15/05/2022

Biệt Đổng Đại . Cao Thích

別董大
千里黃雲白日曛,
北風吹雁雪紛紛。
莫愁前路無知己,
天下誰人不識君。
高適

.
Âm Hán Việt
Biệt Đổng Đại
Thiên lí hoàng vân bạch nhật huân,
Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân.
Mạc sầu tiền lộ vô tri kỉ,
Thiên hạ thùy nhân bất thức quân.
Cao Thích.
.
Chú
- 董大: Đổng Đại, theo các nhà nghiên cứu, có thể là Đổng Đình Lan, nhà soạn nhạc nổi tiếng đương thời, trong mấy anh em ông đứng đầu, nên gọi Đổng Đại.
- 千里: có bản ghi 十里
- 黃雲:mây đen dưới ánh sáng mặt trời thành vàng sẫm, nên gọi là hoàng vân = mây vàng.
- 白日曛:trời ảm đạm, không sáng sủa. 白日 bạch nhật: mặt trời. 曛 huân: tối tăm, u ám.
- 北風 gió bấc, gió lạnh từ phương bắc thổi về.
- 紛紛 phân phân: nhiều và lộn xộn.   
- 君:đại từ ngôi hai (tôn xưng), ở đây chỉ Đổng Đại.


Tác giả: Cao Thích (702 – 765) là nhà thơ biên tái nổi tiếng thời Thịnh Đường, cùng với Sâm Tham, Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán được tôn là "Biên tái tứ thi nhân" (Bốn nhà thơ biên tái. Biên tái là loại thơ tả cănh sắc nơi biên thuỳ và tâm tình của người lính thú).
Bài thơ trên đây là một trong hai bài Cao Thích viết nhân dịp gặp lại Đổng Đại sau mười năm cách biệt rồi lại vội vã chia tay, lúc ngoài trời tuyết bay mù mịt, và cả hai thì nghèo đến không đủ tiền mua rượu uống cho ấm lòng buổi chia tay. Thấy bạn có vẻ lo lắng về con đường trước mắt, nên an ủi: Đừng lo! Bạn giỏi thế, sẽ có người biết tài và trọng dụng thôi.
.
Nghĩa
Ngàn dặm mây vàng, trời chiều ảm đạm,
Gió bấc thổi nhạn (bay về nam), tuyết bay mù mịt.
Chớ buồn con đường phía trước không có người tri kỷ,
Thiên hạ ai người không biết đến anh?.
.
Tạm dịch
Ngàn dặm mây vàng nắng úa tàn.
Nhạn bay gió thổi tuyết miên man.
Đừng lo trước mắt không tri kỉ.
Thiên hạ ai người chẳng biết anh?
.
Đọc thêm vài bản dịch khác (chép lại từ trang thivien . net)
.
Mười dặm vàng pha bóng nhật vân,
Nhạn xuôi gió bấc tuyết bay nhanh,
Chớ buồn nẻo trước không tri kỷ.
Thiên hạ ai người chẳng biết anh!
Tản Đà
.
Nghìn dặm mây vàng khuất mặt trời,
Gió đông xua nhạn tuyết tơi bời.
Chớ sầu phía trước không tri kỷ,
Thiên hạ còn ai chẳng biết người.
Nam Long
.
Ngàn dặm mây vàng bóng nhạt hanh
Gió đông đẩy nhạn tuyết rơi nhanh
Chớ buồn lo trước không bằng hữu
Thiên hạ ai người chẳng biết anh.
Phí Minh Tâm
.
Mây vàng ngàn dặm trắng trời xa .
Nhạn mõi, Bấc cuồng tuyết rít phà…
Đường trước đừng sầu không chiến hữu
Xướng tên, thiên hạ, Huynh đấy Ah!
laiquangnam
(bài này lấy trên trang chimviet3-free-fr)
..
(Thư pháp lấy trên mạng)



06/05/2022

Nắng gắt trên đường Hà Nam

河南道中酷暑  

河南秋八月,殘暑未消融。

路出涼風外,人行烈日中。

途長嘶倦馬,目斷滅歸鴻。

何處推車漢,相看碌碌同。

阮攸 

.

Âm Hán Việt. Hà Nam đạo trung khốc thử. 

Hà Nam thu bát nguyệt, Tàn thử vị tiêu dung. 

Lộ xuất lương phong ngoại, Nhân hành liệt nhật trung. 

Đồ trường tê quyện mã, Mục đoạn diệt quy hồng. 

Hà xứ thôi xa hán, Tương khan lục lục đồng. 

Nguyễn Du

.

Chú

河南 Hà Nam: tên tỉnh

殘暑 tàn thử: khí nóng còn dư lại (từ mùa hè). 暑 thử: hơi nóng.

消融 tiêu dung: tiêu tan.

涼風 lương phong: gió mát

烈日 liệt nhật: trời nắng gay gắt. 烈 liệt: mạnh mẽ, gay gắt.

漢 hán: chỉ đàn ông (nam tử hán). 

斷滅(断灭) đoạn diệt: tuyệt diệt, hết sạch, mất hút.

歸鴻 quy hồng: chim hồng bay về tổ. Truyện Kiều có câu: Cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.

碌碌 lục lục: bận rộn, tất bật. 碌 lục: [đá] thô, nhọn.

.

Nghĩa. Nắng gắt trên đường Hà Nam. 

Hà Nam tháng tám mùa thu, Cái nóng mùa hè vẫn chưa mất hết. 

Ra đường không mảy gió mát, Người đi dưới ánh nắng gay gắt. 

Đừơng dài ngựa chồn chân hí, Mắt mất hút cánh chim hồng bay về tổ. 

Ông kéo xe người ở đâu vậy, Nhìn nhau thấy cùng tất bật như nhau.

.

Tạm dịch

Trời Hà Nam tháng tám, Hơi nóng hè chưa tan. 

Ra đường không mảy gió, Người đi nắng chang chang. 

Chồn chân ngựa đứng hí, Mỏi mắt chim về ngàn. 

Phu xe người đâu vậy, Cùng nhau cảnh lầm than.

.

Ngày mùa thu tháng tám, Trời Hà Nam gay gắt,

Đường đi không gió mát, Người về nắng bỏng mắt.

Ngựa chồn chân mỏi mệt, Cánh chim hồng xa khuất

Người phu xe xứ lạ, Đã cùng ta tất bật.

Phan Quỳ

.

Vài bản dịch trên thivien . net

Thu Hà Nam tháng tám

Chưa hết khí trời nồng

Gió thổi mát đâu hết

Người đi nắng chói chang

Đường dài hí ngựa mệt

Mắt mỏi ngóng chim hồng

Anh đẩy xe với tớ

Quê người cùng long đong

Đặng Thế Kiệt

.

Tháng tám thu Hà Nam.

Nắng tàn vẫn còn nóng.

Ra đường không gió lặng.

Người đi trong nắng thiêu.

Đường dài ngựa kêu mệt.

Chẳng thấy chim hồng về.

Phu xe người đâu tá?

Vất vả như nhau mà.

Đào Nghi


30/04/2022

Nam Phố biệt . Bạch Cư Dị

 南浦別  

南浦淒淒別,

西風嫋嫋秋。

一看腸一斷,

好去莫回頭。

白居易


Âm Hán Việt

Nam Phố biệt

Nam Phố thê thê biệt,

Tây phong niệu niệu thu.

Nhất khán trường nhất đoạn,

Hảo khứ mạc hồi đầu.

Bạch Cư Dị


Chú

南浦 Nam Phố: địa danh. Nghĩa đen là bến sông phía nam, thường được dùng phiếm chỉ nơi chia tay.

別 biệt: biệt li, chia tay.

淒淒 thê thê: (rét/buồn) tê tái.

西風 tây phong: gió tây, gió thu.

嫋嫋 niệu niệu: ở đây hình dung làn gió thu nhè nhẹ phe phất. 嫋  niệu: dáng con gái mềm mại, thướt tha.

一看腸一斷 nhất khán trường nhất đoạn: nhìn một cái ruột đứt một khúc. 

好去 hảo khứ: đi nhanh, mạnh mẽ tiến bước, dứt khoát ra đi.

莫回頭 mạc hồi đầu: chớ quay đầu nhìn lại.

白居易 Bạch Cư Dị, nhà thơ thời Trung Đường, tác giả của bài Tì bà hành nổi tiếng, từng được Phan Huy Thực/Vịnh dịch nôm: Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, ..


Nghĩa. Chia tay nơi Nam Phố

Tê tái chia tay nơi Nam Phố,

Trời thu, gió tây phe phẩy thổi.

Nhìn một cái ruột lại đứt một khúc,

Hãy dứt khoát ra đi, đừng ngoái đầu lại nữa.


Tạm dịch

Bến Nam tê tái biệt,

Gió tây se sắt sầu.

Càng nhìn càng đứt ruột,

Đi thôi, chớ ngoái đầu.


Bản dịch khác (thivien . net)

Nam Phố thương ly biệt,

Gió tây thổi rầu rầu.

Càng nhìn càng đứt ruột,

Người đi chớ ngoái đầu.

Điệp luyến hoa


Nam Phố chia tay sầu

Gió thu lay nhè nhẹ

Mỗi thấy mỗi lòng đau

Đi đừng ngoảnh đầu nhé

Nguyễn Minh


Bến sông. Hình trên mạng


27/04/2022

45 phút nắm được Văn học Trung quốc


Phùng Hoài Ngọc dịch và giới thiệu *

  Tóm tắt

 Nền Văn học Trung Quốc phong phú đa dạng, phát triển liên tục bền bỉ suốt 5 ngàn năm. Để giúp độc giả nắm được các giá trị chủ yếu của nó, xin giới thiệu một cách phân loại dựa theo 5 yếu tố của văn học. Công trình này trình bày sơ lược văn học viết Trung Quốc từ khởi thủy đến giai đoạn mở đầu cuộc Đổi mới văn học (khoảng từ 1976). Công trình chưa đề cập đến văn học đương đại (hai thập kỷ cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI).

1. Trường phái, đoàn thể văn học

2. Tác gia giữ địa vị trong lịch sử văn học

3. Đặc điểm cơ bản của những tác phẩm chủ yếu

4. Tính chất thể loại  của những tác phẩm chủ yếu

5. Nội dung cơ bản của những tác phẩm chủ yếu                   

6. Tác gia và nhà lý luận văn học

7. Tác phẩm lý luận văn học

Văn học sử Trung Quốc qui loại

中 国 文 学 史 归 类

(Phân loại văn học Trung Quốc theo 7 cách)

 1.  Trường phái, đoàn thể văn học

1. Học phái Nho gia, đại biểu là Khổng tử, Mạnh tử

2. Học phái  Đạo gia, đại biểu là Lão tử, Trang tử

3. Học phái Mặc gia, đại biểu là Mặc tử

4. Học phái Pháp gia, đại biểu là Hàn Phi tử

5. “Khuất – Tống”: thi hào Khuất Nguyên và Tống Ngọc thời Chiến quốc

6. “Dương- Mã”: Dương Hùng và Tư Mã Tương Như thời Tây Hán

7. “Tam Tào”: Táo Tháo, Tào Thực và Tào Phi

8. “Kiến An thất tử”: Khổng Dung, Vương Xán, Trần Lâm, Lưu Trinh, Từ Can, Nguyễn Vũ,  Ứng Dương

9. “Thẩm thi Nhậm bút”: Thẩm Ước và Nhậm Phưởng, thời Nam triều nước Tề, Lương

10. “Sơ Đường tứ kiệt”: Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương

11. “Trầm-Tống”: Trầm Toàn Kỳ và Tống Chi Vấn, thi nhân trứ danh trong cung thời Vũ hậu, Sơ  Đường

12. “Đường đại thi nhân”: thuộc “Biên tắc thi phái”(phái thơ biên giới hiểm trở) có Vương Xương Linh, Sầm Tham, Cao  Thích, Vương Chi Hoán, Lí Kỳ

13. “Vương – Mạnh”: Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên thi nhân thời Đường, phái “sơn thủy điền viên”

14. “Lí – Đỗ”: Lí Bạch và Đỗ Phủ, Thịnh Đường, đại biểu phái “lãng mạn chủ nghĩa” và “hiện   thực chủ nghĩa”

15. “Trương -Vương nhạc phủ”: Trương Tịch, Vương Kiến sở trường về Nhạc phủ thi.

16. “Giao hàn Đảo sấu”: Mạnh Giao chịu rét, Giả Đảo đói gầy: lời Tô Thức nói về Mạnh     Giao và Giả Đảo – hai thi nhân sở trường về miêu tả hình tượng khái quát, thời Trung Đường

17. “Nguyên – Bạch”: Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị, thời Trung Đường

18. “Cổ văn vận động”: Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên phát động phong trào phục hưng Nho giáo

19. “Tiểu Lí – Đỗ”: chỉ Lí Thương Ẩn và Đỗ Mục, hai thi nhân trứ danh thời Vãn Đường

20. “Nam Đường nhị chủ”: thời Ngũ đại Nam Đường có hai vua cũng là hai thi nhân:  trung chủ Lí  Cảnh và hậu chủ Lí Dục

21. “Tam Tô”: ba cha con Tô Thức, Tô Tuân, Tô Triệt.         

22. “Đường Tống bát đại gia”: Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Vương An Thạch, Tăng Củng, Tô Thức, Tô Tuân, Tô Triệt

23. “Tống đại từ nhân”: Tô Thức, Tân Khí Tật  viết “Từ” trong “phái hào phóng”

24. “Tống đại từ nhân”: Lưu Vĩnh và nữ sĩ Lí Thanh Chiếu viết Từ trong phái “uyển ước” (đẹp đẽ chừng mực)

25. “Nguyên khúc tứ đại gia”: Quan Hán Khanh, Trịnh Quang Tổ, Bạch Phác, Mã Trí Viễn. 

26. “Minh đại hậu thất tử”:  Tông Thần, Lí Phàn Long, Vương Thế Trinh, Tạ  Trăn, Lương Hữu Dự, Đồ Trung Hành, Ngô Quốc Luân (7 cây bút sau thời Minh)         

27. “Đường tông phái”:Vương Thận Chi, Đường Thuận Chi, Qui Hữu Quang thuộc “phái phản đối nhóm 7 cây bút sau thời Minh”

 28. “Công an phái tam Viên”: Viên Tông Đạo, Viên Hoành Đạo, Viên Trung Đạo theo phái “công an”   

 29. “Minh mạt Thanh sơ tam đại tư tưởng gia”: chỉ Cố Viêm Võ, Hoàng Tông Nghĩa, Vương Phu Chi (cuối Minh đầu Thanh)                                                                           

30. “Nam Thi Bắc Tống”: hai thi nhân trứ danh Thi Nhuận Trương, Tống Uyển, đại biểu ưu tú hai miền Nam, Bắc, đầu thời Thanh

31. “Tống thi phái”: tức  “Đồng quang thể”, đại biểu Trần Tam Lập và Trần Diễn, thời Thanh       

32. “Triết tây từ phái”: lấy Chu Di Tôn viết Từ người Triết Giang là đại biểu, đầu thời Thanh

33. “Dương Tiễn từ phái”: Trần Duy Tung người Nghi Hưng, Giang Tô là đại biểu, đầu thời  Thanh

34. “Thường Châu từ phái” hoặc Thanh trung diệp từ phái: đại biểu Trương Huệ Ngôn

35. “Đồng Thành phái”, Thanh trung diệp tản văn, trứ danh nhất là Phương Bao, Diêu Nãi

36. “Tô Châu tác gia hí khúc quần”:  đại biểu có Lí Ngọc, Chu Tố Thần, Chu Tá Triêu, đầu thời Thanh

37. “Nam Hồng bắc Khổng”, đầu Thanh: nhà hí kịch Hồng Dị, Khổng Thượng Nhậm

38. “Nam xã”: thành lập năm1909, phát khởi do Trần Khứ Bệnh, Cao Húc và Liễu Á Tử 

39. “Văn học nghiên cứu hội”: thành lập ở Bắc Kinh tháng 1.1921, do Thẩm Nhạn Băng, Trịnh Chấn Phong, Diệp Thiệu Quân, Hứa Địa Sơn và 12 người phát khởi các tập san thường kỳ như “Tiểu thuyết nguyệt báo”,“Văn học tuần san”, “Thi nguyệt san”.

40. “Sáng tạo xã”: tháng 7.1921 thành lập tại Nhật Bản, phát khởi do Quách Mạt  Nhược, Úc Đạt  Phu, Thành Phảng Ngô, Điền Hán, xuất bản tập san “Sáng tạo”, “Sáng tạo chu báo” (tuần báo), “Sáng tạo nhật báo”

41. “Trung Quốc tả dực”(cánh tả): Liên minh nhà văn thành lập tháng 3 năm 1930.

42. “Thương hận văn học”: văn học cảm thương, uất hận về tổn thất oan uổng trong Cách mạng văn hóa vô sản (trước đây báo chí Việt Nam từng dịch là “văn học vết thương”, ăn bớt chữ “hận”). “Phản tư văn học”: suy nghĩ về những ấu trĩ, sai lầm của cách mạng.“Tầm căn văn học”: tìm nguyên nhân thống khổ, tổn thất, sai lầm.“Hương thổ văn học”: viết về cảnh sống khổ cực làng quê và tâm tình nông dân. “Tham tác văn học”: bàn thêm về công việc sáng tác văn chương. “Kỉ thực văn học”: đi tìm sự thực, chứng minh… Đó là các tư trào văn học đương đại (sau khi xóa bỏ “Cách mạng văn hóa vô sản”), sáng tác rất mạnh mẽ nhất là từ sau 1980.

  2.  Tác gia  giữ vai trò, địa vị trong lịch sử văn học Trung Quốc

1. Khổng tử, nhà tư tưởng và nhà giáo dục vĩ đại thời cổ đại, sáng lập học phái Nho gia  .

2. Mạnh tử, đại biểu chủ yếu kế thừa Khổng tử trong học phái Nho gia.

3. Trang tử, đại biểu chủ yếu kế thừa Lão tử trong học phái Đạo gia

4. Khuất Nguyên, thi nhân ái quốc vĩ  đại bậc nhất thời cổ đại.

5. Tuân Húc, người tổng kết tư tưởng Nho gia cuối thời Chiến quốc.

6. Hàn Phi, đại biểu trứ danh hoàn thành tư tưởng Pháp gia cuối thời Chiến quốc.

7. Lí Tư, đại biểu thể tản văn thời nhà Tần

8. Tào Tháo lãnh đạo văn đàn Kiến An, mở phong cách, ảnh hưởng nền thơ một thời

9. Tào Thực (con trai út Tào Tháo), thi nhân nổi danh thời cực thịnh của phong trào Kiến An

10. Đào Uyên Minh, cây bút đầu tiên lấy sinh hoạt điền viên của mình làm nội dung sáng tác

11. Bão Chiếu, thi nhân có thành tựu cao nhất thời Nam triều đến Tống, chịu nhiều ảnh hưởng  Nhạc phủ thi thời Đường

12. Vương Duy, tác gia tiêu biểu thi phái “sơn thủy điền viên” thời Thịnh Đường

13. Lí Bạch, nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa vĩ đại, kế tiếp Khuất Nguyên

14. Đỗ Phủ, thi nhân vĩ đại nhất của dòng hiện thực chủ nghĩa.

15. Sầm Tham, phái biên tái, thi nhân trứ danh thời Thịnh Đường     

16. Bạch Cư Dị, thi nhân hiện thực chủ nghĩa kiệt xuất thời Trung Đường, nhà xướng đạo vận động Tân nhạc phủ và là đại biểu chủ yếu             

 17. Hàn Dũ, người khởi xướng và lãnh đạo cuộc vận động cổ văn thời Đường, được đời sau tôn là đứng đầu “Đường Tống bát đại gia” (8 nhà văn lớn nhất thời Đường, Tống)

18. Lí Thương Ẩn, thi nhân nổi tiếng thời Vãn Đường

19. Âu Dương Tu, lãnh tụ cuộc vận động đổi mới thơ Bắc Tống

20. Vương An Thạch, nhà văn, nhà chính trị nổi tiếng Bắc Tống, được coi là nhà cải cách chính trị sau 11 thế kỉ Trung Quốc

21. Tô Thức, đệ nhất nhà văn sáng tác văn học nghệ thuật toàn diện thời Tống, người khai sáng phái “hào phóng”.

22. Lưu Vĩnh, nhà văn đệ nhất Bắc Tống chuyên viết Từ, cũng là đại biểu “uyển ước từ phái” (phái viết Từ đẹp đẽ chừng mực).

23. Lục Du, nhà thơ yêu nước vĩ đại thời Nam Tống

24. Lí Thanh Chiếu, nữ từ nhân hiếm có trong nền văn học cổ điển.

25. Quan Hán Khanh, người gây dựng thể tạp kịch thời Nguyên.

26. Mã Trí Viễn, nhà viết tạp khúc nổi tiếng thời Nguyên, xứng danh “Khúc trạng nguyên” (nhà viết Khúc đứng đầu).

27. Vương Thực Phủ, nhà viết tạp kịch kiệt xuất thời đầu nhà Nguyên, viết Tây sương ký.

28. Trương Dưỡng Hạo, nhà viết tản khúc nổi tiếng thời Nguyên

29. Vu Khiêm, nhà thơ nổi tiếng thời Minh

30. Thang Hiền Tổ, nhà viết kịch có thành tích cao nhất thời Minh.

31. Phùng Mộng Long, nhà văn lớn nhất viết văn học thông tục cuối thời Minh

32. Vương Phu Chi, nhà lý luận văn chương nổi tiếng đầu thời Thanh.

33. Lí Ngư, kịch tác gia và nhà lý luận hí kịch kiệt xuất đầu thời Thanh.

34. Tào Tuyết Cần, nhà văn hiện thực chủ nghĩa vĩ đại thời Thanh

35. Lương Khải Siêu, nhà văn đề xướng tiêu chuẩn viết tiểu thuyết và bình giá tiểu thuyết sớm nhất thời hiện đại.

36. Hoàng Tuân Hiến, được coi là ngọn cờ thơ cách mạng.

37. Cung Tự Trân, tư tưởng gia và văn học gia, người đề cao phong khí (phong cách) đổi mới trong lịch sử hiện đại.

38/38. Lỗ Tấn, nhà giáo dục, nhà văn hàng đầu, cũng là nhà sáng lập nền văn học hiện đại

  3. Đặc điểm cơ bản trong sáng tác văn học

1. “Luận ngữ” có đặc sắc nghệ thuật sau:

            1.1 Đơn giản rõ ràng, tinh gọn, giàu tính triết lý.

            1.2  Hình tượng nhân vật biểu hiện ra trong đối thoại giản đơn.

2. “Mặc tử” có đặc sắc nghệ thuật sau:

            2.1 Chất phác, thiếu tính hùng biện, ít logic nhưng rất mạnh mẽ.

            2.2. Giỏi đưa ra ví dụ cụ thể sinh động dẫn tới lý thuyết, theo tranh luận từng vấn đề cụ thể dẫn tới khái quát, nhà văn hùng biện thuyết lý của thời đại.

3. “Mạnh tử” tản văn có đặc điểm nghệ thuật sau:

            3.1. Khí thế sung phái (tràn đầy mạnh mẽ), bút lực phong phú mênh mang, giàu tính cổ động tung hoành bao quát, chất hùng biện khí khái.

            3.2. Thường dùng kiểu ngụ ngôn và ví dụ xảo diệu kể chuyện cổ ngắn gọn nói về đạo lý, rõ nét trong sáng, sinh động mà có sức thuyết phục.

4. “Trang tử” tản văn có đặc điểm nghệ thuật sau:

            4.1 Tưởng tượng kỳ ảo, cấu tứ đặc biệt, rất giàu màu sắc lãng mạn chủ nghĩa

            4.2 Ưa dùng các loại ngụ ngôn và so sánh biểu hiện đạo lý trong sáng, gửi khái niệm trừu tượng.

            4.3 Hành văn rộng sâu phóng túng, biến hóa ra vạn mối

5. “Tuân tử” có những đặc sắc nghệ thuật sau: Tầng lớp hoàn chỉnh, trường thiên đại luận, luận điểm minh xác, luận chứng nghiêm mật, thí dụ tinh xảo uyên bác, câu thức chỉnh tề.

6. “Hàn phi tử”: nghị luận thấu đáo, quan điểm hiển minh, đánh dấu một bước phát triển văn lí luận thời Tiên Tần.

7. “Chiến quốc sách” có những đặc sắc nghệ thuật sau:

 7.1. Tự sự, thuyết lý phô bày, ấn tượng mạnh, tung hoành phóng khoáng

7.2. Giỏi dùng ngụ ngôn chuyện cổ và so sánh

7.3. Khắc họa nhân vật sinh động tươi sáng rõ ràng

8. “Li Tao” có những đặc sắc nghệ thuật:

            8.1. Thơ trữ tình dài nhất văn học cổ điển, gồm 273 câu, trên 2400 từ

8.2. Sáng tạo được hình tượng chủ thể của nhà yêu nước- thi nhân vĩ đại

            8.3. Chung đúc với truyền thuyết thần thoại, tưởng tượng bay bổng, sáng tạo xuất thần, tạo cột mốc về những cảnh đẹp hùng vĩ do lấy nhiệt tình biểu hiện lý tưởng, bày tỏ màu sắc lãng  mạn chủ nghĩa nồng nàn uất ức.

            8.4. Kế thừa và phát triển được thủ pháp tỉ- hứng của Kinh Thi. Người đẹp hoa cỏ, ngụ ý  thâm thúy phiêu diêu

 9.  “Lã thị Xuân Thu” là một hệ thống tập hợp nhiều chương đơn lẻ văn thuyết lý, tầng lớp sâu xa, rất giàu chi tiết, thí dụ bằng ngụ ngôn cố sự, giàu tính hình tượng.

 10. “Sử kí” có những đặc sắc nghệ thuật sau:

           10.1. Sáng tạo được một hệ thống hình tượng nhân vật với tính cách rõ nét tươi tắn, đa dạng

   10.2. Giỏi bố cục chương phần, khéo miêu tả tâm lý, thành thạo lựa chọn, cắt xén và tập 

 trung sử liệu, ưa dùng “hỗ kiến pháp”(hỗ trợ lẫn nhau), ưa tả đại sự và bình diện rộng lớn khẩn trương, phối hợp lấy chi tiết để khắc họa nhân vật

            10.3. Gửi lời khen chê trong khi tự sự, có tính trữ tình mãnh liệt.

            10.4. Ngôn ngữ sinh động, chuẩn xác, linh hoạt.               

  11. “Khổng tước đông nam phi” (Chim công bay về phía đông nam) có đặc sắc nghệ thuật:

            11.1. Thơ tự sự dài nhất thời cổ đại, đại biểu cho thơ Hán nhạc phủ có thành tích cao nhất

            11.2. Thành công của Lưu Lan Chi, Tiêu Trọng Khanh – một số hình tựợng nhân vật rõ nét.

            11.3. Tình tiết khúc chiết, kết cấu hoàn chỉnh, phần kết giàu sắc thái lãng mạn chủ nghĩa .

  12. “Tào Tháo thi ca” có những đặc sắc nghệ thuật sau:

            12.1.Hầu hết dùng chủ đề cũ của Nhạc phủ để biểu hiện nội dung mới.

            12.2. Phong cách thương lương (tàn tạ, lạnh lẽo) bi tráng

  13. “Thế thuyết tân ngữ” (Lời nói mới bàn chuyện đời) có các đặc sắc nghệ thuật sau:

            13.1. Giỏi trong việc xây dựng tính cách nhân vật với những tình tiết chọn, cắt tỉ mỉ nổi lên tính đặc trưng và diện mạo tinh thần, khiến cho nó tươi sống như thật.

            13.2. Ghi việc và chép lời kết hợp chặt chẽ.

            13.3. Ngữ ngôn tinh luyện hàm súc, sâu xa tế nhị, truyền thần

  14. Đào Uyên Minh, thơ điền viên có đặc sắc

            14.1. Phong cách hoàn chỉnh, ý cảnh sâu xa

14.2. Ngữ ngôn bình dị, trong sáng, thanh đạm tự nhiên, giàu vần điệu, ý vị

            14.3. Nhắm vào cảnh điền viên, giữ gìn tình yêu chân thực thân thiết, tình và cảnh hòa hợp.

  15. “Nhạc phủ dân ca” thời Nam triều có một số đặc sắc nghệ thuật:

            15.1. Thể tài ngắn gọn, nhiều câu ngũ ngôn tứ cú.

            15.2. Ngôn ngữ thanh tân tự nhiên

            15.3. Lối nói chơi phóng khoáng, vận dụng ngôn ngữ “song quan” (hai cửa)

    16. “Nhạc phủ dân ca” thời Bắc triều:

            16.1. Thể tài thi đua (hát đối) rộng rãi thoải mái, lấy ngũ ngôn tứ cú làm chủ.

            16.2. Ngôn ngữ chất phác, phong cách hào phóng, cứng rắn khỏe mạnh, là phong cách hiện thực chủ nghĩa

     17. “Sưu thần kí”: ghi chép chuyện thần linh ma quái

            17.1. Hành văn giản dị chất phác, đặc trưng lối hành văn của sử gia thời Ngụy Tấn

            17.2. Một số truyện có kết cấu hoàn chỉnh, tình tiết phân bố phong phú, như qui mô truyện ngắn, hình tượng nhân vật được so sánh rõ nét.

    18. Vương Duy thi ca có những nét đặc sắc nghệ thuật:

            18.1. Chứa đựng tình thơ, ý họa trong một văn bản

            18.2. Phong cách thanh tân, đạm nhã, ý tứ u buồn, cảnh vật xa vời

     19. Thi ca Lí Bạch có phong cách phiêu dật, bôn phóng, hùng hồn kì lạ, tráng lệ

     20. Đỗ Phủ thi ca có phong cách nồng uất, sắp xếp rời rạc.

     21. Sầm Tham thi ca có đặc điểm phong cách: cảm tình chân thực, khí thế bàng

           bạc,  tưởng tượng tân kì,  cách điệu, kích động vượt bậc.

     22. Bạch Cư Dị thi ca có một số đặc điểm là:

          22.1. Thông tục, dễ hiểu, kết hợp được nhã và tục.

          22.2. Thường dùng biện pháp đối tỷ

         22.3. Chú trọng miêu tả nhân vật.

   23. Lí Thương Ẩn thi ca có một số đặc sắc:

         23.1. Phong cách thơ hùng hồn, bi tráng

         23.2. Lời Từ vừa hào phóng lại giỏi mềm mại khéo đẹp (uyển ước)

  24. Lưu Vĩnh từ nhân có đặc điểm:

       24.1 Tả nhiều cảnh tượng phồn hoa đô thị đến sinh hoạt thanh lâu ca kĩ

      24.2 Thành thạo miêu tả cảnh khổ của phu phen tạp dịch bị trói buộc hành hạ

      24.3 Nhiều từ ngữ phóng túng được chế tác

      24.4 Giỏi lấy trình bày kể lể để bày tỏ.

   25. Tân Khí Tật sáng tác Từ với đặc sắc nghệ thuật:  lấy hào phóng, bi tráng làm chủ đạo, khảng khái tung hoành, “nhưng không thể khí khái cả đời”.

    26. “Tam quốc diễn nghĩa” đặc sắc nghệ thuật:

            26.1. Giỏi khắc họa hình tượng nhân vật.

            26.2. Ngôn ngữ truyền thần, sinh động, chuẩn xác.

    27. “Thủy hử truyện” đặc sắc nghệ thuật:

            27.1. Xây dựng được hình tượng anh hùng có cá tính rõ nét, “có da có thịt”.

            27.2. Nghệ thuật kết cấu hoàn chỉnh đến mức phi thường

            27.3. Lấy ngôn ngữ đương thời của nhân dân làm cơ sở sáng tạo được ngôn ngữ văn chương thông tục phong phú

   28. “Tây du kí” có đặc sắc nghệ thuật:

            28.1. Biến đổi màu sắc trong phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa. Phát huy đầy đủ đặc điểm tiểu thuyết huyễn tưởng, sáng tạo tươi sáng, sinh động hình tượng anh hùng lý tưởng hóa.

            28.2. Tác giả thông qua dùng chuyện cổ mà miêu tả nhân vật cũng như vui vẻ dùng cách đối chiếu (tương phản), các thủ pháp khắc hoạ nhân vật.

            28.3. U mặc và khôi hài. Đặc điểm ngôn ngữ sinh động, rõ ràng, hoạt bát.

      29. “Liêu trai chí dị” đặc điểm nghệ thuật:

            29.1. Có tài đem cái khu vực huyễn ảo hòa với hiện thực, hư cấu hòa với chân thực kết hợp bước đầu xây dựng nhân vật.

            29.2. Ngôn ngữ là loại văn ngôn rèn luyện thực tế, nhưng lại hấp thu khẩu ngữ tinh luyện,  hơi văn cổ, thanh nhã và mới mẻ hoạt bát.

      30. “Hồng lâu mộng” với đặc sắc nghệ thuật là

            30.1. Nơi thành công trong việc sáng tạo ra hình tượng nhân vật có cá tính tươi sáng rõ nét, đa tính cách.

            30.2. Kết cấu hùng vĩ, nghiêm mật.

            30.3. Ngôn ngữ giản dị, thanh khiết, chuẩn xác mà truyền được thần, mộc         mạc mà giàu màu sắc

 4. Tính chất thể loại văn của các tác phẩm chính

1. Luận ngữ là tập tản văn “ngữ lục trọn bộ” thời kì Tiên Tần (ngữ lục: ghi chép lời nói)

2. Xuân thu kinh: cuốn biên niên sử của nước Lỗ

3. Chiến quốc sách là một bộ sử thi hỗn tạp, cũng là tổng tập tản văn ưu tú trọn bộ.

4. Quốc ngữ: là  một bộ sách sử khác.

5. Tả truyện: trước tác biên niên lịch sử sớm nhất, đồng thời là trước tác văn học có nhiều giá trị.

6. Sử kí: bộ truyện thông sử đệ nhất, đồng thời nó cũng là tác phẩm kí văn học vĩ đại

7. Thi kinh (Kinh thi) bộ thi ca sớm nhất

8. Nhạc phủ thi tập: tổng tập thơ Nhạc phủ

9. Thế thuyết tân ngữ: tập truyện ký phân loại các thể văn án.

10. Tây sương kí : vở tạp kịch cổ điển bất hủ thời Nguyên

11. Tam quốc diễn nghĩa: bộ tiểu thuyết chương hồi trường thiên đệ nhất, cũng là tác phẩm mở đầu cho tiểu thuyết lịch sử diễn nghĩa

12. Tây du kí : tiểu thuyết thần ma trường thiên kiệt xuất thời cổ điển

13. Kim Bình Mai: bộ tiểu thuyết bạch thoại trường thiên đầu tiên do văn nhân tự sáng tác.

14. Tam ngôn nhị phách: tập truyện ngắn mang tính điển hình cho thời Minh.

15. Liêu trai chí dị: tiểu thuyết văn ngôn truyền kỳ chí quái đạt thành tựu tối cao, giàu tính sáng tạo, đầu thời Thanh

 16. Nho lâm ngoại sử: tác phẩm đại biểu cho văn học phúng thích kiệt xuất cổ điển

 17. Hồng lâu mộng: đỉnh cao nhất của tiểu thuyết thế tình trường thiên thời trung đại

 18/18. Thủy hử truyện: tiểu thuyết anh hùng, truyền kỳ, trường thiên miêu tả toàn bộ một quá trình nông dân khởi nghĩa.

 5. Nội dung cơ bản của các tác phẩm chủ yếu

“Kinh Thi”gồm ba bộ phận là “phong”, “nhã”, “tụng”, lựa chọn ca dao từ 15 địa phương (nước chư hầu), còn đa số là dân ca; “Nhã” gồm đại nhã, tiểu nhã

2. “Luận ngữ” chủ yếu ghi ngôn ngữ, hành vi của Khổng Tử và các đệ tử.

3. “Chiến quốc sách” ghi lại sách lược của các mưu sĩ du thuyết khắp các nước thời Chiến quốc hoặc tranh luận và hành động của họ.

4. “Tả truyện” ghi sự kiện chính trị, quân sự, kinh tế, giao thương của các nước chư hầu trong khoảng 250 năm thời Xuân Thu.

      5. “Sử kí” ghi lịch sử 3000 năm từ Hoàng Đế truyền thuyết đến nhà Hán Vũ Đế

      6. “Tây sương ký” miêu tả chuyện Trương sinh và Thôi Oanh Oanh con gái Thôi tướng quốc theo đuổi hôn nhân tự do, phản đối lễ giáo phong kiến.

      7. “Thế thuyết tân ngữ” ghi ngôn đàm dật sự của danh nhân, quí tộc  từ cuối thời Đông Hán đến thời Đông Tấn.

      8. “Tam quốc diễn nghĩa” thuật lại tiến trình lịch sử, lấy cuộc đấu tranh của Thục Hán và Tào Ngụy làm tuyến chính miêu tả quần hùng cuối thời Hán tranh đoạt quyền lực đến khi Tây Tấn thống nhất đất nước.

      9. “Thủy hử truyện” miêu tả quá trình phong trào nông dân khởi nghĩa Lương sơn bạc từ phát sinh phát triển đến thất bại.

    10. “Tây du kí” lấy Tôn Ngộ Không làm trung tâm, miêu tả chuyện 4 thầy trò Đường Tăng đi Tây Thiên lấy kinh. Gửi trong đó tinh thần phản kháng của quảng đại nhân dân với các thế lực hắc ám, yêu cầu chiến thắng tự nhiên, khắc phục khó khăn, nơi phản ánh được hiện thực xã hội thời phong kiến.

     11. “Hồng lâu mộng” lấy bốn đại gia tộc Giả, Vương, Sử, Tiết làm bối cảnh, lấy bi kịch ái tình của Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc làm tuyến chủ yếu, đồng thời miêu tả quá trình từ thịnh đến suy của họ Giả ở hai phủ Vinh, Ninh.

    12. “Liêu trai chí dị” miêu tả ca tụng ái tình. Phê phán chế độ khoa cử hủ bại. Phơi bày hiện thhực chính trị hủ bại và sự áp bức tàn khốc của giai cấp thống trị với nhân dân. Nhiệt tình ca tụng nhân dân bị áp bức đấu tranh phản kháng.

   13. “Đào hoa phiến” (Cây quạt hoa đào) lấy chuyện ái tình của Lí Hương Quân (ca kỹ nổi tiếng sông Tần Hoài) và chàng Hầu Phương Vực làm tuyến chính, qua đó miêu tả lịch sử vương triều Nam Minh, mượn cuộc tình ly hợp để biểu lộ cảm hứng về sự hưng vong thời đại (tác giả Khổng Thượng Nhậm)

   14. “Trường sinh điện” (Cung điện trường sinh) tác giả Hồng Thăng, một mặt tụng ca ái tình sống chết không thay đổi chốn trần gian, biểu đạt lí tưởng ái tình của tác giả, mặt khác lại khiển trách những kẻ hoang dâm gây tai họa quốc gia, mong đạt mục đích “răn bảo đời sau”.

  15. “Mẫu đơn đình” thông qua chuyện tình sinh li tử biệt của  Đỗ Lệ Nương và Liễu Mộng Mai  nhằm biểu lộ chủ đề chống lễ giáo phong kiến (Tác giả: Thang Hiền Tổ, triều Minh)

 6. Tác gia và nhà lý luận văn học

1. Khổng tử đề xướng lấy việc dạy thơ là cốt lõi, lại đề ra thuyết “hưng, quan, quần, oán”. (*1)
2. Mạnh Tử đề xuất tư tưởng mỹ học của văn nghệ là “cùng  niềm vui của nhân dân”, kết hợp phương pháp luận phê bình văn học là “lấy ý đón chí”, “hiểu người mà bàn về cuộc đời”.

3. Lão Tử đề xướng luận thuyết “Âm lớn quá hóa nhỏ, hình quá lớn thì vô hình”.

4. Trang Tử viết bài đề cao giới tự nhiên, phản đối thuyết lấy người làm trung tâm, đề xướng “bức tranh hư ảo”, “vật hóa” và “được ý mất lời”.
5. Khuất Nguyên đề xướng thuyết “Căm hận sinh cảm xúc làm thơ”.
6. Tư Mã Thiên đề xướng thuyết “Căm hận viết ra sách”.

7. Vương Sung viết luận văn đề xướng thuyết “Chân thiện mỹ thống nhất và hòa hợp”.
8. Chung Vinh viết luận văn “Lấy nghiên cứu trực tiếp ngôn từ làm cốt lõi”.

9. Lý Bạch bày tỏ lý luận thi ca: đề cao tự nhiên và thanh tân

10. Vương Xương Linh đề xướng lý thuyết “Cảnh vật trong thơ”.
11. Tư Không Đồ viết luận văn bàn về phẩm chất của thơ “Ngoài vị lại có vị, ngoài hình có hình, ngoài cảnh có cảnh” (ý nói sự hàm súc, tầng lớp trùng điệp của thơ, tạo ra sự tưởng tượng và liên tưởng)

12. Hàn Dũ viết luận văn “văn và đạo hợp nhất, việc qua kể lại, cảm hứng sang mãn thì thành văn, văn thuận theo chữ”.
13. Âu Dương Tu viết luận văn “Văn chương phải làm sáng đạo, hữu ích cho trí tuệ, gây niềm tin tưởng, làm đẹp lời nói”

14. Bạch Cư Dị chủ trương “sáng tác văn chương hợp với thời cuộc, viết thi ca hợp với sự việc)
15. Nghiêm Vũ bàn về thơ, yêu cầu cần có “ biệt tài, hứng thú đặc biệt”, “nhận thức kỳ diệu” và “lấy nghệ thuật thời Thịnh Đường làm chuẩn mực noi theo”.

16. Lý Trập chủ trương “thuyết đồng tâm” (giữa tác giả và bạn đọc)
17. Trường phái Công An đề xướng “thuyết tính linh”, tận cùng sẽ biến đổi, gắng sức tìm cái mới”

18. Vương Thổ Trinh chủ trương “thuyết gieo vần tinh thần”

19. Thẩm Đức Tiềm chủ trương thuyết “cách điệu trong văn chương”.
20. Ông Phương Cương chủ trương “cơ lý thuyết” (về vận động).
21.Viên Mai chủ trương “thuyết tính linh” (năng lực bẩm sinh có linh cảm).

7. Tác phẩm lý luận văn học

1. Tào Phi bàn về kinh điển, luận văn.
2. Lục Cơ bàn về thể “phú”
3. Chung Vinh bàn về “Tác phẩm thơ”
4. Lưu Hiệp viết tác phẩm “Văn tâm điêu long” (Bàn về văn chương).
5. Đỗ Phủ bàn về niềm vui làm thơ sáu câu (Hý vi lục tuyệt cú)
6. Bạch Cư Dị gửi thư cho nhà thơ Nguyên Chẩn, bàn về thi ca .

7. Hiệu Nhiên bàn về thể thức làm thơ
8. Tư Không Đồ giới thiệu 24 bài thơ tiêu biểu

9. Nữ từ nhân Lý Thanh Chiếu bàn về thể Từ (Luận từ)
10.Trương Giới bàn về tập thơ Đường của Tuế Hàn
11. Nghiêm Vũ viết “Thương Lãng thi thoại” (Bàn về thơ Thương Lãng)
12. Trương Viêm bàn về nguồn gốc của thể loại Từ

13. Diệp Tiếp bàn về nguồn gốc của  thơ (Nguyên thi)

 Kết luận

 \Văn học Trung Quốc rất đa dạng phong phú, chỉ cần ít nhất hai cây bút là hình thành một tư trào, lưu phái. Đúng là một nền văn học “trăm hoa đua nở”. Tài liệu này chỉ nêu ra những tác phẩm nổi bật đại diện cho mỗi thể loại văn học hoặc trường phái sáng tác qua nhiều thời kỳ khác nhau, trong số thiên kinh vạn quyển của nền văn học Trung Quốc…Tuy nhiên giới nghiên cứu văn học bỏ qua thành tựu văn học xây dựng CNXH (1949-1976) – có lẽ họ còn thận trọng khi đánh giá giai đoạn đặc biệt này.

Người Trung Quốc có thói quen nói tắt, viết tắt. Chẳng hạn “Trường Đại học Bắc Kinh” nói là “Bắc đại”, còn trong văn học nghệ thuật thì lối viết tắt trở thành thuật ngữ văn học. Như “Tam Tào” tức “ba cha con Tào Tháo”, “Lý- Đỗ” (Lý Bạch và Đỗ Phủ), tiểu Lý – Đỗ (Lý Thương Ẩn và Đỗ Mục), “Kiến An thất tử” gồm bảy nhà thơ. v.v… Kiểu nói tắt có thể tóm gọn được cả những lý luận dài dòng, như câu Khổng tử nói về Kinh Thi “Hưng quan quần oán” đủ mô tả tác dụng cơ bản của thi ca (Mục 6.1 ở trên). Kiểu nói tắt là một cách truyền bá nhanh chóng, gọn gàng, dễ nhớ.

Công trình này tóm tắt nội dung văn học Trung Quốc, sắp xếp 7 yếu tố thành hệ thống, dễ truyền bá rộng rãi và thuận lợi cho học sinh, sinh viên ôn thi đại học và nghiên cứu sinh (gọi chung hệ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ).

Hi vọng sẽ có nhà nghiên cứu văn học Việt Nam bỏ công ra viết một công trình tương tự về nền văn học 1000 năm nước Việt.

Abstract

CLASSIFICATION OF CHINESE LITERATURE HISTORY

(Classification of literature based on 7 elements)

Chinese literature is highly diversified and has witnessed a constant growth of 5 thousand years. To help readers easily catch its major values, we would like to introduce a classification based on 5 elements of literature. This material briefly presents Chinese written literature from its beginning to the beginning of literature innovation since around 1976. It does not mention temporary literature (the period from the last two decades of 20th century to the beginning of 21st century).

Schools and unions of literature

Schools and unions of literature

Writers of standing in the history of literature

Basic characteristics of major literature works

Characteristics of genres of major literature works

Basic substance of major literature works

Writers and literature theorists

Theoretical literature works

(*) Nguồn: nguyên tác Hán ngữ, tổng hợp từ hai trang WEB sau:

1/ http://www.5284.cn/gz/zikao/jnjl/zyzd/2680.html

《中国古代文学史》应用归类法学习

2/ http://www.zikao365.com/html/4_21_92_209/2006_12_29_yx9277245661922160026696

Biên giả lựa chọn, dịch nghĩa, chú giải và giới thiệu:

(*) Thạc sỹ, GVC, bộ môn Ngữ văn, Khoa sư phạm, Đại học An Giang.

Chú thích:

(*1) Bốn chữ “hưng, quan, quần oán” rút trong sách Luận ngữ: “Học Thi có thể hưng khởi tâm trí, giúp khả năng quan sát, cùng với người khác quần tụ, hiểu đúng về oán hận ..”. Câu này trở thành một trong các quan điểm cơ bản của Khổng tử vê văn chương (thiên Dương Hóa, câu 9- Người dịch)

22/04/2022

Du thành nam thập lục thủ - khiển hứng. Hàn Dũ

遊城南十六首-遣興
斷送一生惟有酒,
尋思百計不如閑。
莫憂世事兼身事,
須著人間比夢間。
韓愈


Âm Hán Việt.
Du thành nam thập lục thủ - Khiển hứng.
Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu,
Tầm tư bách kế bất như nhàn.
Mạc ưu thế sự kiêm thân sự,
Tu trước nhân gian tỉ mộng gian.
Hàn Dũ.

Chú:
遊城南十六首: 16 bài thơ viết khi đi chơi phía nam thành. Đây là nhưng bài thơ ông viết khi về già, trở lại Tuyên thành, nơi ông sống thời niên thiếu. Khiển hứng 遣興 là một trong 16 bài ấy.
遣興 khiển hứng: chỉ thơ văn tùy hứng mà làm, để bày tỏ tâm tư tình cảm.
斷送 đoạn tống: cắt bỏ.
一生 nhất sinh: một đời, một kiếp.
尋思 tầm tư: suy xét. 尋 tầm: tìm. 思 tư: suy nghĩ.
百計 bách kế: trăm kế, chỉ chung những mưu toan tính toán.
閑 nhàn: nghĩa gốc là hàng rào. Ở đây dùng như 閒 nhàn = thong dong vô sự, yên ổn.
莫憂 mạc ưu: chớ lo.
世事 thế sự: chuyện đời.
身事 thân sự: chuyện mình, chuyện bản thân.
須著 tu trước: cần phải, 必须.
人間 cõi đời.
夢間 mộng gian: cõi mộng.
Hàn Dũ: nhà thơ thời Trung Đường. Cha mẹ mất lúc mới 2 tuổi, ở với anh trai. Thông minh học giỏi, đỗ tiến sĩ, từng làm quan đến chức thị lang bộ Lại, nhưng cũng từng bị biếm trích do dám can ngăn vua. Ông nổi tiếng với chủ trương Văn dĩ tải đạo. Ông cũng là người viết bài văn tế Ngạc ngư (cá sấu), sau được Nguyễn Thuyên ở ta học theo, viết bài văn tế để đuổi cá sấu ở sông Hồng, được vua Trần Nhân Tông đổi họ là Hàn Thuyên.
Hai câu đầu của bài thơ này từng được Cao Bá Quát mượn dùng trong bài hát nói "Uống rượu tiêu sầu", tuy nhiên các bản tiếng Việt (Tuyển tập thơ ca trù, Văn học, 1987; trang web wikisource; trang web thivien . net) đều thấy ghi "trầm tư", chú thích chữ Hán (nếu có) cũng là "沉 思".

Nghĩa.
Vứt bỏ được một kiếp chỉ có rượu,
Suy xét trăm mưu nghìn kế không bằng nhàn.
Chớ lo chuyện đời, chuyện mình,
Cần phải làm sao để cõi đời so được với cõi mộng.

Tạm dịch.
Thoát được một đời duy có rượu,
Tính toan trăm kể chẳng như nhàn.
Chuyện nhà chuyện thế đừng lo nữa,
Lo cõi đời sao giống cõi mơ.

Đọc thêm vài bản dịch lấy từ trang thivien . net cho vui

Dứt bỏ một đời duy có rượu,
Suy tư trăm kế chẳng bằng nhàn.
Lo lắng việc mình, lờ thế sự,
Hãy xem như mộng chốn nhân gian
Phụng Hà


Chốc lát quên đời chỉ rượu thôi
Suy tư trăm kế chẳng bằng chơi
Đừng lo thế sự, lo thân mạng
Hãy để mộng mơ chiếm cuộc đời
Nguyễn Minh


Dứt bỏ cuộc đời chỉ có rượu
Tìm tòi trăm kế chẳng như nhàn
Việc mình việc nước đừng lo nữa
Hãy để đời như giấc mộng tràn
Trần Đông Phong

Uống rượu tiêu sầu. Hình: trên mạng.



17/04/2022

Tuyệt cú 2 . Đỗ Phủ

 絕句 (其二)

江碧鳥逾白, 

山青花欲燃。

今春看又過,

何日是歸年。

杜甫


Âm HV: Tuyệt cú (kì 2)

Giang bích điểu du bạch,

Sơn thanh hoa dục nhiên.

Kim xuân khan hựu quá,

Hà nhật thị quy niên.

Đỗ Phủ


Chú:

- 絕句 tuyệt cú: thể thơ có từ thời Lục Triều, nhưng đến đời Đường mới thịnh hành. Tuyệt 絕 có nghĩa là dứt, hết. Tuyệt cú chỉ thể thơ mỗi bài chỉ có 4 câu là dứt. Nếu mỗi câu có 5 chữ thì gọi là ngũ ngôn tứ tuyệt, hay nói gọn là ngũ tuyệt 五絕. Thường gặp là  ngũ tuyệt, thất tuyệt; lục tuyệt ít gặp. 

Tuyệt cú có thể là luật tuyệt hay cổ tuyệt. Luật tuyệt thì phải tuân thủ các quy tắc về niêm luật, bằng trắc, .. của thơ Đường luật. Cổ tuyệt tức thể thơ cổ phong, nhưng chỉ có bốn câu.

- 其二 kì nhị = bài hai. Đỗ Phủ có nhiều chùm thơ tuyệt cú. Có chùm hai bài, có chùm 3 bài, 4 bài, .. Đây là bài hai trong một chùm hai bài ngũ ngôn tuyệt cú ông viết năm 764. 

- 江碧 giang bích = màu xanh biếc của dòng sông; dòng sông xanh biếc. 

- 逾 du:更多 (càng thêm).

- 花欲燃 hoa dục nhiên = hoa giống như cháy, như đỏ lửa. Tỉ dụ hoa đỏ rực như lửa. 欲 dục (phó từ) = sắp, muốn, giống như.  燃 nhiên = nhen lửa, cháy, thiêu.

- 看 khan = nhìn, xem. Thường đọc là khán, ở đây đọc khan cho hợp luật thơ

- 歸年 quy niên = năm tháng trở về nhà. 年 niên: năm tháng, phiếm chỉ thời gian.


Nghĩa.

Dòng sông biếc khiến trông cánh chim càng trắng, 

trên nền núi xanh những bông hoa thêm rực đỏ.  

Lại thêm một lần nhìn mùa xuân thế này qua đi, 

chẳng biết tháng năm nào mới được về nhà.


Tạm dịch

Sông biếc chim trắng toát,

Núi xanh hoa đỏ lòe.

Thêm mùa xuân nữa hết,

Năm tháng nào về quê?


Đọc thêm một số bản dịch thơ đọc được trên trang thivien . net


Sông biếc chim mờ trắng

Hoa tươi núi thắm cao

Xuân nay đã thấy cảnh

Trở lại biết năm nao

Lê Nguyễn Lưu

(Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hoá, 1997)


Sông biếc chim càng trắng!

Non xanh hoa rọi hồng

Bao giờ về xứ sở?

Xuân lại một mùa trông!

Nhượng Tống

(Thơ Đỗ Phủ, Nhượng Tống dịch, in lần thứ 2, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1996)


Sông biếc chim càng trắng,

Núi xanh hoa thắm màu.

Xuân này qua mất nữa,

Về được, biết năm nào?

Chế Lan Viên

(Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962)


Thư pháp. Hình trên mạng.


16/04/2022

Vô, phi, bất trong tiếng Việt

Đỗ Phương Lâm

(Bài đã đăng trên Ngôn ngữ & đời sống số 12 (98) - 2003, tr. 5-8. )

Từ lâu các sách dạy ngoại ngữ của ta vẫn dùng các thuật ngữ "bất qui tắc"để dịch khái niệm irregular (tiếng Anh) và "bất động vật" để dịch khái niệm ( Tiếng Nga ). Đó là những kết hợp chưa thật chuẩn về mặt ngữ pháp, nên sửa lại là: "phi qui tắc" hoặc "bất tuân quy tắc", " phi động vật" hoặc "bất thị động vật".

Trong cảm thức ngôn ngữ chung của người Việt Nam, vô, phi, bất là những yếu tố vay mượn từ tiếng Hán, dùng làm tiền tố cấu tạo từ, mang chức năng phủ định ý nghĩa của yếu tố đứng sau chúng. Chúng ta thường khó phân biệt rạch ròi cách dùng của từng yếu tố trong những trường hợp cụ thể. Dưới đây là một vài nhận xét nhỏ, mong góp phần tìm hiểu sự khác nhau về nghĩa và ngữ pháp của các yếu tố vô, phi, bất.

1. Trước hết cần thấy rằng vô, phi, bất vốn là các trạng từ phủ định, tức chúng có khả năng hoạt động độc lập và tương đối tự do khi kết hợp với các yếu tố khác trong tiếng Hán. Tuy nhiên, khi được vay mượn vào trong tiếng Việt, vô, phi, bất chỉ hoạt động với vai trò là các yếu tố cấu tạo từ mà không thể là các từ độc lập. Hơn nữa khả năng kết hợp tự do của chúng đã bị hạn chế đi rất nhiều. Mỗi yếu tố chỉ kết hợp với một số yếu tố nào đó (có thể là các từ, các ngữ), được hạn định về mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp hay đơn thuần chỉ là do tập quán. Mặc dù vậy, vô, phi, bất vẫn là những yếu tố Hán Việt năng sản, được dùng phổ biến và rộng rãi trong sinh hoạt ngôn ngữ của người Việt.
Tiếng Hán cổ có rất nhiều từ đượ c dùng làm trạng từ phủ định như: bất不, vô 无, vô 毋, vô無, phi非, phủ否, phất弗, mạc 莫, vong 亡 , võng 罔, vật 勿, vị 未, mạt 末, phỉ 匪, hưu休,v.v.. Trong đó có một số từ có nghĩa và cách dùng tương đương nhau, có thể thay thế cho nhau. Tiếng Việt của chúng ta chỉ vay mượn ba yếu tố thông dụng nhất, cũng là ba đại diện tiêu biểu cho các trạng từ phủ định của tiếng Hán, đó là: vô, phi, bất. Ba yếu tố này có ý nghĩa và cách dùng hoàn toàn khác nhau, cho nên không thể thay thế cho nhau trong các kết hợp tạo từ tiếng Việt. Lựa chọn yếu tố này hay yếu tố kia trong khi cấu tạo từ sẽ cho những kết quả khác nhau về ngữ nghĩa. Ví dụ:
phi thường: khác thường, vượt xa mức bình thường, đáng khâm phục. ( thành tích phi thường, con người phi thường)
bất thường: không theo lệ thường, (hội nghị bất thường); dễ thay đổi (thời tiết bất thường)
Có thể dễ dàng nhận thấy sự nhầm lẫn của người Việt Nam về cách dùng giữa các yếu tố vô, phi, bất thường xảy ra theo hai nhóm: nhầm lẫn giữa bất với phi, hoặc nhầm giữa bất với vô. Điều này có lẽ là do bất thông dụng hơn cả trong tiếng Hán cũng như tiếng Việt. Nhất là ở ta, bất nhiều khi được dùng tràn lan, thậm chí một số người còn có thói quen hễ cần phủ định ý nghĩa của từ nào thì lập tức thêm bất vào phía trước từ đó.

2. Thử khảo sát trên cơ sở lí thuyết cũng như hoạt động thực tiễn, ta sẽ thấy rõ những đặc trưng riêng của mỗi yếu tố.
2.1. Về mặt lí thuyết, không gì hơn là chúng ta tìm về cội nguồn của các yếu tố trên, đó là tiếng Hán cổ. Trong ngữ pháp Hán cổ, vô, phi, bất là những phủ định từ. Trong đó bất đứng trước động từ, tính từ, nghĩa là : không/ chẳng (làm, hành động...), không/ chẳng( như thế nào, ra sao...); phi đứng trước danh từ, tương đương với bất thị 不是 nghĩa là: chẳng phải/ không phải( cái ấy/ việc ấy/ người ấy...), vô đứng trước danh từ, tương đương với bất hữu 不有, có nghĩa là chẳng có/không có (người ấy/ việc ấy/ cái ấy...). Các quy tắc đó vẫn được tuân thủ khi chúng hoạt động trong tiếng Việt. Để thấy rõ điều này ta cùng xem xét một số từ, ngữ đoạn, thành ngữ thông dụng trong tiếng Việt, ở đó có sự xuất hiện của các yếu tố vô, phi, bất.
2.1.1. Trước hết là bất : bất an, bất bạo động, bất bằng, bất biến, bất biết, bất cần, bất cẩn, bất cập, bất chấp, bất chính, bất chợt, bất công, bất cứ, bất di bất dịch, bất diệt, bất đắc chí, bất đắc kì tử, bất đẳng thức, bất định, bất đồ, bất đồng, bất động, bất động sản, bất giác, bất hạnh, bất hảo, bất hiếu, bất hoà, bất hủ, bất kể, bất khả tri luận, bất khả xâm phạm, bất kham, bất khuất, bất kì, bất lợi, bất luận, bất lực, bất lương, bất mãn, bất minh, bất mục, bất nghì, bất nghĩa, bất ngờ, bất nhã, bất nhân, bất nhẫn, bất nhất, bất như ý, bất nhược, bất phân thắng bại, bất phương trình, bất quá, bất tài, bất tận, bất tất, bất thành cú, bất thành văn, bất thần, bất thình lình, bất thường, bất tiện, bất tỉnh, bất tỉnh nhân sự, bất trắc, bất trị, bất túc, bất tử, bất tường, bất ý.
Hoặc: -Ngọc bất trác bất thành khí
Nhân bất học bất tri lí
( Ngọc không mài dũa, không thành vật quí
Người không học không biết lẽ sống)
-Tam nam bất phú, tứ nữ bất bần....
( Ba con trai không giàu, bốn con gái chẳng nghèo)
Theo quy tắc ngữ pháp, các kết hợp đúng là các kết hợp mà các thành tố đứng sau bất phải có khả năng đảm nhiệm vai trò là các động từ hoặc tính từ trong bất kỳ sự xuất hiện nào. Như vậy các kết hợp ở trên đủ làm thoả mãn chúng ta, vì an ( yên bình), hảo( tốt đẹp), lương (thiện, lành), nhân ( nhân đức)... đúng là những tính từ; luận( bàn bạc), quá (vượt qua), trắc (lường, liệu)...đúng là những động từ. Nếu có phân vân đôi chút thì đó là các kết hợp dễ làm ta lầm tưởng những thành tố đứng sau bất là những danh từ hay danh ngữ:
- bất kì ( không xác định ), trong đó kì 期( kì hạn) vốn có nghĩa gốc là hẹn, ước hẹn ( là một động từ).
- bất đẳng thức( cặp biểu thức không bằng nhau, lớn hơn hoặc nhỏ hơn), bất khả tri luận ( thuyết không thể biết được), bất phương trình ( bất đẳng thức có chứa một hay nhiều số chưa biết), bất động sản ( những tài sản không chuyển rời đi được như nhà cửa, ruộng vườn). Trong các kết hợp này: bất đẳng, bất khả tri, bất phương, bất động đều là những kết cấu định ngữ, bổ nghĩa cho các danh từ làm trung tâm ngữ đứng phía sau chúng là: thức, luận, trình và sản.

bất động               sản
Định ngữ              Trung tâm ngữ

Bất tuyệt nhiên không kết hợp với các danh từ để tạo thành các từ mới. ở trong tiếng Hán, người ta đã từng tranh cãi và giải quyết rạch ròi về vấn đề này. Ví dụ: văn ngôn viết: "quân bất quân" 君不君 bất đứng giữa hai từ quân (vua). Đó là cách dùng đặc biệt của văn ngôn. Khẩu ngữ lại nói : " quân bất thành cá quân" (vua chẳng ra một vị vua). Chữ quân thứ hai đứng sau bất chỉ biểu thị một loại tính chất hoặc trạng thái, có tác dụng tương đương với tính từ.[1] Hay như Kinh Thi có câu Tử bất ngã tư 子不我思 (chàng chẳng nhớ ta), sau bất là danh từ làm đại từ nhân xưng : ngã. Tiếng phổ thông Trung Quốc nói là: "nhĩ bất tưởng ngã" 爾不想我 mà không nói là: "nhĩ bất ngã tưởng"爾不我想 như kết cấu của văn ngôn.[2] Hoặc bất lại thường đứng trước danh từ trong cách nói tỉnh lược, ví dụ: "phi cơ bất phi cơ" rút gọn từ "lai phi cơ lai bất phi cơ" (lái máy bay hay không lái máy bay); "bất nhân, bất quỷ" rút gọn từ: "bất tượng nhân, bất tượng quỷ" (chẳng giống người, chẳng giống quỷ)...
Do vậy các kết hợp kiểu: bất quy tắc hay bất động vật đã nói tới ở đầu bài viết đều là những cách dùng khó có thể chấp nhận của bất. Với bất quy tắc có lẽ không cần phải bàn thêm, vì quy tắc hiển nhiên chỉ có thể là danh từ. Còn bất động vật (inanimate) chỉ có thể biểu đạt nghĩa: vật đứng im, không chuyển động, di dời, xê dịch, vật không có hoạt động, sự sống..., tức là bất động làm định ngữ cho vật. Với nghĩa này, bất động vật có cấu trúc tương đương với bất động sản, bất đẳng thức, bất biến thể... Nhưng trong tiếng Nga lại dùng để chỉ những gì không phải là động vật, như: cây, cỏ, núi, sông, nhà cửa... Bất ở đây lại làm định ngữ cho động vật, tức là bất phủ định danh từ đứng sau nó, trong khi "nhiệm vụ" này xưa nay đã được "phân công" cho phi:

phi                   động vật
Định ngữ         Trung tâm ngữ

2.1.2. Với phi, ta có các kết hợp: phi âm tiết, phi cú pháp, phi chính phủ, phi đạo đức, phi lý, phi nhân tính, phi nghĩa, phi phàm, phi pháp, phi quân sự, phi quốc gia, phi thương bất phú, phi sản xuất, phi thường, phi thực tế, phi vô sản ...
Các kết hợp trên không có vấn đề gì cần nói thêm. Đó là những kết hợp bình thường của phi với những thành tố có khả năng đảm nhiệm vai trò là các danh từ (âm tiết, cú pháp, chính phủ, đạo đức, lý, nghĩa, pháp, quân sự, quốc gia, vô sản, thương, nhân tính, phàm, thường) đứng sau.
Duy có trường hợp phi sản xuất, phi lại phủ định cho một động từ, như thế cũng là "chơi lấn sân" bất.
2.1.3. Với vô, ta có các kết hợp: vô bào, vô biên, vô bổ, vô bờ, vô can, vô chính phủ, vô chủ, vô chừng, vô cớ, vô công, vô công rồi nghề, vô cùng, vô cực, vô danh (tiểu tốt), vô duyên, vô đạo, vô địch, vô điều kiện, vô định, vô độ, vô gia cư, vô giá (trị) , vô hại, vô hạn , vô hiệu, vô hình, vô hình (trung), vô học, vô ích, vô kể, vô khối, vô kỉ luật, vô lại, vô lễ, vô lí, vô liêm sỉ, vô lo, vô loài, vô loại, vô lối, vô luân, vô luận, vô lực, vô lương, vô mưu, vô ngần, vô nghĩa, vô nghiệm, vô nguyên tắc, vô nhân(= bất nhân), vô nhân đạo, vô ơn, vô phép, vô phước, vô phúc, vô phương( cứu chữa), vô sản, vô sản chuyên chính, vô sỉ, vô sinh, vô song, vô số, vô sự, vô tài( bất tài), vô tâm, vô tận, vô thanh, vô thần( luận), vô thời hạn, vô thuỷ vô chung, vô thừa nhận, vô thức, vô thường vô phạt, vô thượng, vô tỉ, vô tính sự, vô tiền khoáng hậu( không tiền khoáng hậu), vô tình, vô tính, vô tổ chức, vô tội, vô tội vạ, vô trách nhiệm, vô tri, vô tri vô giác, vô trùng, vô tuyến, vô tư 無私(không có sự riêng tư) vô tư 無思(không suy nghĩ, đắn đo), vô tư lự, vô uý, vô ý, vô ý thức, vô vọng, vô vi, v.v . Trên đây phần lớn là các kết hợp của vô với các danh từ, đó là các kết hợp tuân theo qui tắc. Tuy nhiên, ta cũng thấy vô kết hợp với khá nhiều động từ: địch, học, kể, lo, luận (bàn, nói tới), ơn, thừa nhận, tư (suy nghĩ), tri (biết), tư lự, uý (sợ hãi), vi (làm, hành động), vọng (ngóng, trông mong, hy vọng), trong đó các động từ này phần lớn có thể đảm nhiệm vai trò là các danh từ trong các ngôn cảnh khác. Ví du: vô học: không có học thức, không được giáo dục. Học trong vô học rõ ràng là danh từ.


3. Nhưng tại sao không dùng bất + động từ mà lại dùng vô+ động từ ? Đây có phải là những kết hợp sai quy tắc cần chỉnh sửa không? Trên thực tế, vô và bất khi kết hợp cùng với một động từ mang lại những nét nghĩa rất khác nhau, mà chúng ta không dễ nhận ra.
3.1.Bất là sự phủ định tuyệt đối, ở cấp độ cao hơn vô
- Người vô tài: hiện nay không có tài, nhưng nay mai có thể có tài, người bất tài sẽ vĩnh viễn không bao giờ có tài được[3]. Biểu hiện sự thất vọng, mỉa mai hay sự coi thường, miệt thị đối với ai đó.
- Nơi vô định: nơi hiện nay không xác định được, nhưng nơi bất định thì không tài nào xác định được.
- Vô luận : không bàn đến, bất luận: chẳng thèm bàn đến.
3.2. Ta có thể nhận thấy Vô + động từ luôn mang một sắc thái ý nghĩa khác với Bất + động từ , đó là nghĩa: không cần, không thể, không có khả năng... hay nghĩa hàm ẩn là sự bình phẩm, đánh giá. Đây là một cách dùng độc đáo, rất riêng chỉ thấy khi vô và bất hoạt động trong tiếng Việt. Có thể đưa ra công thức:
Vô + động từ = bất khả (không thể) + động từ .
Chúng ta thử phân tích một số trường hợp cụ thể:
- Vô kể: (ở trạng thái... đến mức không thể kể xiết: Anh ấy mua quà cho tôi nhiều vô kể) kể không thể là một danh từ trong bất kì trường hợp nào. Trong khi ta đã có từ bất kể được dùng với nghĩa: không có sự phân biệt, lựa chọn, loại trừ trường hợp cụ thể nào cả. Vô kể tương đương với bất khả kể hay không thể kể.
- Vô địch: tương đương với vô (nhân) khả địch: không (ai) có thể địch nổi.
- Vô luận: không cần bàn, không phải bàn (biểu thị ý không loại trừ trường hợp nào cả, bất kể: việc gì cũng làm, vô luận tốt hay xấu).
- Vô tri : không có khả năng nhận biết: vật vô tri, khác với bất tri: không biết, chỉ là sự phủ định đơn thuần.
... Tương tự vậy, vô lo (không cần lo), vô ơn (không cần mang ơn), vô thừa nhận (không ai cần/thèm thừa nhận), vô tư (không cần suy nghĩ, đắn đo), vô tư lự (không nghĩ ngợi), vô uý (không cần/ phải sợ hãi), vô vi (không cần làm/ hành động gì. (vô vi nhi trị: cứ để mặc tự nhiên mà nước được trị), vô vọng (không thể hi vọng, mong đợi).


TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN


1. Phan Ngọc- Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt- Nxb. Thanh niên, H., 2001
2. Lã Thúc Tương- Trung Quốc văn pháp yếu lược, quyển thượng, tr 91.
3. Cao Giáo Thụ- Trung Quốc ngữ văn



[1] Lã Thúc Tương- Trung Quốc văn pháp yếu lược, quyển thượng, tr 91.
[2] Cao Giáo Thụ- Trung Quốc ngữ văn
[3] Phan Ngọc- Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt- Nxb. Thanh niên, H., 2001

Nguồn: http://dolamdhhp.blogspot.com/2011/10/vo-phi-bat-trong-tieng-viet-o-phuong.html