15/04/2019

Đàn bầu kể chuyện

Các nước Tàu, Nhật, Kampuchia, Ấn, Indonesia, Nam Phi, Uganda, Kenya, Croatia, .. đều có loại đàn một dây như cây đàn bầu của VN. Nhưng cây đàn bầu vẫn có nét đặc sắc, độc đáo riêng. Theo GS Trần Quang Hải, không có cây đàn một dây nào sử dụng bồi âm như đàn bầu; với âm vực rộng hơn ba quảng tám, rất phù hợp với các giai điệu trữ tình sâu lắng, nhưng vẫn có thể chơi các bài hát tươi vui, rộn ràng; có thể trình diễn tất cả các kĩ thuật rung nhấn luyến láy rất đặc trưng của dân ca Việt.
Chưa xác định được cây đàn bầu ra đời từ bao giờ. Có nhà nghiên cứu cho là có từ thế kỉ thứ X, XI; có người cho là ra đời vào thế kỉ thứ XVIII. Từ lâu đàn bầu đã gắn liền với đời sống tình cảm của người dân Việt, đến mức các cụ phải cảnh báo: Đàn bầu ai gảy nấy nge, làm thân con gái chớ nghe đàn bầu ..

Coi bộ phim tài liệu sau để biết thêm về cây đàn độc đáo này.



12/04/2019

ngấn lệ thôi tìm môi tủi thân!.!




ngấn lệ thôi tìm môi tủi thân!.!
và, Lê Phú Giáp / Nam Phương Nguyễn


tìm nhau, khi lá chưa lìa gốc

mưa chưa hề biết chuyến đò ngang.

hoàng hôn chưa lẩn mình sau núi

nắng có về. nhưng không nhớ nhung.


.

tìm nhau, khi gió còn neo sóng.

ngấn lệ chưa tìm môi tủi thân.

hồn chưa biết gửi buồn lên mắt.

tiếng guốc chưa lìa xa tuổi xuân


.

tìm nhau, trí nhớ chưa lên nước

tựa chút gì như chưa rõ tên?

bàn tay nhấm nhẳng sau tà áo:

những thoáng mơ mòng được  giấu, riêng…


.

tìm nhau, sấp ngửa thời bom, đạn,

mỗi kẻ trôi theo một hướng đời!!!

khăn tang đắp mặt. không bia mộ.

cũng gọi được ư? - một kiếp người?

.

và, năm, tháng ấy, như dao sắc

cắt vụn đời kia. những tưởng xong!.!

ngờ đâu gió trả mây về… mắt.

tay níu tay vào ẩn mật, chung.



tìm nhau, từ đấy như… cổ tích.

đò gọi mưa về ngang bến sông.

hồn bỗng phổng phao như mới lớn.

ngấn lệ thôi tìm môi tủi thân!.!

.

tìm nhau, ai đã tìm nhau nhỉ?

nghe được gì trong tiếng guốc, xưa?


Du Tử Lê,

(Garden Grove, Jan. 2019)

10/04/2019

Thiếu nữ bên hoa sen


(Dân trí) - Nữ sinh Huyền Trang (sinh năm 1997) chọn trang phục áo dài truyền thống, búi tóc thấp, đội mấn và đi guốc mộc để thực hiện bộ ảnh mùa sen tháng Sáu.

Nguyễn Đặng Huyền Trang sinh ra tại huyện Gia Viễn (Ninh Bình), hiện đang là sinh viên trường ĐH Thăng Long.

Nguyễn Đặng Huyền Trang sinh ra tại huyện Gia Viễn (Ninh Bình), hiện đang là sinh viên trường ĐH Thăng Long.

Huyền Trang là một cô gái yêu thích chụp ảnh và cũng đang là một mẫu ảnh tự do tại Hà Nội.

Huyền Trang là một cô gái yêu thích chụp ảnh và cũng đang là một mẫu ảnh tự do tại Hà Nội.

Với gương mặt đẹp, chiều cao 1m70, số đo ba vòng khá chuẩn 84-62-92, Huyền Trang từng tham gia cuộc thi The Face do trường tổ chức và lọt vào đến vòng chung kết. Sắp tới, Trang cũng sẽ thử sức với cuộc thi sắc đẹp ở tỉnh nhà.

Với gương mặt đẹp, chiều cao 1m70, số đo ba vòng khá chuẩn 84-62-92, Huyền Trang từng tham gia cuộc thi The Face do trường tổ chức và lọt vào đến vòng chung kết. Sắp tới, Trang cũng sẽ thử sức với cuộc thi sắc đẹp ở tỉnh nhà.

“Em đang học về quản trị du lịch nên ngoài ước mơ được làm trong các khách sạn lớn em còn mong muốn có một cửa hàng riêng của mình”, Trang chia sẻ về ước mơ trong tương lai.
“Em đang học về quản trị du lịch nên ngoài ước mơ được làm trong các khách sạn lớn em còn mong muốn có một cửa hàng riêng của mình”, Trang chia sẻ về ước mơ trong tương lai.

Yêu thích đi du lịch nên Trang có quan điểm sống thoáng, cô bạn thích tự lập, tự làm chủ cuộc sống.

Yêu thích đi du lịch nên Trang có quan điểm sống thoáng, cô bạn thích tự lập, tự làm chủ cuộc sống.

Thực hiện bộ ảnh sen theo phong cách quý phái với áo dài trắng truyền thống, búi tóc thấp, đội mấn và đi guốc mộc Huyền Trang lý giải: “Áo dài là trang phục em thích, vừa kín đáo, nền nã lại vừa toát ra được vẻ kiêu sang, quý phái, rất hợp với hoa sen”.

Thực hiện bộ ảnh sen theo phong cách quý phái với áo dài trắng truyền thống, búi tóc thấp, đội mấn và đi guốc mộc Huyền Trang lý giải: “Áo dài là trang phục em thích, vừa kín đáo, nền nã lại vừa toát ra được vẻ kiêu sang, quý phái, rất hợp với hoa sen”.

Bày tỏ quan điểm về xu hướng “hở bạo” của các thiếu nữ khi chụp ảnh hoa sen, Huyền Trang cho rằng: “Mỗi người có một quan niệm về cái đẹp theo một cách riêng, em không phê phán hay biểu dương hành động đó”.

Bày tỏ quan điểm về xu hướng “hở bạo” của các thiếu nữ khi chụp ảnh hoa sen, Huyền Trang cho rằng: “Mỗi người có một quan niệm về cái đẹp theo một cách riêng, em không phê phán hay biểu dương hành động đó”.



“Em chỉ nghĩ khi mặc lên mình một bộ trang phục nào đó thì phải làm sao tôn lên nét đẹp của bộ trang phục, phá cách để làm nó đẹp lên chứ đừng làm xấu đi”, Trang nói.

“Em chỉ nghĩ khi mặc lên mình một bộ trang phục nào đó thì phải làm sao tôn lên nét đẹp của bộ trang phục, phá cách để làm nó đẹp lên chứ đừng làm xấu đi”, Trang nói.

Nét kiêu sa của người đẹp đất Cố đô bên hoa sen tháng Sáu - 9



Nét kiêu sa của người đẹp đất Cố đô bên hoa sen tháng Sáu - 10



Nét kiêu sa của người đẹp đất Cố đô bên hoa sen tháng Sáu - 11



Nét kiêu sa của người đẹp đất Cố đô bên hoa sen tháng Sáu - 12



Nét kiêu sa của người đẹp đất Cố đô bên hoa sen tháng Sáu - 13

Kim Bảo Ngân 
ẢnhLương Trung Kiên

26/03/2019

Duyên tình con gái Bắc

đọc lại mấy bài thơ bái hát học trò cho vui
Thơ Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Tâm phổ nhạc. Minh Hùng ca


23/03/2019

Già đầu còn mê nhạc sến

Hồi nhỏ tôi mơ làm…kép cải lương. Ước mơ “khủng” này không xuất phát từ giọng ca đầy “tiềm năng” của tôi mà đơn giản vì… tiền. Một thằng nhóc 8- 9 tuổi mơ số tiền lớn cỡ cát xê danh ca Út Trà Ôn thì hơi không bình thường. Nhưng đó là nguyên nhân gần, chứ nguyên nhân sâu xa là tôi bị nhiễm cái máu giang hồ lục tỉnh.

Coi cải lương thì tôi có cơ hội đi ”ăn theo” mấy bà chị, nhưng xem xi nê, dù xoay sở  cách mấy tôi cũng đành phải coi… cọp. Tôi thường  lê la ở rạp Văn Cầm gần cầu Kiệu, thấy  anh chị nào quởn quởn là lẩn theo như em út  vào xem ké. Giao du với đám nhóc gần đó, tôi cũng biết thêm vài mánh xem cọp, chẳng hạn chỉ cần mua một vé, một thằng vào trước, rồi lẩn ra góc rạp đưa vé đã xé cho thằng khác, có sẵn cái cùi vé vất đi, dán sơ xịa vào, rồi tỉnh bơ chìa cho ông soát vé vào rạp, rồi lại tiếp tục tuồn vé cho thằng sau….

20/03/2019

Khúc hát sông quê

Nghe Anh Thơ ca Khúc Hát Sông Quê và đọc bài của Nguyễn Trọng Tạo kể chuyện sáng tác ca khúc này.




CẢM TẠ LÀNG QUÊ BẰNG KHÚC HÁT SÔNG QUÊ 
NGUYỄN TRỌNG TẠO

Trường hợp tôi viết bài hát “Khúc hát sông quê” cũng là một bất ngờ.

19/03/2019

Tam cương và Nho giáo

Giải oan cho Nho giáo – Lời nói đầu
Giải oan cho Nho giáo – Kỳ 1: Tam cương và Nho giáo
Thế Nhật •Thứ Tư, 15/03/2017

Trong Nho giáo người ta nói rằng có “tam cương”, “ngũ thường”, mà “tam cương” chính là những tiêu chuẩn bị lên án mạnh mẽ nhất, bị những người phản đối Nho giáo cho là các giáo điều “chết người”. Nhưng sự thực có phải là như vậy?

Trong kỳ này, chúng ta sẽ bàn đến tam cương ở bốn khía cạnh chính:


  • Tam cương không phải của Nho giáo.
  • Có thật là “vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung”, “cha khiến con chết, con không chết không hiếu”?
  • Có thật là chồng nói, vợ “phải” theo?
  • Quan niệm về mối quan hệ xã hội trong Nho học.


Tam cương không phải của Nho giáo
Cương (綱), theo nghĩa đen, là sợi dây chính, tức sợi dọc, trong tấm vải hay tấm lưới. Tam cương tức là ba giềng mối chính trong xã hội thời xưa. Tam cương gồm có quân thần (Vua và các quan), phụ tử (cha và con), phu phụ (chồng và vợ). Theo Tam tự kinh thì mối quan hệ vua tôi cốt ở cái nghĩa; mối quan hệ cha con cốt ở cái tình; mối quan hệ vợ chồng cốt ở sự đồng thuận.

Những người phản đối Nho giáo thường giải thích rằng “Tam cương” chủ trương người làm Vua, làm cha và làm chồng có quyền hành tuyệt đối với bầy tôi, con hay vợ. Nhưng điều mà họ không hề nói tới đó là, trong các sách của Khổng Tử, Mạnh Tử không chỗ nào nói đến tam cương cả. Lật khắp Tứ thư Ngũ kinh không hề có khái niệm tam cương. Người đề xuất “Tam cương” rõ ràng là Hàn Phi Tử của Pháp gia, vốn đề cao Pháp trị và tin rằng “nhân chi sơ tính bản ác” (bản tính con người là ác), hoàn toàn khác với Nho giáo vốn đề cao Đức trị của Khổng Tử. Sau này người ta lại trộn lẫn Pháp gia vào Nho giáo, khiến tam cương trở thành một bộ phận của Nho giáo, nhưng những học giả chân chính qua Tứ thư Ngũ kinh vẫn còn có thể phân biệt rõ ràng. Việc gán ghép những thứ cực đoan của “Tam cương” cho Nho giáo chính là phương thức phá hoại “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” điển hình nhất trong thời Đại cách mạng văn hóa mà chúng ta đã nói đến trong Lời nói đầu của loạt Chuyên đề này.

Cũng từ việc gán tam cương cho Nho giáo, những người phản đối Nho giáo đã lấy dẫn chứng những ví dụ rất thảm khốc về việc vua giết bề tôi hay phụ nữ tự sát để giữ tròn trinh tiết trong lịch sử. Có những người chưa từng đọc Tứ thư Ngũ kinh, nhưng khi nghe những lời bình luận đó cũng cảm thấy Nho gia thật là “lạc hậu”, thật là “giáo điều”.

Vậy thì chúng ta hãy thử tìm hiểu tiếp về hai câu nói mà người ta vẫn thường bừa bãi gán cho Nho giáo là:


  • “Vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung; Cha khiến con chết, con không chết không hiếu”.
  • “Chồng nói vợ phải theo”.

Có thật là “vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung”, “cha khiến con chết, con không chết không hiếu”?
“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”, những học giả phản đối Nho gia thường xuyên lấy câu nói trên làm luận cứ cho giáo điều “chết người”. Tuy nhiên tìm trong Tứ thư Ngũ kinh, thậm chí là nhiều học thuyết lớn của Nho giáo sau này cũng không thấy luận điểm ấy.

Thực ra, câu này chính là của Thái tử Phù Tô nói khi nhận lệnh vua cha là Tần Thủy Hoàng bắt phải chết do Lý Tư ngụy tạo di chiếu. Tướng Mông Điềm đề nghị đem quân về kinh đô xem có thực là di chiếu của Tần Thủy Hoàng nhưng Thái tử Phù Tô cản lại bằng câu nói: “Quân sử thần tử ,thần bất tử bất trung; Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu”. Chữ “sử” sau này bị người ta nhầm thành chữ “xử”, bản thân chữ “sử” có nghĩa là sai khiến. Nội điều đó đã cho thấy người phản đối Nho giáo không hề truy xét rõ ràng.

Sau này câu nói trên được sử dụng rất nhiều trong các hình thức kinh kịch thời Minh Thanh của Trung Quốc. Trong Tây du ký của Ngô Thừa Ân, hồi 78, Trư Bát Giới chính là đã từng nói câu này. Nhưng thực sự nguồn gốc của nó không phải là từ Nho giáo, bởi vì nhà Tần chủ trương Pháp gia chứ không phải Nho giáo. Thủ pháp phá hoại quen thuộc, “Râu ông nọ cắm cằm bà kia”.

Đạo quân thần trong Nho giáo không phải như người ta vẫn tưởng.
Vậy đối với luận điểm này, Nho giáo chủ trương thế nào?

Vua Ai công nước Lỗ hỏi Khổng Tử rằng: “Con theo mệnh cha có phải là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là trung không?”. Hỏi ba lần mà Khổng Tử không trả lời. Lúc Khổng Tử ra ngoài, Khổng Tử đem chuyện ấy nói với Tử Cống và hỏi ý Tử Cống thế nào. Tử Cống thưa: “Con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là trung, còn ngờ gì nữa?”

Khổng Tử nói: “Ngươi không biết gì. Đời xưa đấng minh quân làm vua nước vạn thặng có tránh thần bảy người thì vua không làm điều lỗi; làm vua nước thiên thặng có tránh thần năm người, thì xã tắc không nguy; làm chủ một nhà, có tránh thần ba người thì lộc vị không suy. Cha có tránh tử, thì không hãm vào điều vô lễ; kẻ sĩ có tránh hữu, thì không làm điều bất nghĩa. Cho nên con theo mệnh cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là trung. Chỉ có biết xét cái đáng theo mà theo, mới gọi là hiếu, là trung vậy” (Khổng Tử gia ngữ: Tam thứ, IX).

Học giả Trần Trọng Kim bình rằng: “Xem thế làm điều hiếu, không phải cha làm thế nào cũng phải theo. Có khi cha làm điều gì trái lẽ, thì phải hết sức can ngăn, để cho cha khỏi bị những điều lầm lỗi. Nhưng chỉ cốt phải theo lễ mà can ngăn. Hiếu có hợp lễ mới thật là hiếu.” (Nho giáo, Quyển thượng – In lần thứ tư, NXB Tân Việt – Sài Gòn, trang 142-143).

Nho giáo chỉ trung với ông vua có đủ tư cách, đáng cho mình thờ; nếu không thì có thể bỏ mà thờ ông vua khác, như Khổng Tử đã bỏ vua nước Lỗ. Nghĩa quân thần trong Nho giáo có định phận rõ ràng: Vua Định công nước Lỗ hỏi Khổng Tử rằng: “Vua khiến bề tôi, bề tôi thờ vua, phải thế nào?” Khổng Tử đáp rằng: “Vua lấy lễ mà đãi bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua” (Luận ngữ: Bát dật).

Mối quan hệ vua tôi cốt ở cái nghĩa; mối quan hệ cha con cốt ở cái tình, ấy mới là quan điểm của Nho giáo vậy.

Có thật là chồng nói, vợ “phải” theo?
Nguyên câu “Chồng nói vợ phải theo” là “Phu xướng phụ tùy”, nguyên gốc tiếng Hán là “夫唱婦随”. Trong đó, chữ “xướng” (唱) có nghĩa là ca hát hoặc đề ra, còn chữ “tùy” (随) có nghĩa là thuận theo. Ấy vậy mà những người phản đối mặc nhiên thêm một chữ “phải” vào, làm câu nói này hoàn toàn mất đi nghĩa nguyên gốc của nó. Đây cũng không phải là một khái niệm trong Tứ thư Ngũ kinh. Tuy nhiên nếu phải bàn tới, thì “Phu xướng phụ tùy” hoàn toàn có thể mang ý nghĩa tích cực, chính là để chỉ một cảnh giới trong hôn nhân. Nó có hàm ý rằng mối quan hệ vợ chồng cốt ở sự đồng thuận. Trong đó, hợp với lẽ âm dương mà bàn thì người chồng đóng vai trò “xướng”. Điều này sẽ được bàn tới kỹ hơn trong kỳ 4 của loạt bài Giải oan cho Nho giáo có tựa đề: Sự huy hoàng của nữ quyền thời Nho giáo thịnh trị.

Sau khi dẫn chứng câu “Phu xướng phụ tùy” xong, những người phản đối Nho giáo tiếp tục dẫn chứng những câu có lực phá hoại mạnh hơn như “chồng Chúa vợ tôi”, điều này lại càng không hề có trong kinh điển Nho học. Rồi tiến tới, người ta còn đưa ra chuyện phụ nữ ở góa, hay thậm chí tự sát vì giữ tròn trinh tiết rất thảm khốc. Những ví dụ này thực chất chẳng hề liên can gì tới Khổng Tử. Trong “Lễ ký” có ghi con dâu và cháu dâu của Khổng Tử đều tái giá. Nhưng xuyên suốt bối cảnh chung phê phán Khổng Tử, người ta bắt đầu đổ những thảm kịch lên đầu Nho giáo.

Một lần nữa, chúng ta lại thấy một hình thức phá hoại Nho gia khác chính là “Phóng đại phía phụ diện của đạo lý”. Thật ra, người ta không chỉ hiểu sai ý nghĩa của “đạo phu thê” thành một cương trong “tam cương”, mà còn hiểu sai ý nghĩa của quan hệ hôn nhân thành “tam tòng”. Việc này cũng sẽ được bàn đến trong kỳ 4 của loạt bài Giải oan cho Nho giáo.

Quan niệm về mối quan hệ xã hội trong Nho học
Trong Luận Ngữ, thiên 12 (Nhan Uyên), câu thứ 11, Tề Cảnh Công hỏi Khổng Tử về chính trị Khổng Tử đáp: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”. Trong mỗi cặp trên, chữ thứ nhất là danh từ, chữ thứ hai là động từ: Vua làm đúng việc ông vua; tôi làm đúng việc bầy tôi; cha làm đúng việc của cha; con làm đúng việc của con. Nghĩa là Vua, tôi, cha, con đều phải làm cho trọn đạo.

Mạnh Tử nói: “Phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín, thử nhân chi đại luân dã. Dã tựu thị ngũ luân”. Chính là cha con có tình thân, vua tôi có cái nghĩa, vợ chồng có sự khác biệt, huynh trưởng và trẻ nhỏ có trật tự trên dưới, bạn bè thành thật tin tưởng, đây cũng chính luân thường đạo lý.

“Phu thê hữu biệt” ở đây không hề nói người chồng có quyền tuyệt đối trên người vợ. Trong gia đình, thuận lẽ âm dương, người nam phải nuôi sống gia đình, bảo hộ thê tử con cái của mình; người nữ cần nhu hòa, sinh thành và giáo dưỡng con trẻ; ai làm tốt phận người ấy. Nếu ai cũng muốn là người quyết định, ai cũng đòi phần thắng thì gia đình tự nhiên sẽ bất hòa.

Vậy nên “Phu thê hữu biệt” chính là một thỏa thuận ngầm giữa hai vợ chồng trong công việc gia đình. Nếu thực sự có mâu thuẫn, thì người phụ nữ có thể dùng cái nhu của mình để đối đãi, có thể lấy nhu mà nhẫn chịu, cũng có thể lấy nhu mà thắng cương, nhưng nhất quyết vẫn nên là người phụ nữ. Người phụ nữ có đức lớn, là bởi vì người phụ nữ có sức mạnh bên trong sự nhu thuận, có trí tuệ bên trong sự khiêm nhường.

Do vậy, Nho giáo cũng bàn đến rất nhiều mối quan hệ xã hội, chứ không chỉ là quân thần, phụ tử, phu phụ như người ta vẫn tưởng. Quan niệm chân chính của Nho giáo cũng không hề cực đoan như nhiều người vẫn nghĩ. Nói cách khác, Nho giáo cũng có tam cương, nhưng không phải cái gọi là “Tam cương” mà người ta gán ghép.

Tựu chung lại, chúng ta có thể bình rằng: Không đề xuất “Tam cương”, nhưng lại nhận mọi loại sỉ nhục vì “Tam cương”, chỉ vậy thôi đã đủ thấy nỗi oan của Nho giáo lớn nhường nào. Nhưng đó vẫn chưa phải là tất cả!

Thế Nhật
Nguồn: https://trithucvn.net/van-hoa/ai-gan-tam-cuong-cho-nho-gia.html