tiếng chuông triêu mộ, từng có người nhầm thành Tiếng chuông chiêu mộ!
  18. 五 ngũ = năm. Dùng số gạch 一 二 三 để biểu thị 1, 2, 3 thì rất trực quan, nhưng nếu tiếp tục dùng với 5 thì sẽ rất rối mắt. Vì thế người ta dùng hai gạch chéo nhau X biểu thị 5. Theo thời gian hai gạch chéo ban đầu thành chữ 五 ngày nay. 
  19. 月 nguyệt = mặt trăng. Vẽ hình mặt trăng.
  20. 牛 ngưu = con bò, trâu. Vẽ hình đầu bò với cái sừng. 
  21. 人 nhân = người. Chữ tượng hình. Giáp cốt văn vẽ hình một người đứng. 
  22. 一 nhất = 1. Gạch một gạch chỉ số 1 (chỉ sự) 
  23. 日 nhật = mặt trời. Vẽ (tượng hình) ông mặt trời. Nghĩa mở rộng: ngày. 日日 ngày ngày. 一日 một ngày.
  24. 二 nhị = hai. Chữ chỉ sự: vẽ hai gạch, chỉ 2.
  25. 分 phân = chia. Dùng dao 刀 (hình cây dao, âm Hán Việt là đao) phân chia một khúc cây thành hai đoạn 八. 
  26. 三 tam = ba. Chữ chỉ sự: Gạch ba gạch, chỉ 3. 
  27. 石 thạch = đá. Chữ tượng hình: vẽ hình hòn đá nằm bên sườn núi. 
  28. 唇 thần = môi. Gồm chữ thần 辰 và bộ khẩu 口. Là chữ hình thanh, với 口 khẩu = miệng là phần chỉ nghĩa + 辰 thần, cũng đọc là thìn = chi thìn trong 12 chi (tí sửu dần ..) là phần chỉ âm đọc.
    唇 cũng viết 脣 gồm thần 辰 ( = thìn) + bộ nhục 月 ( = thịt).
  29. 十 thập = mười. Ban đầu để kí hiệu số mười thì vẽ một nét đứng. Sau để tránh nhầm với 1, người ta đánh một dấu ngang nhỏ ở giữa. Theo thời gian nét ngang dài ra, thành chữ thập như hiện thấy.
  30. 秋 thu = mùa lúa 禾 chín đỏ (như màu lửa 火). 秋日 ngày thu.
  31. 朝 triêu = sáng sớm. Là lúc mặt trời đã nhô lên khỏi đám lá chiếu những tia sáng đầu tiên 𠦝 nơi chân trời, nhưng mặt trăng 月 vẫn còn. Chữ này còn đọc (chuyển chú) là triều, như trong triều đình = nơi vua tôi bàn việc nước; triều đại = thời gian trị vì của một nhà: Triều Nguyễn, Triều Lê.  
  32. 四 tứ = bốn. Hình lỗ mũi với hai vệt nước. Nghĩa gốc là nước mũi, mượn (giả tá) chỉ số 4. Nghĩa (nước mũi) bị mượn, người ta sẽ đặt chữ mới (là chữ 泗 - thêm ba chấm thủy ở trước, vẫn đọc là tứ)
  33. 為 vi = làm, là. Giáp cốt văn là hình bàn tay dắt con voi đi làm việc. Cũng viết 爲. Giản thể: 为
  34. 衣 y = áo. Vẽ hình (tượng hình) cái áo.

Lục thư: 6 phép cấu tạo chữ Hán: Thượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú và giả tá.

*

Chữ vi 爲 theo thời gian (hình trên trang http:// qiyuan.chaziwang.com/)




16/10/20

bát lạng bán cân

八兩半斤 bā liǎng bàn jīn 八两半斤
八 bát = tám, 兩 lạng = lạng, 半 bán = nửa, 斤 cân = cân.
八兩半斤 bát lượng bán cân = (bên) tám lạng (bên) nửa cân. Đơn vị đo lường xưa, một cân = 16 lạng. Nên tám lạng = nửa cân, lực lượng (tài sức, .. ) ngang nhau. 

HỌC CHỮ
八 bát = tám. Hình một vật bị chia hai. Nghĩa gốc là chia ra. Mượn dùng (giả tá) chỉ 8.
兩 lưỡng = hai, cặp. Đọc (chuyển chú) lượng (lạng) = đơn vị đo lường khối lượng cổ, bằng 1/16 cân. Cũng viết 两. Hình cái ách và hai cái yên ngựa trên cỗ xe song mã xưa.
半 bán = một nửa. Chữ hội ý, gồm bát 八 (chia ra) ngưu 牛 bò (viết thiếu nét) = chia hai con bò, mỗi phần là một nửa.
斤 cân = cái rìu. Hình cái rìu (búa). Cũng mượn chỉ đơn vị đo lường khối lượng, 1 cân = 16 lượng. 
Hiện hai từ cân, lượng vẫn còn dùng, nhưng với nghĩa không giống xưa. Cân khẩu ngữ, chỉ kilogam. 1 cân = 10 lạng; 1 lạng = 100 g. Lượng (hoặc lạng) còn dùng làm đơn vị đo lường khối lượng kim loại quý như vàng, bạc, bạch kim; còn được gọi là cây. 1 lượng = 37,5 g = 10 chỉ.

*
Chữ lưỡng 兩 theo dòng thời gian (hình trên mạng)



15/10/20

triêu tam mộ tứ

朝三暮四 zhāosān-mùsì 

朝 triêu = buổi sáng, 三 tam = ba, 暮 mộ = chiều tối, 四 tứ = bốn. 

朝三暮四 sáng (thì bảo) ba, chiều (lại nói) bốn. Ban đầu vốn dùng chỉ kẻ lường gạt, khi nói thế này lúc nói thế kia; về sau thường dùng chỉ người hay thay đổi ý kiến, do dự bất quyết, tính tình sáng nắng chiều mưa. (Say three in the morning but four in the evening​; to change sth that is already settled upon, indecisive, to blow hot and cold)

HỌC CHỮ:
日 nhật = mặt trời. Vẽ hình mặt trời.
月 nguyệt = mặt trăng. Vẽ hình mặt trăng
朝 triêu = sáng sớm. Là lúc mặt trời đã nhô lên khỏi đám lá chiếu những tia sáng đầu tiên 𠦝 nơi chân trời, nhưng mặt trăng 月 vẫn còn. Chữ này còn đọc (chuyển chú) là triều, như trong triều đình = nơi vua tôi bàn việc nước; triều đại = thời gian trị vì của một nhà: Triều Nguyễn, Triều Lê,  
三 tam = ba. Chữ chỉ sự: Gạch ba gạch, chỉ 3.
莫 mạc. Hình mặt trời 日 đã khuất sau đám lá ( viết thành 艹 và 大) Nghĩa gốc là chiều tối, về sau bị mượn (giả tá) làm phó từ, có nghĩa là đừng, chớ. Nghĩa gốc chiều tối nên thêm chữ nhật 日 đặt chữ mới:
暮 mộ = chiều tối. 朝暮 triêu mộ = sáng sớm và chiều tối. Nhà văn Võ Hồng có tập truyện ngắn Tiếng chuông triêu mộ, từng có người nhầm thành Tiếng chuông chiêu mộ!
四 tứ = bốn. Hình lỗ mũi với hai vệt nước. Nghĩa gốc là nước mũi, mượn (giả tá) chỉ số 4.

*
Chữ triêu 朝 qua các thời kì

(Hình trên mạng)

14/10/20

mưa khuya

 Mình tôi thức với mưa đêm thật buồn.
Cảm ơn những trận mưa nguồn ...


Mưa khuya, nhạc Thiên Toàn phổ nhạc thơ Phạm Bá Nhơn. Bảo Yến trình bày.

Nguyên tác bài thơ của Phạm Bá Nhơn

Nửa khuya mưa trút từng cơn
Nằm nghe tiếng gió oán hờn trên cây
Nỗi buồn muôn kiếp về đây
Giữa lòng lá úa rụng đầy lối đi
Giọt mưa ướt đẫm đôi mi
Thấm tan thảm cỏ xanh rì bãi nương
Khuya mưa lạnh cả phố phường
Ngập chìm lối cũ trên đường em qua
Ta mơ thành giọt mưa sa
Hôn lên mái tóc, thơm tà áo bay
Mưa đang rớt xuống nơi này
Chảy tràn vạt đất tôi cày năm xưa
Thấm lòng giọt nước say sưa
Vỡ tan bong bóng lưa thưa bên thềm
Tôi nghe giữa trái tim mềm
Mình tôi thức với mưa đêm thật buồn
Cảm ơn những trận mưa nguồn
Để cho nỗi nhớ chảy tuôn vào hồn.





dĩ nhất đương thập

 以一當十 yǐ yī dāng shí. Giản thể: 以一当十

以 dĩ = lấy, 一 nhất = một, 當 đương = chống lại, 十  thập = mười.
以一當十 Dĩ nhất đương thập = Lấy một chống mười, lấy ít chống nhiều; ý là rất tài giỏi lợi hại. Coi phim cao bồi, phim /truyện võ hiệp, truyện con nít .. ta thường gặp cảnh nhân vật chính một mình đánh nhau với cả một đám côn đồ, và dĩ nhiên là đánh thắng, cứu được công chúa v.v. Đọc sử VN bây giờ ta cũng thường gặp những nhân vật tài giỏi như thế.

HỌC CHỮ

 以 dĩ = lấy. Giáp cốt văn vẽ cái lưỡi cày, nghĩa gốc của nó là lưỡi cày. Nghiã mở rộng là lấy, dùng, làm ..  hoặc làm giới từ, với nghĩa vì, do, bằng, .. về sau chỉ dùng các nghĩa mở rộng, còn nghĩa "lưỡi cày" thì dùng chữ khác.

 一 nhất = 1 

當  là chữ hình thanh, gồm thượng 尚 (thích) chỉ âm + điền 田  (ruộng) chỉ ý. Nghĩa gốc là hai mảnh ruộng bằng nhau, mở rộng thành tương đương, tương xứng, như trong thành ngữ môn đương hộ đối. Để được tương xứng thì phải chăm sóc, nên đương 當 có thêm nghĩa cai quản, trông coi, như đương quyền là nắm quyền, đương vị là nắm giữ chức vị, đương gia là chăm sóc việc nhà. Lại do cai quản chăm sóc nên phải đối phó nhiều thứ vấn đề, nên nghĩa của chữ đương lại mở rộng thêm là đối mặt, đương đầu, hướng vào. .. Đây là nghĩa của chữ đương trong câu đang xét.  

十 thập = mười. ban đầu để kí hiệu số một người ta vẽ một gạch ngang, kí hiệu số mười thì vẽ một nét đứng. Sau để tránh nhầm với 1, người ta đánh một dấu ngang nhỏ ở giữa. Theo thời gian nét ngang dài ra, thành chữ thập như hiện thấy.

*

Hình (trên mạng): Chữ dĩ 以 theo thời gian (bên phải, từ trên xuống): Giáp cốt văn, kim văn, triện thư, lệ thư, khải thư, thảo thư và hành thư




13/10/20

cửu ngưu nhất mao

 九牛一毛  jiǔ niú yī máo

九 cửu = chín. Vẽ (tượng hình) cái khuỷu tay, nghĩa gốc của nó cũng là cái khuỷu tay. Mượn (giả tá) chỉ số 9.

牛 ngưu = con bò, trâu. Vẽ hình đầu bò với cái sừng. 

一 nhất = 1. gạch một gạch chỉ số 1 (chỉ sự) 

毛 mao = lông. Vẽ hình cái lông chim

九牛一毛 cửu ngưu nhất mao = chín bò một sợi lông, ý là không đáng kể, không có chút ảnh hưởng gì. Như một giọt nước trong biển cả, một hạt cát trong sa mạc. 

Tiếng Anh: a single hair out of nine ox hides, a drop in the ocean.

Chữ ngưu 牛 qua các thời kì: giáp cốt văn, triện thư, lệ thư và khải thư


(hình trên mạng)