23/7/24

Vịnh liễu

 詠柳

碧玉妝成一樹高,萬條垂下綠絲絛。
不知細葉誰裁出,二月春風似剪刀。
賀知章

Âm

Bích ngọc trang thành nhất thụ cao,

Vạn điều thùy hạ lục ti thao.

Bất tri tế diệp thùy tài xuất,

Nhị nguyệt xuân phong tự tiễn đao.

Chú.

-          碧玉 ngọc biếc. Hình dung màu sắc cây liễu xanh như màu ngọc bích.

-          trang: 打扮 hóa trang, sắm vai. Liễu thường được ví như phụ nữ, chữ trang (trang điểm) dùng ở đây rất đắt.

-          () điều: cành nhỏ.

-          絲絛 ti thao: 絲帶 dải tơ. thao: dây đánh bằng tơ, dải tơ.

Nghĩa.

Ngọc xanh hóa trang thành cây liễu cao, muôn ngàn cành nhỏ rủ xuống như dải thao xanh.
Không biết những chiếc lá nhỏ do ai cắt thành. Gió xuân vào tháng hai giống như những cây dao. 

Tạm dịch

Ngọc biếc hóa thành cây liễu cao,

Muôn cành tơ rủ tựa dây thao.

Chẳng hay lá nhỏ ai người cắt,

Gió tháng hai như những lưỡi dao.

Giản thể

碧玉妆成一树高,万条垂下绿丝绦。
不知细叶谁裁出,二月春风似剪刀

賀知章 Hạ Tri Chương ( 659 - 744), nhà thơ, đồng thời là nhà thư pháp nổi tiếng thời Sơ Đường, cùng với Trương Húc, Trương Nhược Hư, Bao Dung được gọi là Ngô trung tứ sĩ (Bốn danh sĩ đất Ngô). Ông hơn Lí Bạch 40 t, làm bạn vong niên với Lí Bạch và rất được Lí bạch quý trọng. 

22/7/24

Xuân tuyết

 

春雪 

春雪滿空來,觸處似花開。
不知園裏樹,若箇是真梅。

東方虯

Âm

Xuân tuyết mãn không lai, Xúc xứ tự hoa khai.
Bất tri viên lý thụ, Nhược cá thị chân mai?

Nghĩa.

Đầu xuân bất ngờ tuyết rơi đầy trời, đậu trên cành cây trông như những bông hoa.
Nhìn cây trong vườn, phân vân không biết đâu mới thực là hoa mai.

Chú:

-          觸處 (触处)/chù chù/ : 处处;到处 xúc xứ: khắp nơi. xúc, tính từ: khắp. 觸處皆是 xúc xứ giai thị: đâu đâu cũng thế.

-          若個:哪個。Nhược cá: cái nào.

-          mai: cây mơ, đầu xuân nở hoa, có loại hoa trắng, có loại hoa đỏ. nở hết hoa rồi mới nẩy lá, quả chua, chín thì sắc vàng.

東方虯 Đông Phương Cầu nhà thơ thời Sơ Đường. Có bản ghi tác giả là 趙嘏 Triệu Hỗ, nhà thơ thời Vãn Đường. 

Tạm dịch

Xuân tuyết bay bời bời,
Như bông nở khắp nơi.
Nhìn trong vườn chẳng biết,
Đâu mới thực hoa mai.

Giản thể.

春雪满空来,触处似花开。不知园里树,若个是真梅

16/7/24

Đề minh tinh hậu diện nhất tuyệt

題銘旌後面一絕 

嗟我和娘是一人,
如何相合遽相分。
娘攜一半清香去,
留我癡狂一半身。

范阮攸

Âm

Ta ngã hoà nương thị nhất nhân, 

Như hà tương hợp cự tương phân.

Nương huề nhất bán thanh hương khứ,

Lưu ngã si cuồng nhất bán thân.

Nghĩa:  Bài tứ tuyệt đề sau minh tinh

Ôi! Ta với nàng là một người, cớ sao vừa hợp lại đã vội vàng chia tay nhau,
Nàng mang một nửa thơm tho trong trẻo đi mất, để lại ta một nửa thân si dại.

Tạm dịch

Ta với nàng như chỉ một thôi,
Ôi sao mới hợp đã tan rồi.
Nàng đi mang nửa hồn thơm thảo,
Để lại ta đây dại nửa người.

Chú

-          銘旌 minh tinh. Tấm vải hoặc giấy, viết họ tên chức hàm người chết. Ta thường gọi là cái triệu. Minh: khắc vào, ghi chép, Tinh: lá cờ nhỏ.

Phạm Nguyễn Du 范阮攸 (1740-1786), làm quan tới chức Đông các đại học sĩ thời Lê Cảnh Hưng. Năm 1786, quân Tây Sơn tiến ra Bắc, Phạm Nguyễn Du mộ quân chống lại, chưa được bao lâu thì bệnh mất.

Bài thơ trên đây trích trong tập Đoạn trường lục, có thể xem là cuốn nhật ký bằng thơ của tác giả, ghi lại những nỗi đau xót, nhớ nhung với người vợ vừa mới mất. Vợ ông là Nguyễn Thị Đoan Hương người cùng huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Hai người chung sống được 12 năm thì bà mất vì bệnh đậu mùa, lúc mới 28 tuổi. Ông bấy giờ 33.

Đọc câu cuối, không khỏi nhớ đến hai câu thơ của Hàn Mạc Tử:

Người đi, một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.

Giản thể

嗟我和娘是一人,如何相合遽相分。
娘携一半清香去,留我癡狂一半身

14/7/24

Thu giang tả vọng

秋江寫望 

蒼茫沙嘴鷺鷥眠,
片水無痕浸碧天。
最愛蘆花經雨後,
一蓬煙火飯漁船。

林逋

Âm

Thương mang sa chủy lộ tư miên,
Phiến thủy vô ngân tẩm bích thiên.
Tối ái lô hoa kinh vũ hậu,
Nhất bồng yên hỏa phạn ngư thuyền.

Nghĩa

Con cò nằm ngủ mỏm cát mênh mông, mặt nước không một gợn sóng phản chiếu bầu trời trong xanh. Thích nhất là hoa lau sau cơn mưa, và những làn khói bếp tỏa ra từ những chiếc thuyền đánh cá.

Tạm dịch

Mỏm cát mênh mông cò ngủ say,
Mặt sông phẳng lặng trải trời mây.
Yêu sao lau trắng sau mưa gội,
Làn khói phất phơ bếp lão chài.

Giản thể

苍茫沙嘴鹭鸶眠,片水无痕浸碧天。
最爱芦花经雨后,一蓬烟火饭渔船

Chú

寫望: miêu tả cảnh vật trước mắt.

蒼茫 mênh mông.

沙嘴沙灘 mỏm cát, cồn cát

鷺鷥:白鷺 cò trắng

--映照。浸: ngâm, nhúng, tưới, tẩy; ở đây có nghĩa là ánh chiếu.

 danh từ: cỏ bồng; tính từ: rối bong, bù xù, tán loạn.

Lâm Bô 林逋 (967-1028) tự Quân Phục 君復, ẩn cư ở Tây Hồ xứ Hàng Châu, nên còn có biệt hiệu là Tây Hồ xử sĩ. Ông trồng mai nuôi hạc, thường đùa là “lấy mai làm vợ, lấy hạc làm con” (dĩ mai vi thê, dĩ hạc vi tử), thường xướng họa với các danh sĩ như Phạm Trọng Yêm, Mai Nghiêu Thần, Cửu Tăng ...

5/7/24

Bất mị tuyệt cú

Tùng Thiện Vương

不寐絕句
淡茗殘香夜四更,
衰年見事易關情。
燈花豆人照無寐,
臥聽蝤蠐蝕木聲。
從善王

Âm
Đạm mính tàn hương dạ tứ canh, Suy niên kiến sự dị quan tình.
Đăng hoa đậu nhân chiếu vô mị, Ngoạ thính tù tề thực mộc thanh.

Nghĩa
Trà nhạt hương tàn, đêm sang canh tư.
Tuổi già gặp chuyện dễ xúc động
Hoa đèn như hình người bằng hạt đậu chiếu vào không ngủ được
Nằm nghe tiếng mọt gặm gỗ.

Tạm dịch. Đêm không ngủ
Canh bốn hương tàn trà lạnh tanh,
Tuổi già gặp chuyện nghĩ loanh quanh.
Đèn khuya hiu hắt nằm không ngủ,
Nghe mọt đục cây suốt mấy canh.
Giản thể.
淡茗残香夜四更,衰年见事易关情。
灯花豆人照无寐,臥听蝤蛴蚀木声
Chú
- 茗 mính /míng/ = nõn chè; chè. Bộ 艸 thảo. Chữ hình thanh, thanh: danh 名 tên. 香茗 trà thơm. 品茗 uống chè.
- 關情(关情) quan tình: 动心,牵动情怀động lòng, khơi dậy cảm xúc
- 蝤蠐 tù tề: mọt gỗ.
從善王 Tùng Thiện Vương (1819 - 1870), tên thật Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con thứ 10 của vua Minh Mạng.


28/6/24

Khiển hoài

 

遣懷  

落魄江湖載酒行楚腰纖細掌中輕
十年一覺楊州夢贏得青樓薄倖名杜牧                                       

Âm.

Lạc phách giang hồ tái tửu hành, Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh.
Thập niên nhất giác Dương Châu mộng, Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh.

Chú

- 遣懷 khiển hoài: cởi bỏ nỗi lòng, giãi bày tâm sự. khiển: giãi bày ( khiển còn có nghĩa: khiến cho). : nỗi lòng, cái mang trong bụng.

- 落魄江湖: thất thểu chốn giang hồ. 落魄 lạc phách: khốn đốn thất ý. 江湖 giang hồ, bản khác:“江南” Giang Nam, địa danh.

- 載酒行 tái tửu hànhsay đắm rượu chè. chở, mang.

- 楚腰 Sở yêu: chỉ người đẹp eo nhỏ. Xưa Sở Linh Vương rất thích phụ nữ eo thon, nên về sau phụ nữ có eo thon là Sở yêu.

- 纖細 tiêm tế = nhỏ nhắn xinh đẹp.

- 掌中輕: chưởng trung khinh: theo truyền thuyết, hoàng hậu của Hán Thành Đế là Triệu Phi Yến thân thể nhẹ nhàng, có thể đứng trên lòng bàn tay mà múa.

- 揚州夢 Dương Châu mộngtác giả từng ra vào ca lâu ở Dương Châu, nhớ lại như giấc mộng.

- doanh: thu được. Có bản ghi  佔” chiếm = lấy được.

- 青樓 thanh lâu = ở đây chỉ ca quán, kĩ viện.

- 薄倖 bạc hãnh: cũng như nói bạc tình.

Nghĩa:

Lưu lạc giang hồ chìm đắm trong rượu chè, gái đẹp (những cô gái eo thon mình hạc nhẹ nhàng như có thể đứng trên lòng bàn tay mà múa hát). Mười năm ở Dương Châu thoáng qua như cơn mộng, giờ chỉ mang thêm tiếng bạc tình ở chốn lầu xanh.

Tạm dịch:

Thất thểu sông hồ rượu suốt ngày,

Lưng ong vóc hạc lại càng say.

Dương Châu nhìn lại mười năm mộng,

Còn lại chăng danh "bạc hãnh" này.

Giản thể.

落魄江湖载酒行,楚腰纤细掌中轻。十年一觉杨州梦,赢得青楼薄倖名

26/6/24

Tặng biệt 2

贈別其二

多情卻似總無情唯覺樽前笑不成

蠟燭有心還惜別替人垂淚到天明   

杜牧                                     

Âm.

Đa tình khước tự tổng vô tình,

Duy giác tôn tiền tiếu bất thành.

Lạp chúc hữu tâm hoài tích biệt,

Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh.

Chú

- 卻似 khước tự: lại giống như.

- tôn: chén uống rượu.

- 笑不成 tiếu bất thành: cười không nổi.

- 蠟燭有心 lạp chúc hữu tâm: đèn sáp có tim (như người!)

- 惜別 tích biệt: tiếc thương nỗi biệt li.

- 替人 thế nhân: thay người.

- 垂淚 thùy lệ: rơi nước mắt. thùy: rơi, rớt; rủ.

Đây là bài thứ hai trong hai bài thơ “Tặng biệt” viết khi phải đổi về Trường An, chia tay một hồng nhan tri kỉ ở Dương Châu.

Nghĩa: Đa tình mà lại giống như vô tình, Chỉ cảm thấy trước chén rượu muốn cười mà không được. Ngọn nến có lòng thương tiếc lúc chia tay, Nên thay người nhỏ lệ đến tận sáng.

Tạm dịch

Đa tình lại giống kẻ vô tâm,

Nâng chén rượu cay dạ xót thầm.

Ngọn nến có lòng thương chia cách,

Thay người nhỏ lệ đến canh năm.