5/8/26

Lời nói đầu

 Tự điển Từ nguyên chữ Hán

LỜI NÓI ĐẦU

Mục đích của Tự điển

Thời học trung học, tôi may mắn được theo học lớp hàm thụ Chữ Nho tự học của Đào Mộng Nam. Dù chỉ tranh thủ học vào những lúc rảnh ngoài giờ học, chưa đầy một năm tôi đã ghi nhớ được khoảng hai nghìn chữ Hán. Kết quả ấy rất đáng kể đối với một người bình thường, không có năng khiếu hay trí nhớ đặc biệt gì; và điều đó hoàn toàn nhờ vào phương pháp giảng dạy của bộ giáo trình.

Ở đó, mỗi chữ Hán được gắn với một câu chuyện. Có khi là một phân tích nghiêm túc, như 曰 (viết: nói) là hình cái lưỡi (一) động đậy ở trong miệng 口 (khẩu). Có khi là một liên tưởng ngộ nghĩnh, như 九 (cửu: chín) là hình chữ 十 (thập: mười) bị gãy một khúc. Có khi là một câu chuyện vui, như với chữ 太 (thái: rất, lắm) thầy kể chuyện hồi Lê Quý Đôn mười tuổi, đang tắm ở ao bên đường thì có vị tú tài đi qua, hỏi đường với thái độ ta đây. Lê Quý Đôn không thích, bèn đứng dạng tay dạng chân rồi đố là chữ gì, nói trúng mới chỉ đường. Khi vị kia đáp là chữ đại (大: to), Lê Quý Đôn lắc đầu: ông sai rồi, chữ thái.

Trong dân gian Việt Nam từ lâu cũng lưu truyền nhiều câu vè giúp ghi nhớ mặt chữ, chẳng hạn như chữ Đức (德):

"Chim chích mà đậu cành tre 彳,

Thập (十) trên tứ (四) dưới nhất (一) đè chữ Tâm (心)"

Trong một số giáo trình khác, người ta cũng phân tích một số chữ, nhưng thường chỉ để minh họa cho các phép cấu tạo chữ Hán. Chữ Nho tự học là bộ giáo trình đầu tiên ở Việt Nam áp dụng một cách có hệ thống phương pháp liên tưởng, giúp người học vượt qua trở ngại lớn nhất khi bắt đầu tiếp cận chữ Hán: ghi nhớ khoảng hai ngàn mặt chữ cơ bản.

Nhiều năm sau, khi đọc cuốn Remembering Traditional Hanzi của James W. Heisig và Timothy W. Richardson, tôi nhận ra rằng phương pháp liên tưởng để ghi nhớ mặt chữ cũng được nhiều học giả trên thế giới sử dụng. Những năm gần đây, ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều sách và bài viết theo hướng tiếp cận tương tự.

Những phương pháp "chiết tự" ấy giúp ích cho việc ghi nhớ. Tuy nhiên, phần lớn chúng dựa trên hình dạng của chữ Khải hiện đại – vốn đã bị biến đổi qua hàng nghìn năm – nên thường mang tính võ đoán và rời rạc. Chữ Hán bản chất là những hình vẽ. Tổ tiên người Hán hơn ba ngàn năm trước đã vẽ hình để biểu đạt điều mình muốn nói. Mỗi chữ Hán đều mang trong nó một câu chuyện; có điều qua mấy ngàn năm, các hình vẽ đã biến đổi khiến câu chuyện ấy bị che khuất.

Nếu ta tìm về những hình thái ban đầu của chữ, tìm hiểu câu chuyện của nó, thì không những không cần phải tự bịa ra những mẹo nhớ rời rạc, mà còn có thể giải thích được: Vì sao chữ ấy lại có hình thể và ý nghĩa như ngày nay?. Điều này không chỉ giúp người học dễ nhớ, mà còn nhớ rất sâu và lâu mặt chữ.

Chính những suy ngẫm đó đã thôi thúc tôi thực hiện cuốn tự điển này.

Phương pháp biên soạn

Tự điển được biên soạn dựa trên nền tảng của văn tự học lịch sử. Cụ thể, chúng tôi kết hợp ba hướng tiếp cận chính:

1. Khảo cứu tự hình: Mỗi chữ được truy nguyên từ những hình thức cổ xưa nhất hiện còn biết đến (chủ yếu là giáp cốt văn và kim văn), sau đó lần theo quá trình diễn biến qua các giai đoạn tiểu triện, lệ thư và khải thư. Qua đó, làm sáng tỏ quá trình hình thành và biến đổi về hình thể cũng như ngữ nghĩa của chữ theo thời gian.

2. Phân tích theo Lục thư: Hệ thống Lục thư (tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú, giả tá) được sử dụng làm khung phân tích nhằm giải thích cơ chế cấu tạo của từng chữ. Cách tiếp cận này không chỉ mô tả hình dạng bên ngoài mà còn làm sáng tỏ quy luật hình thành của hệ thống văn tự Hán.

3. Đối chiếu và cập nhật kết quả nghiên cứu: Trên cơ sở tiếp thu "Thuyết văn giải tự" – cuốn tự điển được xem là nền tảng của văn tự học chữ Hán, chúng tôi tiến hành đối chiếu, hiệu chỉnh và bổ sung dựa trên những phát hiện mới nhất của khảo cổ học văn tự.

Tóm lại, mỗi mục từ trong tự điển không chỉ giải thích hình dạng hiện nay của chữ, mà còn lần theo quá trình hình thành và phát triển của nó qua các thời kì. Mục tiêu không chỉ giúp người đọc biết chữ viết như thế nào, mà còn hiểu vì sao chữ lại được viết như vậy, cũng như thấy được con đường diễn hóa từ nghĩa gốc đến các nghĩa phái sinh hiện đại.

Nội dung Tự điển

Tự điển dự kiến bao gồm khoảng 3.000 chữ Hán thông dụng – số chữ đủ để người học đọc hiểu phần lớn các văn bản tiếng Hán hiện đại cũng như các tác phẩm văn ngôn cơ bản.

Cấu trúc một trang tự điển

Mỗi chữ Hán được trình bày trên một trang riêng theo cấu trúc thống nhất, kết hợp giữa thông tin tra cứu, phân tích từ nguyên và hướng dẫn sử dụng. Các mục chính gồm:

  1. Thông tin cơ bản: âm Hán Việt, bính âm (pinyin), mã Unicode, số nét và hình ảnh động (.gif) minh họa thứ tự các nét viết (bút thuận).
  2. Phân tích từ nguyên: Phần cốt lõi của tự điển. Mỗi chữ được phân tích theo Lục thư, dựa trên dạng tự hình cổ nhất hiện còn biết đến (thường là giáp cốt văn hoặc kim văn), qua đó lần theo tiến trình biến đổi hình thể để giúp người đọc hiểu thấu đáo nguồn gốc của chữ.
  3. Giải nghĩa: Trình bày con đường diễn hóa từ nghĩa gốc đến các nghĩa mở rộng thông dụng nhất. Khi cần thiết, có ví dụ thực tế để minh họa cách dùng.
  4. Thành ngữ: Giới thiệu một số thành ngữ tiêu biểu nhằm minh họa cách dùng và giúp ghi nhớ ý nghĩa của chữ trong ngữ cảnh thực tế.
  5. Phần bổ sung: Tùy từng chữ, mục này sẽ cung cấp các tự dạng gần giống, chữ đồng âm hoặc những chữ có liên quan về cấu tạo và ý nghĩa để giúp hệ thống hóa kiến thức và tránh nhầm lẫn. Những vấn đề cần trình bày chi tiết sẽ được đưa vào mục Bài đọc thêm ở cuối bài.
Đối với những chữ đồng thời là bộ thủ, tự điển còn giới thiệu vai trò của chúng trong việc cấu tạo các chữ Hán khác, qua đó giúp người học hiểu rõ chức năng của từng bộ trong toàn bộ hệ thống văn tự.

Hệ thống tra cứu và liên kết

Bên cạnh nội dung chính của từng mục từ, tự điển còn tích hợp nhiều công cụ hỗ trợ tra cứu nhằm mở rộng khả năng học tập và nghiên cứu.

  • Hệ thống tham khảo mở: Mỗi mục từ đều gắn liên kết trực tiếp đến các nguồn cơ sở dữ liệu uy tín như Hán ngữ đa công năng tự khố (Đại học Trung văn Hồng Kông), Hán điển (Zdic), Baidu Bách khoa, Wiktionary, và Chinese Etymology của Richard Sears, giúp người đọc dễ dàng đối chiếu và tra cứu sâu.
  • Liên kết tri thức nội bộ: Các thuật ngữ chuyên môn thường dùng (như bộ thủ, Lục thư, giáp cốt văn, ý phù...) đều được tích hợp siêu liên kết đến các bài viết giải thích riêng trong hệ thống.
  • Hệ thống phân loại tự động: Mỗi mục từ được gắn các thể loại như Bộ thủ, Số nétÂm Hán Việt. Người đọc có thể nhanh chóng duyệt toàn bộ các chữ có cùng đặc tính hoặc truy xuất danh mục phân loại tổng hợp.
  • Tìm kiếm linh hoạt: Hỗ trợ tra cứu nhanh bằng chữ Hán hoặc âm Hán Việt, đồng thời khai thác hệ thống liên kết chéo để khám phá mạng lưới các chữ có liên quan về hình thể, cấu tạo và ý nghĩa.

Đóng góp cộng đồng

Dự án luôn chào đón sự tham gia của cộng đồng. Mọi đóng góp – từ việc phát hiện sai sót, bổ sung tư liệu, hiệu đính nội dung đến biên soạn bài mới – đều góp phần giúp bộ tự điển ngày càng hoàn thiện, đầy đủ và chính xác hơn.

Để tìm hiểu chi tiết về cách thức tham gia (các quy ước trình bày, bài mẫu và hướng dẫn kĩ thuật), bạn đọc có thể truy cập các trang hướng dẫn từ Trang Chính, hoặc đơn giản gõ từ khóa Biên soạn vào ô tìm kiếm của hệ thống.

Lời cảm ơn

Chúng tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến các thế hệ học giả – những người đã dày công nghiên cứu và để lại kho tàng tri thức quý báu về văn tự học. Chính những thành quả ấy đã đặt nền móng vững chắc cho sự ra đời của dự án này.

Trong quá trình làm việc, chúng tôi sử dụng Trí tuệ Nhân tạo (AI) như một công cụ hỗ trợ tra cứu, tổng hợp, hệ thống hóa tư liệu, cũng như gợi mở các góc nhìn và phát hiện những điểm cần rà soát. Tuy nhiên, mọi phân tích, diễn giải và kết luận trong tự điển đều do chúng tôi trực tiếp kiểm tra, đối chiếu và chịu trách nhiệm hoàn toàn về mặt nội dung.

Dù đã dành nhiều tâm huyết và sự cẩn trọng trong suốt quá trình biên soạn, chúng tôi ý thức rằng công trình khó tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, phê bình và bổ sung từ quý độc giả, để Tự điển Từ nguyên chữ Hán ngày càng hoàn thiện, trở thành một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích và đáng tin cậy cho cộng đồng.

Thông tin bổ trợ

Để tìm hiểu thêm về dự án, quy chuẩn biên soạn cũng như cách thức tra cứu, kính mời quý độc giả tham khảo các trang sau:

Mọi ý kiến phản hồi, phát hiện sai sót hoặc đề xuất bổ sung xin vui lòng gửi qua trang Liên hệ. Chúng tôi luôn trân trọng và ghi nhận mọi đóng góp từ bạn đọc.

Link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/L%E1%BB%9Di_n%C3%B3i_%C4%91%E1%BA%A7u

29/7/26

TÀI KHOẢN vs DANH KHOẢN

 Từ lâu đã có ý kiến đề xuất thay cụm “tài khoản” (khi dùng cho mạng xã hội) bằng “danh khoản”. Theo những người này, “tài khoản” vốn là thuật ngữ thuộc lĩnh vực ngân hàng, nay chuyển sang dùng cho mạng xã hội là không thích hợp, vì “tài” (財) mang nghĩa tiền bạc, của cải, trong khi tài khoản MXH không liên quan đến tiền.

Dù “danh khoản” nghe có vẻ hay và logic, nhưng việc thay đổi lúc này đã quá muộn. Từ “tài khoản” đã quá quen thuộc với hàng chục triệu người dùng.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể bàn chơi một chút: liệu có thật sự nên thay vì từ này đã bị dùng “không đúng” hay không?

Từ “tài khoản” là cách Việt hóa của tiếng Anh account.

Account xuất hiện trong tiếng Anh khoảng cuối thế kỷ 13 – đầu thế kỷ 14, mượn từ tiếng Pháp cổ acont/acunter (liên quan đến aconter = đếm, tính toán). Nghĩa gốc là tính toán, ghi chép thu chi, bảng kê chi tiết về tiền bạc và tài sản. Về sau, từ này mở rộng dần: trước là dùng trong ngân hàng, sau đó là tài khoản người dùng trên mạng xã hội. Điểm chung giữa các nghĩa này chính là “bản ghi chép có hệ thống”. Khi cần phân biệt, tiếng Anh thường thêm từ định danh: bank account, user account.

Trước 1975, ở miền Nam, bank acc = trương mục ngân hàng.
Sau 1975, bank acc = tài khoản ngân hàng.
Về sau mở rộng, dùng cho MXH, thì user acc = tài khoản người dùng.
Lưu ý rằng “trương mục” và “tài khoản” đều là từ Hán Việt, nhưng không phải là cách nói gốc của người Tàu. Họ dùng:
- Bank account: 銀行帳戶 (ngân hàng trướng hộ)
- User account: 用戶帳戶 (dụng hộ trướng hộ) hoặc 帳號 (trướng hiệu).

Tóm lại, trong tiếng Anh, account bắt đầu từ nghĩa “đếm, tính toán” rồi mở rộng tự nhiên sang tài khoản [ngân hàng] và tài khoản [MXH].

Từ "tài khoản" trong tiếng Việt đơn giản chỉ là đi theo đúng con đường mở rộng nghĩa như thế.

Việc mở rộng nghĩa là hiện tương hoàn toàn bình thường trong mọi ngôn ngữ.
Ví dụ: Từ chân [cẳng] có thể mở rộng qua thành chân [bàn] rồi chân [núi], chân [mày] vì người ta nhận ra được nét nghĩa chung giữa các loại chân ấy: vị trí thấp nhất/đáy của một vật.

Vì thế, việc đặt ra một từ mới (danh khoản) dù nghe có vẻ chính xác hơn, nhưng thật ra ko cần thiết. Nếu cứ mỗi ngữ cảnh mới lại đẻ ra một từ mới thì vừa không tiết kiệm tài nguyên ngôn ngữ, vừa làm rối việc ghi nhớ (chẳng lẽ phải đặt riêng 4 từ khác nhau cho 4 loại "chân"?). Và trong nhiều trường hợp, làm mất đi vẻ đẹp từ những liên tưởng, ẩn dụ.

Cũng xin nói thêm, điều nhiều người lăn tăn nhất ở từ "tài khoản" là vì cái account trên MXH có dính líu gì đến tiền bạc đâu. Thật ra ngày nay, account MXH của một số người cũng có thể quy ra tiền. Thậm chí rất nhiều tiền.



24/7/26

HIỂU


Đứa bé bị mù bẩm sinh, nhà nghèo. Nghe người bạn sáng mắt vừa uống sữa vừa khen ngon, nó tò mò hỏi:
- Sữa là gì?
Anh bạn trả lời:
- Là loại chất lỏng có vị ngọt, màu trắng.
- Chất lỏng - như nước chứ gì, mình hiểu. Ngọt - như đường, phải không, mình cũng hiểu. Nhưng trắng là gì?
- À... thì như màu lông con cò đó.
- Lông thì mình biết rồi. Nhưng con cò là gì?
- Là... như con gà, nhưng có cổ dài và cong.
- Cổ thì mình biết rồi, dài cũng biết nữa. Nhưng cong là gì?
Người bạn nắm cánh tay đứa bé mù, duỗi thẳng ra, nói:
- Thế này là thẳng.
Rồi gập lại, nói tiếp:
- Thế này là cong.
Đứa bé mù mừng rỡ:
- Mình hiểu sữa là gì rồi!

Thời gian sao mà xuẩn ngốc ...

Sáng nay trên trang Nguyễn Đăng Mạnh đăng lại bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường, trong đó có một đoạn dẫn Trần Trọng Kim ca ngợi Hồ Quý Ly trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên làm mình ngỡ ngàng. [1]

Bài viết một lần nữa xác định thêm ấn tượng của mình về ông: ông là một người sống theo, sống bằng cảm xúc. Cảm xúc giúp ông có những trang tùy bút tài hoa thuộc hàng đầu Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đẩy ông vào những ngộ nhận cay đắng, để lại cho ông những hối tiếc khôn lường.
Mình đã trao đổi chuyện này với Gemini, và dưới đây là bài tổng kết do Gemini thực hiện.
---
Hoàng Phủ Ngọc Tường — Bi kịch của một tâm hồn sống bằng cảm xúc
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam hiện đại. Ông mang tâm hồn của một thi sĩ, cái nhìn của một người khảo cứu văn hóa, nhưng lại sở hữu một lối viết tùy bút, bút ký tài hoa, mê đắm và tràn ngập liên tưởng. Thế nhưng, chính sự thăng hoa của cảm xúc — thứ làm nên những trang văn tuyệt mỹ trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông” hay “Rất nhiều ánh lửa” — lại là nguyên nhân đẩy ông vào bi kịch lớn nhất cuộc đời: vụ tai tiếng liên quan đến sự kiện Mậu Thân 1968 tại Huế.
1. Bản chất văn chương: Khi cảm xúc lấn át tính khách quan
Trong văn học, Hoàng Phủ Ngọc Tường thuộc tuýp nghệ sĩ sống và sáng tác bằng hoài niệm, cảm giác và trí tưởng tượng mãnh liệt.
Cái hay: Giúp ông kết nối những mảng kiến thức lịch sử, địa lý, triết học thành những dòng văn trữ tình diệu kỳ. Văn của ông không khô khan như bài nghiên cứu, mà có nhịp điệu, có âm hưởng của thi ca.
Cái bẫy: Khi người viết quá nương vào cảm xúc, họ dễ rơi vào trạng thái "huyền thoại hóa" thực tại, dễ tin vào những gì mình muốn tin hoặc tưởng tượng ra hơn là những gì thực sự diễn ra dưới góc độ khoa học hay tư liệu lịch sử. Việc ông dùng cảm xúc và sự hư cấu nghệ thuật để thay thế cho thực chứng lịch sử là một căn nguyên dẫn đến những sai lệch ngô nghê.
2. Bi kịch Mậu Thân 1968: Lời nói trả giá bằng cả đời dằn dội
Vụ tai tiếng Mậu Thân 1968 là vết thương sâu sắc nhất, theo đuổi ông suốt hàng chục năm cho đến tận cuối đời. Bi kịch ấy bùng nổ từ cuộc phỏng vấn năm 1981 cho bộ phim tài liệu “Việt Nam: Lịch sử một cuộc chiến tranh” (Vietnam: A Television History) của đạo diễn Stanley Karnow.
Trong cuộc phỏng vấn đó, với bản tính của một người văn nghệ sĩ thích dùng ngôn từ bay bổng và đứng ở tư thế "người đại diện cho lực lượng cách mạng", Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mô tả các sự kiện diễn ra ở Huế xuân 1968 bằng một giọng điệu chủ quan, nhân danh "người trong cuộc". Lời phỏng vấn này sau đó bị xem là bằng chứng cho thấy ông trực tiếp tham gia hoặc tán đồng với những hành vi tàn sát tại Huế.
Thực tế lịch sử: Trong suốt đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968, Hoàng Phủ Ngọc Tường không hề có mặt ở nội thành Huế mà đang ở trên chiến khu. Ông không trực tiếp chứng kiến hay tham gia vào các sự kiện diễn ra trong thành phố, nhưng lại nói về những điều mình chỉ nghe kể lại như thể chính mắt mình chứng kiến.
Hành trình thanh minh trong vô vọng:
Sau khi nhận ra hậu quả thảm khốc của lời nói bốc đồng, ông đã nhiều lần tìm cách đính chính. Lần đầu tiên là trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Thụy Khuê trên đài RFI (năm 1997) — bởi thời đó báo chí trong nước không thể đăng tải những lời phân trần này. Sau này, khi mạng xã hội phát triển, ông cũng nhiều lần gián tiếp thanh minh qua một số bài phỏng vấn.
Lời kết cho một sai lầm:
Phải đến năm 2018, khi đã nằm trên giường bệnh và sức khỏe suy yếu nghiêm trọng, ông mới thông qua con gái để phát đi bức thư ngỏ cuối cùng — một lời sám hối cay đắng:
“Sự thật là tôi đã đứng quên mất bản thân, nói như một kẻ chứng kiến, trong khi tôi hoàn toàn không có mặt tại hiện trường... Đó là sai lầm lớn nhất của đời tôi, gây nên biết bao đau đớn, ám ảnh cho bản thân và gia đình suốt mấy chục năm qua.”
3. "Một kẻ sĩ nặng lòng và đau đớn"
Sự dằn dội ấy có lẽ là cái giá quá đắt mà ông phải trả cho sự bốc đồng của cảm xúc. Trong suốt nửa sau cuộc đời, Hoàng Phủ Ngọc Tường sống trong sự im lặng trầm mặc, chịu sự ghẻ lạnh từ một bộ phận công chúng và cả những người từng là bạn bè, đồng hương xứ Huế.
Trớ trêu thay, người luôn ca ngợi "khí tiết kẻ sĩ" và vẻ đẹp trầm lắng của văn hóa Huế lại trở thành tâm điểm của một vết thương lịch sử chưa lành trên chính mảnh đất ấy.
Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp và đời sống của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta vừa thấy một tài năng văn chương hiếm có, vừa thấy một thảm kịch của người trí thức dấn thân. Lấy cảm xúc làm đôi cánh để bay lên những đỉnh cao của văn chương tùy bút, nhưng cũng chính sự thiếu tiết chế của cảm xúc và lý trí đã kéo ông xuống những vực sâu đau đớn nhất của kiếp người.
Để rồi khi ngoảnh lại, tất cả chỉ còn là tiếng thở dài chua chát trước dời đổi của số phận, như hai câu thơ của chính ông:
“Thời gian sao mà xuẩn ngốc
Mới thôi mà đã một đời...”
---

18/7/26

TRỌNG NHÂN TÀI?


Cứ nói ta trọng nhân tài, nhưng xem ra không phải vậy.
Bởi nếu đã tổ chức gian lận một cách quy mô (Trưởng điểm thi phân công giáo viên vào phòng "hướng dẫn" thí sinh làm bài), thì cần gì phải dùng đến một gv như Nguyễn Hà Duy cho phí của?
Nói "hướng dẫn" cho nhã nhặn, chứ nôm na là đưa phao. Mà để làm phao thời nay thì chỉ cần 30 giây hỏi AI, thêm 15 phút in ấn là xong. Việc ấy phu trường làm cũng được, đâu cần phiền đến một giáo viên giỏi cấp này cấp nọ. Xài người thế này thì ... hoang quá.
Tội nghiệp cho một người có thể gọi là tài hoa. Ra trường quanh quẩn cũng chỉ để luyện "gà chọi", luyện thi kiếm tiền... Để rồi cuối cùng, lại vì quá tin vào cái ô to che chắn nào đó phía trên mà mất đi sự cảnh giác, lao vào làm một công việc mà với trí tuệ của mình, chắc chắn anh ta không thể không thấy nguy cơ tiềm ẩn.
Những S Jobs tiềm năng của chúng ta, nếu không bận luyện gà chọi kiếm tiền, thì cũng đang bận đi... đưa phao dưới một chiếc ô

VĂN TỰ NGỤC


Hồi này lướt fb, thấy nhắc đến cuốn gì "Chuyện với Thanh". Cuốn này chưa đọc, nên không lạm bàn.
Nhưng chữ Thanh lại gợi nhớ đến hai câu thơ, từng là nguồn cơn của một vụ Văn tự ngục thời nhà Thanh.
Từ Tuấn, một quan chức trong Hàn lâm viện, như nhiều nhà nha bấy giờ, thỉnh thoảng vẫn làm thơ vịnh cảnh vịnh tình. Ông có hai câu thơ
“Thanh phong bất thức tự,
Hà cố loạn phiên thư.”
(Gió mát không biết chữ, cớ sao lại lật sách lung tung).
Hai câu thơ vịnh cảnh thơ mộng này qua con mát soi mói của đám bò xanh, bỗng trở thành chứng cứ không thể chối cãi của một âm mưu lật sử. Theo chúng, Chữ "Thanh" trong "Thanh phong" (gió mát) là ám chỉ triều Thanh. Và câu thơ ám chỉ: "Nhà Thanh là lũ mọi rợ không biết chữ nghĩa, cớ sao lại vào cướp phá, làm loạn Trung Nguyên?"
Vị học giả trở thành kẻ "âm mưu diễn biến hòa bình", bị xử trảm ngay sau đó. Không rõ vị chủ tịch Hàn lâm viện có bị gì không. Hình như bấy giờ chưa có báo chí hay hội này hội nọ, nên không nghe có Tổng biên tập hay Chủ tịch hội nào phải vội vàng đăng đàn công khai hối tiếc vì đã lỡ khen ngợi đồng nghiệp.