Từ lâu đã có ý kiến đề xuất thay cụm “tài khoản” (khi dùng cho mạng xã hội) bằng “danh khoản”. Theo những người này, “tài khoản” vốn là thuật ngữ thuộc lĩnh vực ngân hàng, nay chuyển sang dùng cho mạng xã hội là không thích hợp, vì “tài” (財) mang nghĩa tiền bạc, của cải, trong khi tài khoản MXH không liên quan đến tiền.
Dù “danh khoản” nghe có vẻ hay và logic, nhưng việc thay đổi lúc này đã quá muộn. Từ “tài khoản” đã quá quen thuộc với hàng chục triệu người dùng.Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể bàn chơi một chút: liệu có thật sự nên thay vì từ này đã bị dùng “không đúng” hay không?
Từ “tài khoản” là cách Việt hóa của tiếng Anh account.
Account xuất hiện trong tiếng Anh khoảng cuối thế kỷ 13 – đầu thế kỷ 14, mượn từ tiếng Pháp cổ acont/acunter (liên quan đến aconter = đếm, tính toán). Nghĩa gốc là tính toán, ghi chép thu chi, bảng kê chi tiết về tiền bạc và tài sản. Về sau, từ này mở rộng dần: trước là dùng trong ngân hàng, sau đó là tài khoản người dùng trên mạng xã hội. Điểm chung giữa các nghĩa này chính là “bản ghi chép có hệ thống”. Khi cần phân biệt, tiếng Anh thường thêm từ định danh: bank account, user account.
Trước 1975, ở miền Nam, bank acc = trương mục ngân hàng.
Sau 1975, bank acc = tài khoản ngân hàng.
Về sau mở rộng, dùng cho MXH, thì user acc = tài khoản người dùng.
Lưu ý rằng “trương mục” và “tài khoản” đều là từ Hán Việt, nhưng không phải là cách nói gốc của người Tàu. Họ dùng:
- Bank account: 銀行帳戶 (ngân hàng trướng hộ)
- User account: 用戶帳戶 (dụng hộ trướng hộ) hoặc 帳號 (trướng hiệu).
Tóm lại, trong tiếng Anh, account bắt đầu từ nghĩa “đếm, tính toán” rồi mở rộng tự nhiên sang tài khoản [ngân hàng] và tài khoản [MXH].
Từ "tài khoản" trong tiếng Việt đơn giản chỉ là đi theo đúng con đường mở rộng nghĩa như thế.
Việc mở rộng nghĩa là hiện tương hoàn toàn bình thường trong mọi ngôn ngữ.
Ví dụ: Từ chân [cẳng] có thể mở rộng qua thành chân [bàn] rồi chân [núi], chân [mày] vì người ta nhận ra được nét nghĩa chung giữa các loại chân ấy: vị trí thấp nhất/đáy của một vật.
Vì thế, việc đặt ra một từ mới (danh khoản) dù nghe có vẻ chính xác hơn, nhưng thật ra ko cần thiết. Nếu cứ mỗi ngữ cảnh mới lại đẻ ra một từ mới thì vừa không tiết kiệm tài nguyên ngôn ngữ, vừa làm rối việc ghi nhớ (chẳng lẽ phải đặt riêng 4 từ khác nhau cho 4 loại "chân"?). Và trong nhiều trường hợp, làm mất đi vẻ đẹp từ những liên tưởng, ẩn dụ.
Cũng xin nói thêm, điều nhiều người lăn tăn nhất ở từ "tài khoản" là vì cái account trên MXH có dính líu gì đến tiền bạc đâu. Thật ra ngày nay, account MXH của một số người cũng có thể quy ra tiền. Thậm chí rất nhiều tiền.


