21/9/26

Hữu

 

Trong giáp cốt văn người ta dùng chữ 又 (hựu: tượng hình bàn tay phải) để ghi nghĩa nắm giữ, có. Về sau, 又 bị mượn (giả tá) dùng làm phó từ (lại, lần nữa), nên đến kim văn để ghi nghĩa người ta thêm hình miếng thịt vào. Thời cổ, có được miếng thịt ăn là một sự kiện đáng dùng để biểu thị sự sở hữu.


Trong các thời kì tiếp theo, cấu trúc "tay cầm miếng thịt" hầu như không thay đổi. Miếng thịt 肉 (nhục) thời bấy giờ viết khá giống chữ 月 (nguyệt: trăng). Thời kì lệ biến, hình bàn tay được viết thành 𠂇, từ đó định hình nên chữ 有 6 nét trong khải thư như hiện nay.

Thuyết văn giải tự: 「有,不宜有也。《春秋傳》曰:日月有食之。从月,又聲。」 Hữu, bất nghi hữu dã. Xuân Thu truyện viết: 'Nhật nguyệt hữu thực chi.' Tòng Nguyệt, Hựu thanh. = [Hữu] là điều đáng lẽ không nên có. Sách Xuân Thu: "Mặt trời mặt trăng có lúc bị ăn". Cấu tạo từ bộ kiện Nguyệt (月), Hựu (又) là bộ phận biểu âm (thanh phù).

Hứa Thận dùng cụm từ "不宜有" (không nên có) là nhắm vào câu trong kinh Xuân Thu được ông trích dẫn sau đó: 「日月有食之」. Nhật thực, nguyệt thực là hiện tượng mà người xưa cho là bất thường, đáng lẽ không nên xảy ra mà lại xảy ra.

Đoàn Ngọc Tài giải thích: 「本是不當有而有之偁」 bản thị bất đáng hữu nhi hữu chi xưng: gọi cái không đáng có mà lại có. Tức, cuối cùng, nghĩa của 有 vẫn là “có, tồn tại” như cách hiểu thông thường.

Hứa Thận đã giải nghĩa một cách quanh co. Ngoài ra ông phân tích cấu tạo cũng không phù hợp với hình thức ban đầu của chữ Hữu. Trong giáp cốt văn, hình tay cầm miếng thịt, giống chữ Nguyệt (月) nhưng không phải chữ Nguyệt (mặt trăng) - trong giáp cốt văn, Nguyệt tượng hình mặt trăng khuyết, hình thể rất khác.

link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/有



10/9/26

Từ chữ 邨 đến chữ 村: Ngôn ngữ là của số đông

 Bài đọc thêm

== Từ chữ 邨 đến chữ 村: Ngôn ngữ là của số đông ==
Trong ''Thuyết văn giải tự'', Hứa Thận ghi nhận: '''「邨,地名。从邑屯聲。」''' Thôn, địa danh, cấu tạo từ bộ kiện ấp, đồn làm thanh phù.

Như vậy, '''[[邨]]''' vốn là tên gọi của một vùng đất, là chữ hình thanh, cấu tạo từ hai bộ kiện:
* '''[[邑]]''' (''ấp'': vùng đất).
* '''[[屯]]''' (''đồn'' /tún/).

Từ tên gọi một vùng đất, nghĩa được mở rộng, phiếm chỉ những xóm làng nhỏ, nơi tụ cư của những người dân quê, phần lớn sống bằng nghề nông. Bản thân bộ kiện 邑 (với nghĩa gốc là vùng đất phong) cũng như 屯 (vốn có nghĩa là tụ tập, đồn trú) đều hỗ trợ cho sự chuyển nghĩa này, tạo ra một nét nghĩa hội ý rất thỏa đáng.

Tuy nhiên vào thời Tống, khi Từ Huyễn vâng mệnh vua hiệu đính ''Thuyết văn giải tự'' đã chú thích: 臣鉉等曰:今俗作村,非是 ''Thần Huyễn đẳng viết: Kim tục tác thôn, phi thị'' = Thần là Từ Huyễn cùng các đồng sự xin thưa: Nay tục viết thành 村 là không đúng.

Tức là, bên cạnh chữ 邨 chính thống được Thuyết văn ghi nhận thời Hán, trong dân gian bấy giờ còn sử dụng chữ 村 để ghi nghĩa "xóm làng".

Vì sao đã có chữ 邨, lại còn đặt thêm chữ 村 để thay thế, và nhờ vào đâu để dần đẩy chữ gốc 邨 vào chỗ quên lãng?

Có lẽ, lí do đầu tiên là '''sự minh xác về nghĩa''': chữ 村 ngay từ khi ra đời đã mang thẳng nét nghĩa "xóm làng", không phải trải qua con đường phái sinh từ một địa danh như 邨.

Lí do thứ hai là '''sự trực quan về hình ảnh'''.
Trái với thành thị là một không gian kín với tường thành bao quanh, nhà cửa phố xá san sát, cây cối hiếm hoi; xóm làng thôn quê là một không gian thoáng đãng, thường ngút một màu xanh của lúa của dâu. Trong chữ 邨, bộ kiện 邑 (ấp) với hình khung thành 囗 tù túng rõ ràng không phù hợp để mô tả làng quê bằng bộ kiện [[木]] (mộc) trong chữ 村.

Cuối cùng, có lẽ là vấn đề về '''âm thanh và cảm nhận'''. 屯 đọc là ''đồn'' (tụ tập), ngoài ra còn đọc là '''truân''' (truân chuyên, khó khăn), sao dễ chịu bằng 寸 (''thốn'') vốn tượng hình bàn tay vô cùng thân thuộc?

Chữ 村 tuy được phân tích hàn lâm là chữ hình thanh, nhưng nếu chiết tự một cách bình dân thì vẫn hết sức tự nhiên: thôn xóm là nơi người ta dùng tay (寸) trồng cây (木) lúa để ăn, trồng dâu để nuôi tằm dệt lụa...

Và thế là, một chữ chính thống có cấu trúc chặt chẽ, đầy ý nghĩa đã bị thay thế bởi một chữ "bình dân" nhưng trực quan và dễ hiểu hơn. Ngôn ngữ bao giờ cũng là của số đông những người sử dụng nó, mặc kệ những bậc sĩ đại phu lắm chữ trợn mắt lắc đầu 非是 (''phi thị'')!

link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/村


Đại Nam Quấc âm Tự vị

 link từ fb Brian Wu




9/9/26

Từ bào thai đến vỏ xe

 Từ bào thai đến vỏ xe

Ngày xưa ở Trung Quốc, bánh xe chủ yếu được làm bằng gỗ hoặc kim loại. Bánh xe gọi là (luân).

Từ cuối thế kỷ XIX, cùng với sự du nhập của xe đạp, ô tô và kĩ thuật phương Tây, loại bánh xe dùng lốp cao su bơm hơi dần xuất hiện. Trong tiếng Hán, các bộ phận này được gọi bằng những thuật ngữ như 內胎 (nội thai - săm, ruột xe), 外胎 (ngoại thai - lốp ngoài) và 輪胎 (luân thai - lốp xe).

Vậy chữ (thai) trong những từ này có quan hệ gì với nghĩa gốc “bào thai”?

Có hai cách giải thích đáng chú ý.

1. Thuyết phiên âm

Một cách giải thích cho rằng trong 輪胎 có thể liên quan đến việc phiên âm tiếng Anh tire/tyre (“lốp xe”). Âm trong tiếng Hán hiện đại là /tāi/, rất gần với âm đầu của tire/tyre.

Cách giải thích này khá hấp dẫn vì nó đưa ra một con đường ngắn nhất giải thích cho một từ ngữ kĩ thuật mới. Tuy nhiên, điểm hạn chế của thuyết này là khó giải thích trọn vẹn sự xuất hiện của các từ như 內胎 (nội thai) hay 外胎 (ngoại thai), vốn mang cấu trúc định nghĩa thuần ngữ nghĩa tiếng Hán chứ không phải cách ghép của từ phiên âm.

2. Thuyết diễn hóa nghĩa

Một cách giải thích khác dựa vào sự liên tưởng giữa bào thaimột túi mềm có tính đàn hồi, chứa chất lỏng/khí để bảo vệ phần bên trong.

Nghĩa gốc của bào thai, tức cơ thể non đang được hình thành trong bụng mẹ. Thai nhi nằm trong túi ối — một cấu trúc màng chứa dịch, có tác dụng bảo vệ và giảm chấn.

Từ hình ảnh một vật thể được bao bọc, bảo vệ và có tính đàn hồi, chữ trong tiếng Hán dần được mở rộng để chỉ phần cốt, phần nòng hoặc lớp đệm bên trong của vật thể. Khi lốp xe bơm hơi du nhập, cấu tạo của nó có một điểm tương đồng rất rõ nét: bên trong là một không gian chứa khí đàn hồi, bao bọc và nâng đỡ toàn bộ bánh xe.

Từ đó, một hệ thống thuật ngữ cơ khí được hình thành rất logic:

  • 內胎 (nội thai): săm, ruột xe — túi cao su đàn hồi nằm bên trong, chứa khí (tương tự như túi ối chứa dịch).
  • 外胎 (ngoại thai): lốp ngoài — lớp cao su dày bên ngoài, bảo vệ săm và tiếp xúc với mặt đường.
  • 輪胎 (luân thai): lốp xe nói chung (gồm cả bộ vỏ và ruột).

Về sau, khi lốp không săm (tubeless tire) trở nên phổ biến, 輪胎 được dùng để chỉ thẳng cái lốp xe hiện đại.

Nếu theo thuyết diễn hóa nghĩa, con đường liên tưởng phát triển như sau:

bào thai → túi màng mềm, đàn hồi bảo vệ bên trong → cấu trúc đàn hồi chứa khí → săm/lốp xe

Chữ trong 輪胎 như vậy hoàn toàn là nghĩa phái sinh tự nhiên theo phương thức ẩn dụ. Sự liên tưởng tuy qua nhiều nấc trung gian, nhưng rất chặt chẽ và phản ánh đúng tư duy định danh của ngôn ngữ học tri nhận.

link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/胎 



31/8/26

Học

 HỌC 學

---
Lục thư: Hội ý

Cấu tạo

Tự hình trong giáp cốt văn gồm hình hai bàn tay hai bên, giữa là hình mấy thẻ tre 爻, dưới là hình mái nhà.

Đây là chữ hội ý, biểu thị việc dùng hai bàn tay để hướng dẫn hoặc học tập việc bói toán/tính toán (bằng thẻ tre) – tức mang nghĩa dạy dỗ hoặc học tập. Hình mái nhà chỉ nơi diễn ra hoạt động ấy.

Đến kim văn thì bổ sung thêm hình đứa trẻ dưới mái nhà, ý nghĩa của bức vẽ càng rõ ràng.

Về sau, để phân biệt, người ta thêm hình bàn tay cầm cây roi vào bên phải cho nghĩa dạy, còn hình không có cây roi là học.

Trải qua quá trình cách điệu thời Chiến Quốc, kí hiệu hóa trong lệ thư thời Tần - Hán, hình hai bàn tay được viết thành 𦥑, mái nhà thành 冖, đứa trẻ thành 子, tay cầm cây roi thành 攵; định hình cấu trúc 學 (học) và 斆 (giáo) trong khải thư như ngày nay.

Thuyết văn giải tự: 「斆,覺悟也。從教從冂。冂,尚矇也。臼聲。學,篆文斆省。」 Hiệu, giác ngộ dã. Tòng giáo tòng quynh. Quynh, thượng mông dã. Cữu thanh. Học, triện văn hiệu tỉnh. = Hiệu nghĩa là giác ngộ. Cấu tạo từ Giáo (教) và Quynh (冂). Quynh nghĩa là vẫn còn mờ tối (mông muội). Cữu (臼) làm thanh phù. Học (學) là triện văn của chữ Hiệu (斆) được lược bớt.
Thuyết văn phân tích 學 là dạng tỉnh lược của 斆 là phân tích ngược, không đúng với quá trình diễn biến của chữ. Việc xếp 學 vào loại chữ hình thanh cũng không thuyết phục. Bộ phận được gọi là “thanh phù” (臼) thực chất là biến dạng của hai bàn tay, không liên quan gì đến chữ 臼 có âm đọc là cữu (cái cối).

https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/學

17/8/26

Nhất

Cấu tạo

Lục thư: Chỉ sự

Xuất hiện từ thời kì giáp cốt văn, cho đến nay, tự hình chữ "Nhất" về cơ bản không thay đổi, đều dùng một nét ngang để biểu thị số lượng "một".

Thuyết văn giải tự: 「一,惟初太始,道立於一,造分天地,化成萬物。」 Nhất, duy sơ thái thủy, đạo lập ư nhất, tạo phân thiên địa, hóa thành vạn vật. = Một là khởi nguyên tối sơ. Đạo được xác lập từ Một; tạo ra sự phân chia trời đất, biến hóa thành muôn vật. 

Theo Hứa Thận, Nhất không chỉ là số đếm nhỏ nhất, mà còn là biểu tượng của nguyên lí sơ khai sinh thành vũ trụ (Thái Thủy / Thái Cực). Đây là cách giải thích nghĩa chữ theo quan điểm triết học và vũ trụ quan đương thời, thường gặp trong "Thuyết văn".

Nghĩa

Nghĩa gốc: một, số đếm đầu tiên.

Mở rộng, làm tính từ, có nghĩa thứ nhất, đầu tiên; làm phó từ, có nghĩa: một lần; một chút; vừa mới ; làm động từ, có nghĩa: hợp nhất, làm thành một.

Thành ngữ

  • 舉一反三 Cử nhất phản tam: [Thầy] nêu một góc mà [trò] có thể suy ra ba góc còn lại. Chỉ việc người thầy dạy một điều, người học phải biết suy ra những điều tương tự.
  • - số từ: một (góc).
    - động từ: suy ra, lấy điều đã biết mà suy xét ngược lại.
    Nghĩa bóng: chỉ người học có khả năng từ một điều mà suy ra nhiều điều khác; cũng hàm ý yêu cầu người học phải tích cực tự học, biết suy luận và mở rộng kiến thức.
    Xuất xứ: 「不憤不啟,不悱不發,舉一隅不以三隅反,則不復也」 (Luận ngữ, Thuật Nhi): Bất phẫn bất khải, bất phỉ bất phát, cử nhất ngung bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dã = Không bức bối vì chưa hiểu thì không gợi mở; không đến mức muốn nói mà chưa nói ra được thì không giúp làm rõ ý. Nêu một góc mà không tự lấy ba góc còn lại để đáp lại thì không dạy thêm nữa.
    Ý nói người thầy chỉ gợi mở khi người học thực sự muốn tìm hiểu và đã tự suy nghĩ; đồng thời đòi hỏi người học phải chủ động suy luận, từ một điều biết suy ra những điều khác.
  • 百聞不如一見 Bách văn bất như nhất kiến: trăm nghe không bằng một thấy.
一 nhất (số từ): một (lần).
  • 一舉兩便 Nhất cử lưỡng tiện: một việc làm mà có hai cái lợi, một công đôi việc.
一 nhất (số từ): một lần, một việc.
  • 大小不一 Đại tiểu bất nhất: lớn nhỏ không như nhau.
一 nhất (tính từ): giống nhau, đồng nhất.
  • 一身是汗 Nhất thân thị hãn: cả người đầy mồ hôi.
一 nhất (tính từ): toàn bộ, cả.
  • 一聽就懂 Nhất thính tựu đổng: vừa nghe là hiểu ngay.
一 nhất (phó từ): vừa mới, một lần.
  • 一見如故 Nhất kiến như cố: mới gặp lần đầu mà thân thiết như đã quen từ lâu.
一 nhất (phó từ): vừa mới, lần đầu.

Vai trò bộ thủ

一 (nhất) là bộ thủ đầu tiên (số 001) trong hệ thống 214 bộ thủ Khang Hi.

Chữ Hán thông dụng thuộc bộ Nhất khoảng 20 chữ, tiêu biểu có:

(thượng: bên trên), (hạ: bên dưới), (tam: ba), (trượng: đơn vị đo chiều dài), (bất: không), (sửu: chi Sửu), (bính: can Bính), (khâu: gò đất), (thả: lại, còn), (thế: đời), (thừa: giúp đỡ), (dậu: chi Dậu), (lưỡng: hai), (tang: mất), (tịnh: đứng cạnh nhau).

Điểm chung của chúng là trong tự hình có bộ kiện "一", nên được xếp vào bộ Nhất để tiện tra cứu, ngoài ra không có quan hệ gì về âm hoặc nghĩa với chữ Nhất.

Âm đọc tiếng Hán Phổ thông

Trong tiếng Hán Phổ thông, 一 đọc là , dễ bị nhầm lẫn với ( thất: bảy) do cả hai đều có thanh điệu ngang (thanh 1) và cách phát âm tương đối gần giống nhau.

Để tránh nhầm lẫn (đặc biệt khi đọc số điện thoại, số tài khoản, ...), người ta thường thay thế chữ 一 (yī) bằng cách đọc là /yāo/ (), tức đọc theo âm đọc của chữ 幺 (yêu). Cách đọc này được sử dụng phổ biến trong quân đội, hàng không, bưu chính viễn thông và các lĩnh vực cần độ chính xác cao.

Cách viết khác

Trong các văn bản quan trọng (như hóa đơn, hợp đồng) để chống tẩy xóa, chữ Nhất 一 thường được thay thế bằng các chữ phức tạp hơn (tục gọi là chữ Nhất kép):

Nhất còn có một dị thể cổ, nay ít dùng: .

Câu đố chữ

上而不上,
下而不下,
且宜在下,
不可在上。
Thượng nhi bất thượng,
Hạ nhi bất hạ,
Thả nghi tại hạ,
Bất khả tại thượng.

(Đố là chữ Hán gì?)

Đáp án: Chữ Nhất (一)

Giải thích: Câu đố mô tả vị trí của nét ngang (一) trong các chữ:

  • "Thượng nhi bất thượng": Nét 一 trong chữ 上(thượng) không nằm ở trên cùng.
  • "Hạ nhi bất hạ": Nét 一 trong chữ 下 (hạ) không nằm ở dưới cùng.
  • "Thả nghi tại hạ": Trong chữ 且 (thả) và 宜 (nghi), nét 一 đều ở phía dưới.
  • "Bất khả tại thượng": Trong chữ 不 (bất) và 可 (khả), nét 一 đều ở phía trên.

→ Điểm chung duy nhất chính là nét ngang "一" (chữ Nhất).

Link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/

16/8/26

Chữ Khâu

 Lục thư: Tượng hình

Tự hình trong giáp cốt văn mô phỏng hình dáng hai gò đất nhỏ nhô lên đứng cạnh nhau, khác với chữ (sơn) vốn được viết bằng ba ngọn núi.

Đến thời Chiến Quốc, phần tượng trưng cho hai gò đất bị biến đổi, trông giống hai người đứng quay lưng vào nhau trên một nét ngang biểu thị mặt đất (xem hình). Trong tiểu triện, hình thái này được cách điệu thành 丠. Trải qua quá trình lệ biến, các nét của phần giống chữ (bắc) bị nối liền tùy tiện, làm mất hẳn dáng tượng hình ban đầu; sau đó được khải thư kế thừa và quy phạm hóa thành 丘 như hiện nay.

Thuyết văn giải tự: 「丠(丘),土之高也,非人所爲也。从北从一。一,地也。人居在丘南,故从北。中邦之居,在崐崘東南。一曰:四方高中央下爲丘。象形。」 Khâu, thổ chi cao dã, phi nhân sở vi dã. Tòng Bắc tòng Nhất. Nhất, địa dã. Nhân cư tại khâu nam, cố tòng Bắc. Trung bang chi cư, tại Côn Lôn đông nam. Nhất viết: tứ phương cao, trung ương hạ vi khâu. Tượng hình. = Khâu là chỗ đất cao, không phải do con người đắp nên. Chữ cấu tạo từ bộ kiện Bắc (北) và Nhất (一); Nhất biểu thị mặt đất. Người ở phía nam gò đất nên theo chữ Bắc. Trung Nguyên nằm về phía đông nam núi Côn Lôn. Một thuyết khác cho rằng: nơi bốn phía cao, ở giữa thấp gọi là khâu. Là chữ tượng hình.

Hứa Thận căn cứ vào tự hình tiểu triện (丠) để phân tích cấu tạo chữ thành 北 và 一, không phù hợp với tự hình giáp cốt văn. Ông cũng dẫn một thuyết khác, cho rằng chữ 丘 tượng trưng cho địa hình bốn phía cao, ở giữa thấp. Tương truyền, tên của Khổng Tử là Khâu (丘) cũng vì đỉnh đầu ông có chỗ lõm xuống giống địa hình ấy.

link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/丘