24/7/26

HIỂU


Đứa bé bị mù bẩm sinh, nhà nghèo. Nghe người bạn sáng mắt vừa uống sữa vừa khen ngon, nó tò mò hỏi:
- Sữa là gì?
Anh bạn trả lời:
- Là loại chất lỏng có vị ngọt, màu trắng.
- Chất lỏng - như nước chứ gì, mình hiểu. Ngọt - như đường, phải không, mình cũng hiểu. Nhưng trắng là gì?
- À... thì như màu lông con cò đó.
- Lông thì mình biết rồi. Nhưng con cò là gì?
- Là... như con gà, nhưng có cổ dài và cong.
- Cổ thì mình biết rồi, dài cũng biết nữa. Nhưng cong là gì?
Người bạn nắm cánh tay đứa bé mù, duỗi thẳng ra, nói:
- Thế này là thẳng.
Rồi gập lại, nói tiếp:
- Thế này là cong.
Đứa bé mù mừng rỡ:
- Mình hiểu sữa là gì rồi!

Thời gian sao mà xuẩn ngốc ...

Sáng nay trên trang Nguyễn Đăng Mạnh đăng lại bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường, trong đó có một đoạn dẫn Trần Trọng Kim ca ngợi Hồ Quý Ly trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên làm mình ngỡ ngàng. [1]

Bài viết một lần nữa xác định thêm ấn tượng của mình về ông: ông là một người sống theo, sống bằng cảm xúc. Cảm xúc giúp ông có những trang tùy bút tài hoa thuộc hàng đầu Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đẩy ông vào những ngộ nhận cay đắng, để lại cho ông những hối tiếc khôn lường.
Mình đã trao đổi chuyện này với Gemini, và dưới đây là bài tổng kết do Gemini thực hiện.
---
Hoàng Phủ Ngọc Tường — Bi kịch của một tâm hồn sống bằng cảm xúc
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam hiện đại. Ông mang tâm hồn của một thi sĩ, cái nhìn của một người khảo cứu văn hóa, nhưng lại sở hữu một lối viết tùy bút, bút ký tài hoa, mê đắm và tràn ngập liên tưởng. Thế nhưng, chính sự thăng hoa của cảm xúc — thứ làm nên những trang văn tuyệt mỹ trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông” hay “Rất nhiều ánh lửa” — lại là nguyên nhân đẩy ông vào bi kịch lớn nhất cuộc đời: vụ tai tiếng liên quan đến sự kiện Mậu Thân 1968 tại Huế.
1. Bản chất văn chương: Khi cảm xúc lấn át tính khách quan
Trong văn học, Hoàng Phủ Ngọc Tường thuộc tuýp nghệ sĩ sống và sáng tác bằng hoài niệm, cảm giác và trí tưởng tượng mãnh liệt.
Cái hay: Giúp ông kết nối những mảng kiến thức lịch sử, địa lý, triết học thành những dòng văn trữ tình diệu kỳ. Văn của ông không khô khan như bài nghiên cứu, mà có nhịp điệu, có âm hưởng của thi ca.
Cái bẫy: Khi người viết quá nương vào cảm xúc, họ dễ rơi vào trạng thái "huyền thoại hóa" thực tại, dễ tin vào những gì mình muốn tin hoặc tưởng tượng ra hơn là những gì thực sự diễn ra dưới góc độ khoa học hay tư liệu lịch sử. Việc ông dùng cảm xúc và sự hư cấu nghệ thuật để thay thế cho thực chứng lịch sử là một căn nguyên dẫn đến những sai lệch ngô nghê.
2. Bi kịch Mậu Thân 1968: Lời nói trả giá bằng cả đời dằn dội
Vụ tai tiếng Mậu Thân 1968 là vết thương sâu sắc nhất, theo đuổi ông suốt hàng chục năm cho đến tận cuối đời. Bi kịch ấy bùng nổ từ cuộc phỏng vấn năm 1981 cho bộ phim tài liệu “Việt Nam: Lịch sử một cuộc chiến tranh” (Vietnam: A Television History) của đạo diễn Stanley Karnow.
Trong cuộc phỏng vấn đó, với bản tính của một người văn nghệ sĩ thích dùng ngôn từ bay bổng và đứng ở tư thế "người đại diện cho lực lượng cách mạng", Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mô tả các sự kiện diễn ra ở Huế xuân 1968 bằng một giọng điệu chủ quan, nhân danh "người trong cuộc". Lời phỏng vấn này sau đó bị xem là bằng chứng cho thấy ông trực tiếp tham gia hoặc tán đồng với những hành vi tàn sát tại Huế.
Thực tế lịch sử: Trong suốt đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968, Hoàng Phủ Ngọc Tường không hề có mặt ở nội thành Huế mà đang ở trên chiến khu. Ông không trực tiếp chứng kiến hay tham gia vào các sự kiện diễn ra trong thành phố, nhưng lại nói về những điều mình chỉ nghe kể lại như thể chính mắt mình chứng kiến.
Hành trình thanh minh trong vô vọng:
Sau khi nhận ra hậu quả thảm khốc của lời nói bốc đồng, ông đã nhiều lần tìm cách đính chính. Lần đầu tiên là trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Thụy Khuê trên đài RFI (năm 1997) — bởi thời đó báo chí trong nước không thể đăng tải những lời phân trần này. Sau này, khi mạng xã hội phát triển, ông cũng nhiều lần gián tiếp thanh minh qua một số bài phỏng vấn.
Lời kết cho một sai lầm:
Phải đến năm 2018, khi đã nằm trên giường bệnh và sức khỏe suy yếu nghiêm trọng, ông mới thông qua con gái để phát đi bức thư ngỏ cuối cùng — một lời sám hối cay đắng:
“Sự thật là tôi đã đứng quên mất bản thân, nói như một kẻ chứng kiến, trong khi tôi hoàn toàn không có mặt tại hiện trường... Đó là sai lầm lớn nhất của đời tôi, gây nên biết bao đau đớn, ám ảnh cho bản thân và gia đình suốt mấy chục năm qua.”
3. "Một kẻ sĩ nặng lòng và đau đớn"
Sự dằn dội ấy có lẽ là cái giá quá đắt mà ông phải trả cho sự bốc đồng của cảm xúc. Trong suốt nửa sau cuộc đời, Hoàng Phủ Ngọc Tường sống trong sự im lặng trầm mặc, chịu sự ghẻ lạnh từ một bộ phận công chúng và cả những người từng là bạn bè, đồng hương xứ Huế.
Trớ trêu thay, người luôn ca ngợi "khí tiết kẻ sĩ" và vẻ đẹp trầm lắng của văn hóa Huế lại trở thành tâm điểm của một vết thương lịch sử chưa lành trên chính mảnh đất ấy.
Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp và đời sống của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta vừa thấy một tài năng văn chương hiếm có, vừa thấy một thảm kịch của người trí thức dấn thân. Lấy cảm xúc làm đôi cánh để bay lên những đỉnh cao của văn chương tùy bút, nhưng cũng chính sự thiếu tiết chế của cảm xúc và lý trí đã kéo ông xuống những vực sâu đau đớn nhất của kiếp người.
Để rồi khi ngoảnh lại, tất cả chỉ còn là tiếng thở dài chua chát trước dời đổi của số phận, như hai câu thơ của chính ông:
“Thời gian sao mà xuẩn ngốc
Mới thôi mà đã một đời...”
---

18/7/26

TRỌNG NHÂN TÀI?


Cứ nói ta trọng nhân tài, nhưng xem ra không phải vậy.
Bởi nếu đã tổ chức gian lận một cách quy mô (Trưởng điểm thi phân công giáo viên vào phòng "hướng dẫn" thí sinh làm bài), thì cần gì phải dùng đến một gv như Nguyễn Hà Duy cho phí của?
Nói "hướng dẫn" cho nhã nhặn, chứ nôm na là đưa phao. Mà để làm phao thời nay thì chỉ cần 30 giây hỏi AI, thêm 15 phút in ấn là xong. Việc ấy phu trường làm cũng được, đâu cần phiền đến một giáo viên giỏi cấp này cấp nọ. Xài người thế này thì ... hoang quá.
Tội nghiệp cho một người có thể gọi là tài hoa. Ra trường quanh quẩn cũng chỉ để luyện "gà chọi", luyện thi kiếm tiền... Để rồi cuối cùng, lại vì quá tin vào cái ô to che chắn nào đó phía trên mà mất đi sự cảnh giác, lao vào làm một công việc mà với trí tuệ của mình, chắc chắn anh ta không thể không thấy nguy cơ tiềm ẩn.
Những S Jobs tiềm năng của chúng ta, nếu không bận luyện gà chọi kiếm tiền, thì cũng đang bận đi... đưa phao dưới một chiếc ô

VĂN TỰ NGỤC


Hồi này lướt fb, thấy nhắc đến cuốn gì "Chuyện với Thanh". Cuốn này chưa đọc, nên không lạm bàn.
Nhưng chữ Thanh lại gợi nhớ đến hai câu thơ, từng là nguồn cơn của một vụ Văn tự ngục thời nhà Thanh.
Từ Tuấn, một quan chức trong Hàn lâm viện, như nhiều nhà nha bấy giờ, thỉnh thoảng vẫn làm thơ vịnh cảnh vịnh tình. Ông có hai câu thơ
“Thanh phong bất thức tự,
Hà cố loạn phiên thư.”
(Gió mát không biết chữ, cớ sao lại lật sách lung tung).
Hai câu thơ vịnh cảnh thơ mộng này qua con mát soi mói của đám bò xanh, bỗng trở thành chứng cứ không thể chối cãi của một âm mưu lật sử. Theo chúng, Chữ "Thanh" trong "Thanh phong" (gió mát) là ám chỉ triều Thanh. Và câu thơ ám chỉ: "Nhà Thanh là lũ mọi rợ không biết chữ nghĩa, cớ sao lại vào cướp phá, làm loạn Trung Nguyên?"
Vị học giả trở thành kẻ "âm mưu diễn biến hòa bình", bị xử trảm ngay sau đó. Không rõ vị chủ tịch Hàn lâm viện có bị gì không. Hình như bấy giờ chưa có báo chí hay hội này hội nọ, nên không nghe có Tổng biên tập hay Chủ tịch hội nào phải vội vàng đăng đàn công khai hối tiếc vì đã lỡ khen ngợi đồng nghiệp.

MINH NHẬT HOÀNG HOA

 

相逢不用忙歸去,
明日黃花蝶也愁。
蘇軾
Tương phùng bất dụng mang quy khứ,
Minh nhật hoàng hoa điệp dã sầu.
Tô Thức
Tạm dịch
Gặp nhau chớ vội quay về đấy,
Mai cúc tàn phai bướm cũng buồn.



MANH NHÂN MẠC TƯỢNG TÂN BIÊN

(Chuyện kể mới về đám thầy bói sờ voi).

---
Một đám thầy bói mù chưa biết voi là gì, bèn đến xin người quản tượng được sờ cho biết. Người quản tượng sợ họ chen lấn mất trật tự nguy hiểm nên yêu cầu họ xếp hàng, rồi lần lượt dắt từng người đến sờ cái vòi voi, nơi mà người quản tượng cho là đặc trưng nhất của con voi.
Từ đó, cả đám thầy bói mù đều nhất trí rằng voi là một giống đĩa to.