07/06/2021

tọa tỉnh quan thiên

 坐井觀天 (坐井观天 
[zuò jǐng guān tiān] 

 坐 tọa = ngồi, 井 tỉnh = giếng, 觀 quan = xem, 天 thiên = trời. 

 坐井觀天 tọa tỉnh quan thiên = ngồi dưới đáy giếng nhìn trời. Nên thấy trời bằng cái vung. Chỉ người có nhãn quan giới hạn, kiến văn hẹp hòi; cũng như thành ngữ học hôm trước, 井底之蛙 (tỉnh để chi oa = ếch ngồi đáy giếng). 

Cũng nói: tọa tỉnh khuy thiên 坐井窺天 [zuò jǐng kuī tiān] = ngồi dưới giếng dòm trời.

HỌC CHỮ

人 nhân [rén] = người. Hình người đứng. Khi kết hợp với chữ khác để tạo chữ mới có thể viết thành (gọi là biến thể): (nhân đứng), hoặc (nhân đi).

土 thổ [tǔ] = đất. Hình đống đất. 
Lĩnh thổ = bao gồm đất đai, vùng biển và trời thuộc chủ quyền một nước. Cố thổ = đất cũ, chỉ quê hương. Động thổ = đụng vào đất, ý là bắt đầu xây dựng. Hạ thổ = đất thấp; để xuống đất; mai táng. 

坐 tọa [zuò] = ngồi. Hình hai người 人 ngồi trên mặt đất 土.
Chủ tọa = chủ mưu, chủ phạm (ta thì dùng chỉ người điều khiển một cuộc họp). An tọa = ngồi yên ổn. (Mời quý vị an tọa = mời quý vị ngồi xuống và giữ yên lặng cho, không chuyện trò linh tinh nữa để chúng ta bắt đầu làm việc)

井 tỉnh [ jǐng] = giếng. Hình cái miệng giếng, với mấy thanh gỗ làm thành. 
Thủy tỉnh = giếng nước. Thiên tỉnh = giếng trời, sân lộ thiên trong nhà. Tỉnh ngư = cá trong giếng, chỉ người kiến văn hẹp hòi. Tỉnh điền = phép chia ruộng ở Tàu ngày xưa, chia một khu đất thành 9 phần như hình chữ tỉnh, 8 phần xung quanh giao cho 8 người làm thu lợi tức; phần giữa là công điền, 8 nhà chung làm, thu hoạch rồi nộp cho triều đình.

目 mục [mù] = mắt. Hình con mắt.
Chú mục = nhìn chăm chú. Mục đích = điều mình nhắm tới. Mục tiêu = cái đích nhắm. Mục kích = tự mình trông thấy.
Mục trong danh mục, mục lục, đề mục, khoa mục cũng là chữ mục này.

見() kiến [jiàn] = nhìn. Hình người 儿 (bộ nhân đứng, xem trên) + mục 目 (con mắt). 
Chánh kiến = quan điểm chính trị (nhiều người thường dùng với nghĩa quan điểm riêng về vấn đề gì, tức dùng như chữ chủ kiến). Phân biệt với chánh kiến trong bát chánh đạo, có nghĩa là sự thấy, biết đúng đắn (hai chữ chánh chữ Hán viết khác nhau). Chứng kiến = thấy và làm chứng; tận mắt thấy sự việc nào đó xảy ra. Định kiến = ý nghĩ riêng đã có sẵn, khó thay đổi được, như thành kiến. Hội kiến = gặp mặt. Kiến giải = cách hiểu về một vấn đề. Thiên kiến = ý kiến lệch lạc, thiếu khách quan.

隹 chuy [zhuī] = loài chim đuôi ngắn. Hình con chim đuôi ngắn. Chữ này đã học trong một bài trước, nếu ai còn nhớ hẳn thấy dạng giáp cốt văn của chuy 隹 rất giống hình một con chim.

雚 hoàn [guàn] = một loài chim 隹 giống cò, với hai mắt to 吅 và chỏm lông trên đầu 艹 (trong hình minh họa dười đây trông giống con cú mèo!). 

觀 () quan [guān] = xem xét, ngắm nhìn. Chữ hình thanh, 見 kiến = nhìn, chỉ ý + 雚 hoàn chỉ âm.
Bàng quan = đúng ở bên cạnh mà nhìn, coi là không dính líu đến mình. Bi quan = có cách nhìn tiêu cực, không tin tưởng ở tương lai; trái với lạc quan. Chủ quan = phán đoán sự việc theo ý kiến riêng của mình, không coi trọng sự phù hợp với thực tế; ngược với khách quan

大 đại [dà] = to. Hình người 人 đứng dang tay, biểu thị ý "to lớn".
Đại ca = anh cả. Đại bá = bác cả. Đại địa = khắp mặt đất.

天 thiên [tiān] = bầu trời; ngày. Hình người đứng 大, trên đầu có gạch ngang, chỉ "cái nằm trên đầu", bầu trời. 
Lão thiên = ông trời. Quy thiên = về trời, mất. Thiên tài = tài có tự nhiên, trời phú cho. Thiên tính = tính vốn có, trời phú cho. 

穴 huyệt [xué] = hang, lỗ. Tượng hình cái hang đá. Là nơi ở của người xưa, nên khi viết thành chữ thì có hình mái nhà 宀 và người 八 ở.
Bất nhập hổ huyệt yên đắc hổ tử? = không vào hang cọp sao bắt được cọp con?

夫 phu [fū] = đàn ông; chồng. Hình người 大 trên đầu tóc đã cài trâm, chỉ người đã thành niên (theo tục xưa của người Tàu, nam nữ đến tuổi thành niên thì làm lễ cài trâm).
Thơ Hồ Xuân Hương bóng gió về cô gái chưa chồng mà có con:
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc, phận liễu sao đà nảy nét ngang.

(Chơi chữ: chữ thiên 天 nhô lên thì thành chữ phu 夫 = chồng; chữ liễu 了 có nét ngang thì thành chữ tử 子 = con)

見 (见) kiến [jiàn] = thấy. Hình người 儿 và con mắt 目.
正見 chính kiến = cái nhìn đúng đắn. 政見 chính kiến = quan điểm chính trị; cách nhìn riêng về sự việc gì. Yết kiến, bái kiến = tới gặp mặt (trang trọng). Kiến văn = những điều nghe và thấy (kiến = thấy, văn = nghe).

規 quy [guī] = phép tắc; cái compass; khuyên răn. Bộ kiến 見 thấy + phu 夫 người đã thành niên: ý kiến của người đã thành niên thì có phép tắc, hợp lẽ.
Quy tắc = khuôn phép. Lập quy = đặt ra phép tắc. 

窺 khuy [kuī] = nhìn lén, dòm ngó. Bộ huyệt 穴 (lỗ) + phu 夫 (người) + kiến 見 (nhìn): Hình một gnười nhìn lén qua lỗ nhỏ (khe cửa). Quy 規 (khuôn phép) cũng chỉ âm đọc (thanh bàng).

*

Hình: Cột bên trái, từ trên xuống theo thứ tự, là các dạng của chữ quan 觀 : Giản thể, tiểu triện, lệ thư và khải thư.

(Hình trên trang qiyuan.chaziwang).





31/05/2021

tỉnh để chi oa

井底之蛙 [jǐng dǐ zhī wā]

井 tỉnh = giếng; 底 để = đáy; 之 chi = thuộc về; 蛙 oa = ếch.
井底之蛙 tỉnh để chi oa = ếch ngồi đáy giếng. Nên thấy trời bằng cái vung. Chỉ người kiến văn hạn hẹp. 
Có câu chuyện kể, rằng xưa có một con ếch từ nhỏ sống trong một cái giếng. Một hôm có con rùa biển không may rơi xuống giếng. Gặp gỡ nói chuyện, nghe rùa kể chuyện biển rộng mênh mông, con ếch không tin, bụng nghĩ thầm con rùa già nói xạo. 
Trong cuộc sống có lắm người kiến thức hẹp hòi, lại tự cho mình là duy nhất đúng, ai nói khác đi thì cho là nói điêu nói bậy. Nên Trang tử từng nhận xét, rằng không thể nói chuyện biển cả với con ếch cả đời sống nới đáy giếng, cũng như không thể nói chuyện tuyết rơi với loài côn trùng sinh ra rồi chết đi chỉ trong mùa hè [1]. 
Nhưng dĩ nhiên cũng cần đề phòng chính bản thân mình thiếu hiểu biết, lại chê người khác dốt. Giai thoại nhà thơ lớn Tô Đông Pha sửa thơ Vương An Thạch luôn là bài học cho ai thích tự cho mình duy nhất đúng vậy. [2]


HỌC CHỮ: 

井 tỉnh [jĭng] = giếng. Hình cái miệng giếng, quanh miệng có bốn thanh gỗ làm thành.
Thủy tỉnh = giếng nước. Thiên tỉnh = giếng trời, sân lộ thiên trong nhà. Tỉnh ngư = cá trong giếng, chỉ người kiến văn hẹp hòi. Tỉnh điền = phép chia ruộng ở Tàu ngày xưa, chia một khu đất thành 9 phần như hình chữ tỉnh, 8 phần xung quanh giao cho 8 người làm thu lợi tức; phần giữa là công điền, 8 nhà chung làm, thu hoạch rồi nộp cho triều đình.

氏 thị [shì] = họ tộc. Hình thân cây với lá, cành biểu đạt quan hệ họ tộc. 
低 đê [dī] = cúi xuống; thấp. Vốn viết 氐, là hình người khom lưng cúi xuống bê một vật nặng, bị mượn mất để chỉ sao Đê, nên tạo chữ mới. 氐 cũng có khi được dùng thay cho 低. 
广 nghiễm [yăn] = mái nhà. Chữ tượng hình.
底 để [dĭ] = đáy, gốc. Chữ hình thanh, nghiễm 广 (mái hiên) chỉ ý + đê 氐 (sao Đê) chỉ âm đọc. 大底 = đại khái, đại loại; nói chung trên nét lớn là. 

之 chi [zhī] Giáp cốt văn là hình bàn chân + vạch xuất phát, nghĩa gốc là đi, sau thường mượn làm giới từ, có nghĩa là của, thuộc về: A 之 B = B của A. Dân chi phụ mẫu = cha mẹ của dân (chỉ ông quan hồi xưa). 

虫 trùng [chóng] = côn trùng, sâu bọ. Hình một con sâu. 
土 thổ [tǔ] = đất. Hình đống đất
圭 khuê [guī] = ngọc khuê. Hội ý của hai chữ thổ 土 đất. Nghĩa gốc là đất phong, sau dùng chỉ thanh ngọc trên nhọn dưới vuông mà thiên tử khi phong vua chư hầu thì ban cho làm tin. Mở rộng, chỉ thẻ ngọc vua, quan mang trong các dịp lễ lớn.
Nhật khuê 日圭 dụng cụ đo bóng mặt trời ngày xưa, hình dạng giống cái ngọc khuê. 
蛙 oa [wā] = ếch, nhái. Chữ hình thanh, trùng 虫 chỉ ý (dù thực ra ếch không phải là loài côn trùng) + khuê 圭 (một loại thẻ ngọc) chỉ âm đọc.

*
[1] Trang tử, Nam hoa kinh, thiên Thu thủy.
[2] Tô Đông Pha và Vương An Thạch là hai trong bát đại gia (tám nhà văn lớn thời Đường Tống bên Tàu). hai ông cùng sống vào đời nhà Tống. Có lần Tô Đông Pha đọc được hai câu thơ của Vương An Thạch, tể tướng đương thời: Minh nguyệt sơn đầu khiếu, Hoàng khuyển ngọa hoa tâm; cười chê, rằng trăng sáng (minh nguyệt) thì sao lại có thể kêu (khiếu), chó vàng (hoàng khuyển) sao co thể nằm trên lòng hoa (ngọa hoa tâm)? Và sửa lại, khiếu thành chiếu (chiếu sáng), hoa tâm (nhị hoa) thành hoa âm (bóng hoa). Mãi sau này, ông mới biết hóa ra có loài chim tên "minh nguyệt", và loài sâu tên "hoàng khuyển".

*
Hình (nguồn qiyuan.chaziwang): Cột bên phải, từ trên xuống: chữ đê 低 dạng giáp cốt, kim văn, tiểu triện, lệ thư, khải thư, thảo thư và hành thư. 



27/05/2021

bố cổ lôi môn.

布鼓雷門 (布鼓雷门)

[bù gǔ léi mén]

布 bố = vải, 鼓 cổ = trống, 布鼓 bố cổ = trống bịt bằng vải. 雷 lôi = sấm, 門 môn = cửa, 雷門 Lôi môn = tên cửa thành ở Cối Kê (nay thuộc huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang) bên Tàu, tương truyền ở đó có đặt một cái trống rất lớn, khi đánh tiếng to, ở thành Lạc Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam), cách đó cả ngàn dặm cũng nghe tiếng.

布鼓雷門 bố cổ lôi môn = Đem cái trống bịt vải, tiếng vốn chẳng ra gì đi so với trống ở Lôi môn, tiếng vang xa cả ngàn dặm [1]. Tương tự ban môn lộng phủ 班門弄斧 học hôm trước, chỉ việc trổ tài trước người giỏi hơn mình gấp bội, như ta thường nói "đánh trống qua cửa nhà sấm".

HỌC CHỮ

巾 cân [jìn] = khăn. Hình cái khăn treo trên giá.
Cân quắc = khăn bịt đầu của đàn bà xưa. Mở rộng, chỉ phụ nữ. Khổng Minh đánh Tư Mã Ý,  Tư Mã Ý đóng cổng thành không ra. Khổng Minh gởi cho Tư Mã Ý cái khăn bịt đầu, ý chê Tử Mã Ý chỉ như đàn bà, để khích tướng.

父 phụ [fǔ] = cha.Hình bàn tay cầm chiếc rìu, chỉ người cha, là người lao động chính để nuôi gia đình.

布 bố [bù] = vải gai; bày bố; loan báo. Vốn là một chữ hình thanh, gồm cân 巾 (khăn) chỉ ý + phụ 父 (cha) chỉ âm đọc. Về sau, chữ phụ bị rút gọn, chỉ còn lại hình bàn tay 𠂇, trông 布 giống như  hình tay cầm khăn 巾 ra hiệu.
Bố cáo = nói rõ cho mọi người biết. Bố phòng = sắp xếp lính để phòng địch. Bố thí = đem tiền của cho người khác. Phân bố = chia ra các nơi. Công bố = công khai nói rõ cho mọi gnười biết. Bố y 布衣 áo quần vải thô, chỉ người bình dân. Bố Cái đại vương 布蓋大王 hiệu của Phùng Hưng.

又 hựu [yòu] = lại, lần nữa. Tượng hình bàn tay phải, nghĩa gốc là bàn tay (phải), bị mượn (giả tá) để chỉ nghĩa "lần nữa". Khi tham gia tạo chữ, thường góp vào cái nghĩa gốc này.

攴 phộc [pù] = đánh khẽ. Cũng đọc phác. Hình tay 又 (hựu = tay) cầm cây roi. Chữ này chỉ làm bộ nét, dùng cùng với chữ khác tạo chữ mới. Cũng viết 攵 

鼓 cổ [gŭ] = cái trống; đánh trống. Vốn viết 壴 là hình cái trống có chân ở dưới, trên có móc treo. Sau thêm phộc 攴 (hình bàn tay cầm cây). Chú ý đừng viết sai
更鼓 canh cổ = tiếng trống báo canh trong đêm. Chiến cổ = trống trận. Chinh cổ = chiêng và trống. Chung cổ = chuông và trống. 鼓鐘 Cổ chung = đánh chuông. Cổ chưởng = vỗ tay. 鼓刀 cổ đao = khua đao. Cổ động = cổ vũ kích động. 

雨 vũ [yŭ] = mưa.  Hình những hạt mưa rơi từ bầu trời.
Xuân vũ = mưa xuân. Cam vũ  = mưa lành. Lôi vũ = mưa và sấm sét.

雷 lôi [léi] = sấm. Vốn viết 畾 là hình các đốm lửa khi trời sấm chớp. Về sau thêm bộ vũ, và ba đốm lửa bỏ bớt chỉ còn một đốm lửa.
Lôi điện = sấm chớp. Địa lôi = mìn chôn đất.

門 (门)  môn [mén] = cửa. Hình cái cửa có hai cánh.
Môn đệ = học trò theo học một thầy nào. 

*

Hình chữ cổ 鼓 ( = trống) biến đổi theo thời gian.

(Hình trên trang qiyuan.chziwang)


[1] Giảng theo zdic: 雷門,會稽(今浙江省紹興縣)​的城門,有大鼓,鼓聲宏亮,可傳到洛陽城。布鼓雷門指以布做成,敲不出聲響的鼓和雷門的大鼓相比。比喻在高手面前賣弄本領,貽笑大方。

Lôi môn, Cối Kê (kim Chiết giang tỉnh Thiệu Hưng huyện) đích thành môn, hữu đại cổ, cổ thanh hoành lượng, khả truyền đáo Lạc Dương thành. Bố cổ Lôi môn chỉ dĩ bố tố thành, xao bất xuất thanh hưởng đích cổ hòa Lôi môn đích đại cổ tương tỉ. Tỉ dụ tại cao thủ diện tiền mại lộng bản lĩnh, di tiếu đại phương. 


24/05/2021

ban môn lộng phủ

班門弄斧  (班门弄斧)
[bān mén nòng fǔ] 

班 ban, đây là tên ông Lỗ Ban, người thợ mộc khéo nổi tiếng của nước Lỗ thời Xuân Thu bên Tàu. 門 môn = cửa, 弄 lộng = múa. 斧 phủ = búa.
班門弄斧 ban môn lộng phủ = múa rìu trước cửa nhà ông Ban. Ý là tài chưa bao lăm mà đi khoe khoang trước bậc thầy, ta thường nói là múa rìu qua mắt thợ
Tay ngang mà cãi nhau với chuyên gia thì đúng là dễ làm trò cười cho thiên hạ. Anh thợ giày có thể chê họa sĩ ở chỗ đôi giày, chê lên nữa thì không nên. Nhưng nếu cái quần họa sĩ vẽ trong tranh cũng là loại anh mặc hàng ngày, thì anh cũng có thể có ý kiến chứ? Nếu cứ sợ bị chê cười mà dấu dốt không dám nói ra cái mà mình tin là đúng, nhưng thực ra có thể sai bét, thì ai biết mà sửa cho? 

HỌC CHỮ

玉 ngọc [yù] = ngọc. Vốn viết viết 王 là hình cuổi ngọc, sau thêm dấu chấm 丶để khỏi nhầm với chữ vương 王 vua.
刀 đao [dào] = cây dao. Hình cây dao. Kết hợp với chữ khác để tạo chữ mới có khi viết
班 ban [bān] = chia cho, ban phát. Hình lưỡi dao (viết thành刂) đang cắt chia chuỗi ngọc. 
門 () môn [mén] = cửa. Hình cái cửa có hai cánh.
弄 lộng [nòng] = chơi. Hình hai tay (viết thành 廾) đang cầm chuổi ngọc 玉 (viết thiếu nét)
弄月 Lộng nguyệt = chơi trăng, thưởng trăng. Lộng địch = thổi sáo. Trào lộng = đùa tếu. Lộng quyền = làm việc vượt quyền hạn của mình, lấn cả quyền hạn của cấp trên. 

父 phụ [fǔ] = cha.Hình bàn tay cầm chiếc rìu, chỉ người cha, là người lao động chính để nuôi gia đình.
斤 cân [ jīn] = cái búa (rìu). Hình cái rìu.
斧 phủ [fǔ]= cái rìu (búa). Chữ hình thanh, gồm cân 斤 (búa) chỉ nghĩa + phụ 父 (cha) chỉ âm đọc. 

*
Hình (lấy trên trang qiyuan.chaziwang): Chữ ban 班 : bên trái, từ trên xuống theo thứ tự: Kim văn, chữ tiểu triện, chữ lệ, chữ khải, chữ thảo và chữ hành. 






23/05/2021

Tìm em trên phố lạ

re-post bài hai năm trước, kỉ niệm một tối rất buồn, nằm trên một phòng trọ nơi một thành phố lạ, nhìn mưa rơi hiu hắt ngoài song cửa, rồi nhớ mông lung .. 
-------------------------------------

Tìm em trên phố lạ
Phố chiều buồn mênh mang
Tìm em trên phố lạ
Những con đường không quen

Tìm em trên phố lạ
Nắng chiều vàng mong manh
Bước chân vì nhung nhớ
Lầm lủi trong bơ vơ

Lời nào anh vội nói
Gió khóc trên đôi môi
Buồn về trong niềm nhớ
Những tiếc nuối chơi vơi

Giờ nầy trên hè phố
Một mình anh ngẩn ngơ
Tìm về con đường cũ xa vời

Tìm em trên phố lạ
Phố chật người đi qua
Nhớ em chiều lên nắng
Gọi mãi tên em thôi

Không biết vì sao anh lại phải đi tìm cô trên phố lạ. Nhưng có lẽ không phải lần đầu họ tìm nhau, vì không có cái háo hức mong chờ của lần đầu gặp gỡ. Chỉ là những bước chân lầm lũi, bơ vơ anh đi tìm cô.

Hai người xa nhau đã lâu và nay anh tìm cô để khẳng định lại mối tình mà anh mơ hồ cảm thấy đã rất đỗi mong manh? Nếu đã biết thế thì gặp nhau làm chi nhỉ, để lòng chơi vơi thêm một niềm nuối tiếc? Để con đường lạ nay đã thành quen, nhưng càng thêm xa vời

Anh chàng trong một ca khúc của Trịnh Công Sơn cũng từng đi tìm em

Tìm em tôi tìm mình hạc xương mai
Tìm trên non ngàn một cành hoa khôi

một cô em được tả rõ ràng mình hạc xương mai, một bờ môi thơm, một hồn giấy mới ..  nhưng thật ra rất mơ hồ, như một bóng hình không thực. Anh chàng trong ca khúc của Trúc Hồ cũng đi tìm em, một cô em không kể rõ như nào, lại là một cô em rất thật. Nhưng cuối cùng thì cô cũng chỉ là một bóng hình trong tâm tưởng. Cũng chẳng có chi ngạc nhiên, bởi tình yêu nào rốt lại chẳng hư ảo?.

Nghe Lâm Nhật Tiến trình bày bài hát của Trúc Hồ





20/05/2021

ôn từ vựng 1.

Ôn các chữ Hán đã học trong 7 bài vừa qua

1. 映 ánh [yìng] = chiếu sáng; phản chiếu; che, ẩn giấu. Chữ hình thanh, bộ nhật 日 (mặt trời) chỉ ý + ương 央 (giữa) chỉ âm đọc.
Phản ánh 反映 phản chiếu; báo lên cho cấp trên. Nay thường dùng (sai) chữ phản ảnh để chỉ nghĩa này. 

2. 音 âm [yīn] = tiếng, giọng. Chữ hội ý: nói 曰 (viết)  thì tạo ra 立 (lập = thành lập) âm thanh.
Khẩu âm = giọng riêng của một địa phương, như thổ âm. Hồi âm = trả lời thư. Đồng mâ dị tự = âm đọc giống nhau nhưng chữ khác nhau.

3. 不 bất [bù] = không. Nét ngang 一 là hình mặt đất, dưới là mầm cây vừa bén rễ nhưng chưa nhú lên khỏi mặt đất. Nghĩa gốc là mầm, phôi thai. Về sau mượn (giả tá) làm phó từ, có nghĩa là không. Còn nghĩa mầm thì đặt chữ mới: phôi 肧.
Bất nhất 不一 không như nhau. Bất nhị 不二 không hai (lòng), không làm lại lần hai. Bất lực 不力 không có sức, không làm được. Bán thân bất toại = nửa người không cử động được như ý muốn, tức liệt nửa người. Bất khả kháng = không thể chống lại được, không thể làm khác. Bất nhân 不仁 = không có lòng thương người (nhân này khác với nhân người, đồng âm dị tự)

4. 丙 bính [bĭng] = can bính. Chữ tượng hình, nghĩa gốc là cái đuôi cá, được mượn (giả tá) để chỉ can bính. Theo lí thuyết ngũ hành, bính thuộc hành hỏa, nên bính cũng có nghĩa là lửa. Trong dạng chữ khải, 丙 trông giống hình ngọn lửa trong lò 內 bốc lên trần 一.

5. 貝 [贝] bối [bèi] = vỏ sò; tiền. Hình cái vỏ sò. Xưa vỏ sò dùng làm tiền, nên bối còn có nghĩa là tiền, rộng ra là vật quí như trong bảo bối = vật quí báu. 

6. 更 canh [gēng] = sửa đổi. Gồm trên là chữ bính 丙 (can bính) chỉ âm đọc, dưới là hình tay cầm roi chỉ ý (dùng roi để trị, khiến người dưới sửa đổi).
Canh tân = đổi mới. Canh cải = sửa đổi. 

7. 竟 cánh [jìng] = xong, trọn; rốt cuộc; kết quả. Vốn trên là hình cây dao (tân 辛) + dưới là hình người 儿 (tức nhân 人). Hội ý: đã khắc dấu lên người nô lệ xong. Nghĩa gốc là hoàn tất. Nhưng về sau chữ tân 辛 bị viết nhầm thành âm 音, và được Thuyết văn giải tự giảng là "khúc nhạc tấu xong thì gọi là cánh".
Cánh dạ = suốt đêm. Cứu cánh: kết quả (một số người dùng nhầm cứu cánh với cứu trợ. Trong chữ Hán hai chữ cứu này viết khác nhau).

8. 針 (针) châm [zhēn] = cây kim. Chữ hội ý, gồm kim 金 chỉ ý (cây kim thường làm bằng kim loại) + hình cây kim, viết thành thập 十 (mười). 

9. 之 chi [zhī] = của. Vốn là hình bàn chân + vạch xuất phát. Nghĩa gốc là đến. Như: Tự thiểu chi đa = từ ít đến nhiều. Thường dùng làm hư từ, có nhiều nghĩa trong đó nghĩa hay gặp là của.
A 之 B = B của A. Dân chi phụ mẫu = cha mẹ của dân. Tỉnh để chi oa = ếch ở đáy giếng.

10. 志 chí [zhì] = ý hướng. Vốn là chữ hình thanh, gồm tâm 心 (lòng) chỉ ý + chi 之 làm thanh bàng chỉ âm đọc, nhưng sau bị viết nhầm thành sĩ 士. 
Chí sĩ 志士 = người có chí hướng cao xa. Địa chí = sách ghi chép dân phong, sản vật, địa thế một địa phương.

11. 隻 (只) chích [zhì] = chiếc, con, cái (từ dùng làm đơn vị đếm). Giản thể là chữ chỉ 只 [zhǐ] là hình làn hơi 八 thoát ra từ miệng 口 , vốn là một ngữ khí từ biểu thị sự cảm thán, cũng được dùng làm phó từ với nghĩa là chỉ có. 

12. 止 chỉ [zhǐ]  = dừng lại. Vốn là hình cái chân, và đó cũng là nghĩa gốc; thường dùng với nghĩa mở rộng "dừng chân, ngưng". 
Chỉ bộ = dừng chân. Chỉ huyết = cầm máu. Chỉ khát = giải khát. Đình chỉ = ngừng lại, không làm nữa.

13. 舟 chu [zhōu] = chiếc thuyền. Cũng đọc là châu. Vốn là hình chiếc thuyền. 

14. 周 chu [zhōu] = khắp; vòng quanh; cấp cho. Vốn là hình các thửa ruộng đầy lúa. Nghĩa gốc là khắp nơi. Họ Chu cũng dùng chữ chu này. 

15. 隹 chuy [zhuì] = tên gọi chung giống chim đuôi ngắn. Vốn là hình con chim đuôi ngắn.

16. 舉 (举) cử [jǔ] = đưa lên. Cũng viết 擧. Gồm trên là chữ dữ 與 (cho) chỉ âm đọc, dưới là chữ thủ 扌 (hay 手 = tay ) chỉ ý (dùng tay đưa lên).
Cử binh = phát binh, tiến quân. Cử bộ = cất bước. Cử hành = bắt đầu làm. Cử nhân 舉人 = đời Hán, không thi, người được tiến cử ra làm quan thì gọi là cử nhân; về sau cử nhân để chỉ học vị trên tú tài, dưới tiến sĩ.

17. 聿 duật [yù] = bèn. Hình tay cầm cây bút, nghĩa gốc là cây bút. 

18. 與 dữ [yú] = trao cho; và. Hình hai bàn tay cầm một vật trao cho hai bàn tay ở dưới nhận lấy. Nghĩa gốc là trao tặng; cũng dùng làm liên từ, có nghĩa và.
Tặng dữ = cho, biếu. Ngã dữ nhĩ = tôi và anh; sơn dữ thủy = núi cùng sông.

19. 大 đại [dà] = to. Vẽ hình người dang hai tay để biểu thị ý to, lớn.
Chánh đại = ngay thẳng, công bằng.Chung thân đại sự = việc lớn quan hệ cả đời, chỉ việc hôn nhân. Đại đảm = to gan, cả gan. Đại địa = khắp mặt đất.

20. 刀 đao [dào] = cây dao. Vốn là hình cây dao. Khi tham gia tạo chữ mới có khi được viết dưới dạng 刂.
Đao binh = binh khí; chiến tranh. Đao phủ = dao và búa, chỉ người giết trâu bò, thợ mộc. Đao phủ thủ = người giữ việc chém tội nhân. 

21. 頭 (头) đầu [tóu] = cái đầu. Chữ hình thanh, gồm hiệt 頁 (hình cái đầu) chỉ ý + đậu 豆 (cây đậu) chỉ âm đọc. Thạch đầu 石頭 hòn đá. Xuất đầu = ló đầu ra.

22. 豆 đậu [dōu] = hạt đậu. Hình bát gỗ đựng đồ cúng. Nghĩa gốc là cái bát gỗ đựng đồ cúng. 

23. 雕 điêu [diāo] = chim diều hâu; khắc chạm. Gồm chuy 隹 (chim) chỉ ý (diều hâu là một loài chim) + chu 周 (chung quanh) chỉ âm đọc. Cũng viết 鵰 (chu + điểu). 雕 điêu thuộc loại chữ hình thanh. 

24. 鳥 (鸟) điểu  [diǎo] = chim. Vẽ hình con chim. Ở thời kì đầu (dạng giáp cốt văn) hình chữ khá giống con chim. Theo thời gian, các nét vẽ được kí hiệu hóa, giờ nhìn không mấy giống nữa. 

25. 丁 đinh [dīng] = can đinh; trai tráng. Hình cái đinh, nghĩa gốc là cái đinh (về sau viết là 釘). Cũng dùng chỉ người con trai đã trưởng thành. Lại mượn (giả tá) chỉ can đinh.

人丁 Nhân đinh = trai thành niên, xưa là đối tượng tính thuế (thuế đinh). Bạch đinh = chỉ người thuộc giới bình dân. 

26. 讀 (读) độc [dú] = đọc. Chữ hội ý, gồm bộ ngôn 言 (nói) + mại 賣 (bán), nghĩa gốc là rao to để bán hàng. Thuyết Văn thì cho là chữ hài thanh, với thanh bàng là mại 賣 (bán). 

Độc giả = người đọc (chú ý không viết đọc giả). Độc thư = đọc sách, học.

27. 含 hàm [hán] = ngậm. Vốn viết 今 (hình miệng ngậm một vật), bị mượn (làm chữ kim 今 nay), nên thêm bộ khẩu 口 (miệng) đặt chữ mới.

Bao hàm 包含 = bao gồm. Hàm tiếu = cười nụ. Công hàm = văn thư chính thức trao đổi giữa hai nước.

28. 行 hành [háng] = đi. Hình vẽ một ngã tư, chỉ đường đi; mở rộng thành nghĩa đi. 

Thủy hành 水行 đi đường sông. Phi hành 飛行 đi bằng đường không. Hành nhân 行人 người đi đường. Chữ hành 行 (đi) chia đôi, nửa trước là 彳 xích [chì] = bước chân (trái). Đây là một bộ thủ, tục gọi bộ nhân kép, biểu thị ý đi lại. (nửa sau là xúc 亍 [chù], là bước chân phải). 

29. 爻 hào [yáo] = hào, vạch. Trong Dịch, vạch liền 一 gọi là hào dương, vạch đứt - - gọi hào âm. Ba hào kết hợp lại thành một quẻ (quái), có tất cả 8 kết hợp như thế, nên có 8 quẻ là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, li, khôn, đoài. 

Cờ Hàn Quốc: giữa là hình lưỡng nghi, quanh là bốn quẻ: càn, khảm, khôn, li.

Cờ VN thời chính phủ Trần Trọng Kim là cờ quẻ li, gồm ba gạch; hai bên là gạch liền, giữa gạch đứt; chỉ phương nam. Cờ VNCH có ba vạch, nếu coi là một quẻ, là đó là quẻ càn.

30. 火 hỏa [huǒ] = lửa. Hình ngọn lửa. Biến thể: 灬 (gọi là bốn chấm hỏa).

Cứu hỏa = chữa cháy. Hỏa tiển = tên lửa. Hỏa tốc = khẩn cấp. Hỏa dược = thuốc súng.

31. 學 (学) học [xué] = học. Ban đầu là hình nhà 冖 , trên là chữ hào 爻 chỉ âm đọc, nghĩa gốc là lớp học. Sau thêm tử 子 (đứa trẻ) chỉ người học + 𦥑 (là hình hai bàn tay) biểu đạt ý cùng nhau đến học hoặc sự dẫn dắt.

32. 后 hậu [hòu] = vợ vua. Hình ngược của chữ ti 司. Nghĩa gốc là cai trị, nghĩa mở rộng là vua (người cai trị); về sau chủ yếu dùng với nghĩa vợ vua. 后 cũng được mượn làm giản thể của hậu 後 sau. 

Hậu thổ 后土 thần đất. 

33. 後 (后) hậu [hòu] = sau. Bộ xích 彳 biểu thị ý đi lại + yêu 幺 (yếu)+  tuy 夊 (hình bàn chân): bước chân yếu đuối nên đi chậm, trễ; sau.
Hậu nhân 後人 người đời sau. Hậu cần = công tác phía sau để cung ứng cho tiền tuyến. Tối hậu = sau cùng. Giản thể là mượn chữ hậu 后 trong hoàng hậu.

35. 有 hữu [yǒu] = có. Hình bàn tay (viết thành 𠂇) cầm miếng thịt ⺼ (tức nhục 肉), ý là có [thịt].

Phú hữu = giàu có. Cố hữu = vốn có, có sẵn từ trước (chú ý cố hữu còn có nghĩa là bạn cũ, ở đây hữu = bạn, chữ Hán viết khác, đừng nhầm).

36. 又 hựu [yòu] = lại, lần nữa. Vốn là hình bàn tay phải, nghĩa gốc là tay (phải). Bị mượn dùng với nghĩa "lại, lần nữa". Tuy nhiên chú ý rằng, khi tham gia tạo chữ, 又 thường góp vào cái nghĩa gốc (bàn tay) này.

37. 起 khỉ [qǐ] = dậy, bắt đầu. Cũng đọc khởi. Chữ hình thanh, gồm bộ tẩu 走 (chạy) chỉ ý + kỉ 己 (mình) chỉ âm đọc. 

38. 犬 khuyển [quăn] = con chó. Kết hợp với chữ khác tạo chữ mới, có khi viết (biến thể): 犭. Chữ tượng hình con chó, giáp cốt văn vẽ khá giống, đến nỗi Khổng Tử phải khen: Nhìn chữ khuyển sao mà giống như vẽ con chó vậy “視犬之字如畫狗也” (thị khuyển chi tự như họa cẩu dã). Nay ở dạng chữ khải thì 犬 trông giống người  大 bị chó đuổi chạy toát mồ hôi hột hơn.

39. 己 kỉ [jǐ] = mình. Hình sợi dây thắt nút, xưa dùng ghi nhớ công việc. Nghĩa gốc là đầu mối, sau mượn chỉ bản thân mình (hình chữ rất giống hình người ngồi co tay co chân vào mình). Tri kỉ = biết mình. Vị kỉ = chỉ vì mình.  

40. 今 kim [jīn] = hiện nay. Hình miệng ngậm vật gì, nghĩa gốc là ngậm. Bị mượn dùng với nghĩa hiện nay, bây giờ. (Còn nghĩa ngậm thì đặt chữ mới).

今人 người đời nay. 今日, 今天 hôm nay.

41. 金 (钅) kim [jīn] = phiếm chỉ kim loại; vàng; màu vàng. Chữ hình thanh, gồm kim 今 ( = nay, viết thành 亼) chỉ âm đọc + vương 王 (nét ngang trên viết nhập chung với 亼) là hình cái búa [dùng khai thác mỏ] + hai mẫu kim loại (biểu thị bằng hai chấm).

Kim ngư 金魚 = cá vàng. Kim ngôn 金言 = lời vàng. Kim tự tháp = tháp hình chữ kim 金.

42. 立 lập [lì] = đứng; tạo lập. Vốn là hình người đứng thẳng.

Độc lập = đứng một mình, không bị lệ thuộc. Công lập 公立do nhà nước tạo ra, làm của chung. Lập phương = khối vuông.

43. 兩 lưỡng [liǎng] = hai, cặp. Cũng viết 两. Hình cái ách trên cỗ xe song mã xưa.

44. 麻 ma [má] = cây đay. Hình những cây đay 林 phơi dưới hiên nhà 广.

45. 磨 ma [mó] = mài. Chữ hình thanh, gồm bộ thạch 石 (đá) chỉ ý nghĩa (mài thì phải dùng đá mài) + ma 麻 (cây đay) chỉ âm đọc.
Ma đao 磨刀 = mài dao. 

46. 買 [买] mãi [mǎi] = mua. Chữ hội ý, trên là võng 罒 (lưới), chỉ ý thu vào, dưới là bối 貝 (vật quý): thu vào vật có giá trị, là mãi (mua). Giản thể là dựa theo thảo thư, có từ đời Hán.

47. 賣 [卖] mại [mài] = bán. Chữ hội ý, trên vốn là chữ xuất 出 (ra) + dưới là mãi 買 (mua): mua vào rồi xuất ra = bán. Chữ xuất 出 về sau bị viết nhầm thành sĩ 士 (học trò), chẳng liên quan gì. Chữ này thuộc bộ bối 貝 (tiền).

Hai chữ mãi (dấu ngã, mua) và mại (dấu nặng, bán) thường bị dùng nhầm, vd dùng gái mãi dâm để chỉ các cô gái bán dâm là không đúng. Các biện pháp của nhà sản xuất như giảm giá, tặng quà để khuyến khích người mua hàng cũng bị gọi sai là khuyến mãi thay vì khuyến mại.

48. 戊 mậu [wù] = can mậu. Hình một loại binh khí xưa, mượn (giả tá) chỉ can thứ 5 trong thập can.

49. 木 môc [mù] = cây; gỗ. Giáp cốt văn là hình cái cây có đủ rễ, thân, cành.
Thảo mộc: cây cỏ. Mộc ỷ: ghế dựa bằng gỗ. Mộc tinh: sao Mộc.

50. 難 (难) nan [nán] = khó. Vốn là chữ hình thanh với thanh bàng là 𦰩 [hàn] + chuy 隹 (chim) chỉ ý; nghĩa gốc là tên một loài chim, về sau bị mượn (giả tá) dùng với nghĩa khó khăn, như trong gian nan = vất vả cực khổ, nan giải = khó gỡ; nguy nan = nguy hiểm và khó khăn. 

難 nan còn (chuyển chú) đọc nạn = tai họa, như trong đại nạn 大難 họa lớn; khốn nạn = nghèo khổ (hiện ở ta hiểu là tệ hại). Vấn nạn 問難 hỏi vặn, hỏi khó.

51. 广 nghiễm [yăn] = mái nhà. Vẽ hình mái nhà. Vốn chỉ là một bộ nét, dùng kết hợp với các chữ khác để tạo chữ mới; về sau được mượn để làm giản thể cho chữ quảng = rộng.

52. 午 ngọ [wŭ] = buổi trưa, khoảng thời gian 11 - 13 giờ; chi ngọ. Hình cái chày, nghĩa gốc là cái chày (xưa người Tàu dùng giã gạo hay giặt quần áo), bị mượn (giả tá) chỉ chi thứ 7 trong 12 chi.

Thượng ngọ 上午 = buổi sáng. Hạ ngọ 下午 = buổi chiều. Chánh ngọ 正午 = đúng giữa trưa. Ngọ nguyệt 午月 = tháng 5. Ngọ nhật 午日 = ngày 5/5 â.l. Ngọ môn 午門 = cửa chính hoàng thành xưa. Ngọ dạ 午夜 = nửa đêm.

53. 言 ngôn [yán] = nói. Hình cái miệng 口 với lưỡi thè dài. Nghĩa gốc là nói. Làm danh từ thì có nghĩa lời, tiếng.
Ngôn bất tận ý = nói ko hết ý (câu cuối thư thời xưa hay dùng). Loạn ngôn, sàm ngôn = lời nói bậy bạ. Cách ngôn = câu nói ngắn gọn, có thể dùng làm phép tắc noi theo.

54. 人 nhân [rén] = người. Hình người đứng thẳng. Khi kết hợp với chữ khác có khi viết 亻 hoặc 儿.

55. 日 nhật [rì, mì] = mặt trời; ngày. Hình mặt trời.
一日 Nhất nhật: một ngày; một hôm (một ngày trong quá khứ). Sinh nhật: ngày sinh.

56. 二 nhị = hai. Vẽ hai gạch, biểu thị số 2.

57. 然 nhiên [rán] Chữ hình thanh, gồm nhiên 肰 (có nghĩa là thịt 月 chó 犬) chỉ âm đọc + bộ hỏa 火 (lửa) chỉ ý: đốt lửa nướng thịt chó. Nghĩa gốc là nhen, đốt lửa; thường bị mượn dùng làm trợ từ, liên từ, có nghĩa nhưng mà; .. và nhiều nghĩa khác. (Còn chữ nhiên = đốt, nhen sau thường viết thêm bộ hỏa: 燃).
An nhiên = lòng yên tĩnh không vướng bận. Ngẫu nhiên = tình cờ mà xảy ra, không biết trước. Nhiên hậu = rồi sau, rồi mới. Cố nhiên = vốn như thế theo lẽ thường xưa nay. Quả nhiên = quả thực, đúng là.
Câu đố xưa (đố là chữ Hán gì):
Nghiêng nghiêng bóng nguyệt xế tà, Trên lầu chó sủa, canh gà điểm tư.

58. 肉 nhục [ròu] = thịt. Kết hợp với chữ khác để tạo chữ mới, có khi viết ⺼. Giáp cốt văn là hình miếng thịt sườn. 
Kê nhục = thịt gà. Cốt nhục = xương thịt. Quả nhục = phần cơm (nạc) của trái cây.

59. 士 sĩ [shì] = người có học. Hình cái lưỡi búa , nghĩa gốc là hình quan, biểu thị bằng cái búa; sau chỉ quan chức nói chung; mở rộng nghĩa chỉ kẻ sĩ, người có học, học trò. 

60. 雙 (双) song [shuàng] = đôi, cặp. Hình bàn tay 又 cầm một đôi chim 隹. Giản thể là hình đôi tay 又. Nếu chỉ cầm một con chim thì ta có chữ chích = chiếc.

61. 事 sự [shì] = sự việc. Hình bàn tay cầm công cụ làm việc. 

62. 心 tâm [xīn] = trái tim; tấm lòng. Vẽ hình quả tim. 
Nhân tâm = lòng người. Hoa tâm: nhụy hoa. Giang tâm: lòng sông. 

Liên quan đến chữ tâm 心, trong các cuộc đối đáp trai gái xưa, từng có người mượn hai câu Kiều để đố (câu thơ có chữ Hán gì): Đêm thu gió lọt song đào. Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời.

63. 走 tẩu [zǒu] = chạy. Hình người đang chạy. 

64. 辛 tân [xīn] = cay; tên can. Hình con dao dùng khắc dấu lên mặt kẻ phạm tội. Nghĩa gốc là tội phạm. 

65. 司 ti [sī] = quản lí; sở quan. Cũng đọc tư. Hình người đứng chỉ tay và cái miệng. Nghĩa gốc là chủ trì, chưởng quản. Mở rộng nghĩa, chỉ chức quan hay cơ quan.
Công ti = đoàn thể tổ chức kinh doanh. Âm ti = âm phủ. Tư lệnh = người chỉ huy quân sự của một đơn vị quân đội lớn (ở VN là cấp lữ đoàn trở lên).

66. 石 thạch [shí] = đá. Vẽ hình hòn đá nằm bên sườn núi. 

67. 成 thành [chéng] = xong. Chữ hình thanh, gồm mậu 戊 (một loại binh khí cổ) chỉ ý + đinh 丁 (can đinh) chỉ âm đọc; nghĩa gốc: đánh dẹp.
Thành nhân 成人 nên người. Lão thành = già đời, hiểu nhiều. Sinh thành = đẻ ra và nuôi lớn. Thập thành = mười phần, đầy đủ. 

68. 十 thập [shi] = số 10. Vốn vẽ gạch ngang chỉ nhất 一 (số 1), gạch đứng | chỉ thập (số 10), sau sợ nhầm số 1 nên đánh thêm một dấu ngang ở giữa.

69. 矢 thỉ [shĭ] = mũi tên. Tượng hình mũi tên.

Tang bồng hồ thỉ = cung bằng dâu, tên bằng cỏ bồng. Xưa bên Tàu khi sinh con trai thường lấy cung tên làm bằng gỗ dâu cỏ bồng bắn ra khắp bốn phương, với ước nguyện sau này lớn lên con sẽ ngang dọc bốn phương. 

70. 手 thủ [shǒu] = tay. Hình bàn tay. Cũng viết 扌 khi kết hợp với chữ khác để tạo chữ mới.

71. 書 (书) thư [shù] = sách; thư tín; viết. Chữ hội ý, gồm bộ viết 曰 (nói) + duật 聿 (bút): dùng bút ghi lại lời nói = sách.
Thư pháp = phép viết chữ. Thư sinh = người đọc sách, chỉ học trò. 

72. 前 tiền [qián] = trước. Vốn viết 歬, là hình bàn chân 止 trước mũi thuyền 舟, biểu thị ý "đằng trước". Về sau người ta thêm vào chữ đao 刂, lại viết chỉ 止 thành 䒑, chu 舟 thành 月 ; được chữ 前 để chỉ cái kéo. Nhưng sau đó không hiểu sao, 前 lại được dùng thay cho 歬 với nghĩa "đằng trước"; còn nghĩa "cái kéo" thì đặt chữ mới.

73. 剪 tiễn [jiǎn] = cái kéo. Vốn viết 前 (x. trên), bị mượn nên thêm chữ đao 刀 đặt chữ mới. Như vậy trong chữ tiễn 剪 kéo có chứa hai chữ đao.

74. 箭 tiễn [jiàn] = mũi tên. Gồm trúc 𥫗 tre chỉ ý (mũi tên xưa thường làm bằng tre) + tiền 前 chỉ âm đọc.

75. 便 tiện [biàn] = thuận lợi. Chữ hội ý: 便 = nhân 亻 người + canh 更 sửa đổi: Người biết sửa đổi thì dễ thích nghi, làm việc thuận lợi.

Bất tiện = không thuận. Tiện lợi = có lợi. Tùy tiện = tùy ý, tự tiện, không câu thúc. Đại tiện, tiểu tiện cũng là chữ tiện 便 này.

76. 知 tri [zī] = biết. Chữ hội ý, gồm bộ thỉ 矢 tên + khẩu 口 miệng: Hiểu biết sâu sắc điều gì thì nói ra được ngay, nhanh như tên bay.
Tri kỉ 知己 = biết mình. Cố tri = bạn cũ. Cáo tri = báo cho biết. 

77. 竹 trúc [zhú] = tre. Khi tham gia tạo chữ mới thì thường viết dưới dạng 𥫗. Vốn (giáp cốt văn, dạng chữ ban đầu) là hình hai lá tre. 

78. 足 túc [zú] = chân; đầy đủ. Chữ giáp cốt tượng hình cái chân.
Bất túc 不足 không đủ. Túc cầu = bóng đá. Sung túc = đầy đủ. 

79. 彗 tuệ [hùi] = cái chổi. Hình tay (viết thành 彐) cầm 2 cành cây nhỏ  丰 làm chổi.

80. 夊 tuy [suī] = đi chậm. Tượng hình bước chân. Tuy 夊 chỉ làm bộ nét, tham gia tạo chữ, không dùng riêng một mình trong câu.

81. 雪 (彐) tuyết [xuě] = tuyết. Vốn viết 䨮 (gồm bộ vũ 雨 chỉ ý + tuệ 彗 chỉ âm đọc. Về sau giản hóa thành 雪. Trong dạng này, tuyết 雪 có thể coi như một chữ hội ý: Tuyết 雪 là hạt mưa 雨 (vũ = mưa) mà tay (viết thành 彐) có thể nắm được. Giản thế vốn là hình bàn tay trong chữ gốc. 彐 cũng là một bộ thủ chữ Hán, bộ kệ.
Đại tuyết 大雪 tuyết rơi nhiều (tên một tiết trong 24 tiết của năm). Tuyết ý 雪衣 áo trắng. Chiêu tuyết 昭雪 làm rõ nỗi oan.

82. 子 tử (zi) = con; con trai; thầy (thêm sau họ để tôn xưng). Hình đứa bé mới sinh.
Thế tử = con trưởng của vua, chúa. Phụ tử = cha và con. Khổng tử, Mạnh tử = thầy Khổng, thầy Mạnh. Sĩ tử = anh học trò.

83. 央 ương [yāng] = ở giữa. Hình người gánh đồ 冂, người 大 ở giữa.
Trung ương 中央 ở giữa.  

84. 萬 (万) vạn [wàn] = vạn. Hình con bọ cạp, nghĩa gốc là con bọ cạp. Mượn (giả tá) chỉ số mười ngàn.
Nhất vạn 一萬 một vạn. Vạn nhất 萬一 một phần vạn; khó có. Vạn cổ 萬古 muôn đời xưa, xưa lắm.

85. 曰 viết [yuē] = nói. Hình cái lưỡi trong miệng. Chú ý phân biệt với chữ nhật 日 (mặt trời).
Tử viết 子曰 Thầy (chỉ Khổng Tử) nói rằng.

86. 网 võng [wăng] = Hình cái lưới, xưa dùng chỉ cái lưới, nay chỉ dùng làm bộ thủ, còn nghĩa cái lưới thì dùng chữ khác. Bộ võng 网 còn có biến thể thường gặp là 罒 

87. 雨 vũ [yŭ] = mưa. Hình những hạt mưa rơi từ bầu trời.
Xuân vũ 春雨 mưa xuân. Cam vũ 甘雨 mưa lành (cam = ngọt). Lôi vũ = mưa và sấm sét.

88. 王 vương [wáng] = vua. Hình cái lưỡi búa, tượng trưng uy quyền.
Vương thất = bà con họ nhà vua. Cần vương = hết lòng giúp vua;vua gặp nạn, dấy binh giúp vua.

89. 彳 xích [chì] = bước chân (trái). Đây là một bộ thủ, tục gọi bộ nhân kép, biểu thị ý đi lại.

90. 出 xuất [chū] = ra, ngược với nhập 入 (vào). Giáp cốt văn là hình một bàn chân bước ra khỏi cửa. Ở dạng chữ khải, trông giống hình cây non 屮 nhú ra khỏi hố trồng 凵.
Xuất sản 出產 sản xuất. Xuất khẩu 出口 mở miệng nói; đưa hàng hóa ra nước ngoài buôn bán. Xuất sắc 出色 giỏi vượt trội. 

91. 杵 xử [chǔ] = chày gỗ. Cũng đọc: chử. Vốn viết 午 tượng hình cái chày, bị mượn mất (làm chữ ngọ 午 , chỉ chi thứ 7 trong 12 chi), nên thêm bộ mộc 木 (gỗ) tạo chữ mới. (Thêm bộ mộc 木 vì xưa chày thường làm bằng gỗ - dù trong câu thành ngữ đang xét thì chày làm bằng sắt!). 

92. 幺 yêu [yāo] = nhỏ, yếu. Giáp cốt văn là hình búi tơ, biểu thị sự nhỏ, yếu.
Chơi tổ tôm, đánh chắn người ta gọi số 1 là yêu (vì là số nhỏ nhất).


18/05/2021

Thành ngữ chữ Hán - ôn 1

Hôm nay dành thì giờ ôn lại 7 câu thành ngữ đã học: 1. 一石二鳥 nhất thạch nhị điểu, 2. 一箭雙雕 nhất tiễn song điêu, và 3. 一舉兩便 nhất cử lưỡng tiện.

Ba câu, nghĩa tương tự, là một công đôi việc.

Học chữ Hán, thật ra không chỉ nhất cử lưỡng tiện, mà là tam, tứ .. tiện. Nhiều người cũng biết thế, cũng muốn học, nhưng lại ngại, thấy loại chữ khối vuông này có vẻ khó quá. Có hai cái thường được cho là khó khi học chữ Hán: khó viết, khó nhớ mặt chữ.

- khó viết: thật ra nhìn chữ Hán thấy rối rắm thế thôi, chung quy chỉ gồm 8 nét cơ bản - chấm, phết, ngang, sổ, .. và một số biến dạng của chúng. Và cũng có quy tắc có thứ tự trước sau hẳn hòi. Nên để viết đẹp thì khó, còn để viết đúng, người khác đọc được thì không khó. Nhất là ngày nay, trên Youtube có rất nhiều clip hướng dẫn tập viết các nét cơ bản, nhiều từ điển online có cả ảnh động (.gif) hướng dẫn cách viết từng chữ, tự học dễ dàng.

- khó nhớ: như trong một ghi chú ở bài trước, có ba cách chính để tạo ra chữ Hán: vẽ hình, ghép hình và mượn hình. Trong đó số lượng chữ loại ghép hình (chữ hội ý và chữ hình thanh) chiếm tỉ lệ rất lớn. Phần lớn chữ Hán đều do ghép từ hai hay nhiều chữ khác mà thành, trong đó có khoảng 200 chữ cơ bản (được gọi là bộ thủ) được sử dụng rất nhiều để ghép hình tạo chữ. Vì vậy thuộc được số chữ cơ bản này, hiểu được cấu tạo của chữ thì sẽ dễ nhớ mà lâu quên mặt chữ hơn, so với lối học thuộc lòng nguyên từng chữ thời xưa. 

Làm gì, học gì cũng vậy thôi, vạn sự khởi đầu nan 4. 萬事起頭難, quen rồi thì thấy cũng không quá khó. Có chí thì nên 5. 有志更成, có công mài sắt có ngày nên kim 6. 磨杵成針 . Người xưa không có cả dầu thắp đèn để học, phải nhờ ánh sáng phản chiếu của tuyết để học 7. 映雪讀書 vẫn có thể thành tài, ta nay có internet, có laptop, có smartphone .. học hành thuận lợi hơn nhiều, chỉ cần thêm chút ý chí là chắc chắn học được.

Bảy bài, nếu nhớ được hết, kể cả cấu tạo của chúng thì, trừ đi những chữ trùng lặp, cũng còn hơn 90 chữ. Chịu khó, chẳng bao lâu cũng sẽ học được 2000 ngàn chữ, là số chữ tối thiểu mà các nước Hàn, Nhật yêu cầu với học sinh phổ thông của họ; cũng là số chữ tối thiểu để được coi là xóa mù chữ ở Tàu ngày nay.

Thật ra chỉ cần có số vốn khoảng vài trăm chữ, bạn đã có thể đọc những bài tứ tuyệt 5, 7 chữ của Tàu, của ta .. Khéo chọn, mỗi bài chỉ có vài chữ chưa biết, tra tự điển để học dễ dàng. 

Trong bảy bài vừa qua cũng có một số ghi chú về một số thuật ngữ, xin tóm tắt lại, ai chưa đọc hay đã quên có thể nhớ lại, để dễ theo dõi các bài sau hơn.

- lục thư: 6 cách cấu tạo chữ Hán, gồm (1) tượng hình và (2) chỉ sự - là loại vẽ hình; (3) hội ý và (4) hình thanh, là loại chữ ghép hình. Trong chữ hình thanh, bộ phận chỉ nghĩa gọi là hình bàng, bộ phận chỉ âm đọc gọi là  thanh bàng. (xem thêm chú ở bài 2 nhất tiễn song điêu)

- thất thể: 7 dạng chữ Hán. Theo thứ tự thời gian có thể kể: Giáp cốt văn, Kim văn, triện thư, lệ thư, khải thư, thảo thư, hành thư. Trong đó khải thư (còn gọi chân thư, chính thư, ..) xuất hiện vào khoảng đầu Công nguyên, thời Đông Hán, vẫn được dùng phổ biến cho đến nay. Một số chữ khải ngoài dạng truyền thống còn có dạng đơn giản, gọi là giản thể (và khi đó, dạng truyền thống được gọi là phồn thể). Một số giản thể có từ xưa, nhưng phần lớn mới được tạo ra sau khi Mao lên nắm quyền. Có khoảng hai ngàn chữ có giản thể. Chữ giản thể được sử dụng ở Trung hoa lục địa, một số cộng đồng người Hoa ở các nước; còn Đài Loan, Hồng Kong, Ma Cao vẫn dùng dạng chữ truyền thống, phồn thể. (xem thêm: bài 3 - nhất cử lưỡng tiện)

- bộ thủ: Trong các từ điển chữ Hán người ta thường sắp xếp các chữ theo bộ và số nét. Có 214 bộ như thế. Mỗi chữ Hán chỉ thuộc một bộ, chữ đứng đầu mỗi bộ gọi là bộ thủ, các chữ thuộc bộ nào thì đều có chứa bộ thủ của bộ ấy. (xem thêm: - ma xử thành châm).

Hình: Dạng giáp cốt của các chữ thử = chuột, ngưu = trâu, hổ = cọp, thố = thỏ, long = rồng, xà = rắn, mã = ngựa, dương = dê, hầu = khỉ, kê = gà, cẩu = chó và trư = heo (mười hai con giáp)



(Hình: gmzm.org)