Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhạc phổ thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhạc phổ thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

7/5/26

Đưa em tìm động hoa vàng


Một bài thơ khác của Phạm Thiên Thư được Phạm Duy phổ nhạc trước đây một đứa bạn thân rất thích, thường lẩm nhẩm hát một mình khi hai đứa lang thang trên phố những hôm trời mưa lất phất: Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng. Nghe Duy Quang hát


6/4/24

Chuyện tình buồn - Phạm Văn Bình






nhà thơ Phạm Văn Bình (1939 - 2018)
Phạm Văn Bình sinh năm 1939 tại Đông Hà, Quảng Trị, nhưng quê gốc ở Truồi, Thừa Thiên. Từng học trung học ở Nguyễn Hoàng, ĐH Văn khoa Huế, rồi đi dạy ở Trường Trung học bán công Đông Hà. Sau đó bị động viên học Trường Bộ binh Thủ Đức, ra trường làm SQ Tâm lí chiến ở SĐ TQLC. Sau 4/1975 bị đi cải tạo 8 năm, tha về thì qua Mỹ, mất ở Cali 22/7/2018.

Trước 1975 làm thơ đăng lai rai trên các tạp chí ở Sài gòn. Nổi tiếng với bài thơ Chuyện tình buồn được Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Anh dặm trường mê mải
Đời chia hai nhánh sông.

Những thư tình ngây dại
Những vai mềm, môi ngoan
Những hẹn hò cuống quýt
Trên lối xưa thiên đàng
Thôi cũng đành chôn kín
Dưới đáy huyệt thời gian.

Ngày nhà em pháo nổ
Anh cuộn mình trong chăn
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn
Ngày nhà em pháo nổ
Tâm hồn anh nhuốm máu
Ôi nhát chém hư vô
Ôi nhát chém hư vô.

Năm năm rồi đi biệt
Anh chẳng về lối xưa
Sân giáo đường cỏ mọc
Gác chuông nằm chơ vơ
Chúa buồn trên thánh giá
Mắt nhạt nhoà mưa qua
Trên cánh buồm ký ức
Sóng thời gian lô xô.

Ngồi bâng khuâng nhớ biển
Bên bãi đời quạnh hiu
Anh mang hồn thuỷ thủ
Cùng năm tháng phiêu du.

Anh một đời rong ruổi
Em tay bế tay bồng
Chiều hắt hiu xóm đạo
Hồi chuông giáo đường vang.

Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Bao kỷ niệm chôn kín
Dường như đã lãng quên.

Năm năm rồi trở lại
Một màu tang ngút trời
Thương người em năm cũ
Đêm goá phụ bên song.

12 Tháng Anh Đi

Tháng Giêng xuôi quân ra xứ Huế
Cố đô hoang vu, gạch ngói điêu tàn
Bãi học sân trường chiều em vắng bóng
Tóc thề thơ ngây đã quấn vội khăn tang

Tháng Hai về trấn giữ ven đô
Chong mắt hỏa châu, ghì súng giữ cầu
Gió thoảng ngạt ngào về hơi rượu mạnh
Qua màn sương đêm, lơi lã ánh đèn màu !!!

Ba lô lên vai tới miền Tây đô
Quê hương em xanh, xanh rợp bóng dừa
Đêm ngủ bìa rừng thèm làn môi ấm
Ngọt trái sầu riêng vườn đã sang mùa

Bây giờ trời mây rủ nhau vào Hạ
Mẹ, em chắc bận, cùng đi lễ chùa
Chắp tay em nguyện cầu cho chiến sĩ
Góc bể chân trời, sáng nắng chiều mưa

Tháng Năm trở về theo vì sao biếc
Em dấu yêu chắc phượng thắm sân trường
Ngày xưa đó trao nhau tờ lưu bút
Bây giờ gói quà, phong thư ấp ủ yêu thương

Tháng Sáu, em ơi ! Anh vẫn miệt mài
Muốn về thăm em nhưng bận hành quân
Đừng khóc em yêu như ve sầu mùa Hạ
Xa thì xa nhưng vẫn không quên

Sang Thu mưa ngâu nước mù bay mau
Ô hay lòng ta sao bỗng rưng sầu
Tráng sĩ xưa hề vượt cầu xưa ấy
Đầu sông cuối sông làm sao thấy nhau?

Bây giờ còn đâu huyền thoại
Hằng Nga của em bé thơ
Tất cả bầu trờ thơ ấu
Ai làm tháng Tám cằn khô

Tháng Chín quân ta về Cửu Long
Trái vú sửa căng như mạch sống mẹ hiền
Anh đi cho đồng thêm xanh trái thêm ngọt
Chiến công này xin gởi tặng em!

Về Cà Mâu anh viết vội thơ
Nhớ quá em yêu! Ngày tháng đợi chờ
"Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội"
Anh lính áo rằn yêu em gái ngây thơ

Trờ đã lạnh rồi mùa Đông đan áo
Gởi ra chiến trường sưởi ấm hơi nhau
Anh biết mùa này rộn ràng áo cưới
Chuyện chúng mình, em nhé đợi năm sau

Hoa mai nở đầy, em đang chờ đợi
Mười hai tháng rồi dài ước mơ say
Nhớ má cho hồng, nhớ môi cho ngọt
Vui đón giao thừa tay ấm trong tay.

Bài này cũng đã được Phạm Duy phổ nhạc. Duy Quang ca



Do chính tác giả ca.

3/4/24

Góp Phần Dựng Tiểu Sử Nhà Thơ Phạm Văn Bình (1940-2018)

Hoàng Đằng

Chuyện Tình Buồn
Thơ: Phạm Văn Bình
Nhạc: Phạm Duy
Trình bày: Vũ Khanh



Góp Phần Dựng Tiểu Sử
NHÀ THƠ PHẠM VĂN BÌNH
(1940 – 2018)
Hoàng Đằng


Nhà thơ Phạm Văn Bình - người quê tôi – đã qua đời ngày 22/7/2018. Đông Hà – quê tôi – có nhiều người làm thơ. Mà không riêng gì quê tôi, trên cả nước Việt Nam, nơi nào cũng vậy; ViệtNam là “cường quốc thơ” mà!
Tôi không có may mắn và điều kiện đọc nhiều, nên không biết trong số người làm thơ ở quê tôi những ai có tác phẩm hay; chỉ biết anh Phạm Văn Bình từng nổi tiếng về thơ trong thập kỷ 1960 và thập kỷ 1970, đặc biệt, anh có 2 bài thơ được nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy phổ nhạc: Đó là bài “Chuyện Tình Buồn” và “Mười Hai Tháng Anh Đi”; và có lẽ với hai bài thơ này, anh sẽ lưu danh thiên cổ.
Sau này, sự nghiệp của anh đã có tác phẩm của anh làm chứng; còn cuộc đời của anh chắc sẽ ít người biết rõ. Vì vậy, là người đồng hương với anh, tôi muốn góp phần dựng lại tiểu sử của anh qua tìm hiểu những mảnh đời, chặng đời của anh mà người Đông Hà và một số thân nhân của anh biết kẻo rồi thời gian có thể xoá mất.


* Về năm sinh của Phạm Văn Bình
Võ Văn Cẩm – bạn đồng khoá 24/SQTB Thủ Đức với Phạm Văn Bình – cho biết là năm 1942; tờ Cáo Phó khi anh mất của gia đình bên Mỹ ghi 1939; một thân nhân của anh ở Việt Nam cho biết anh tuổi Canh Thìn (1940). Tôi nghĩ năm 1942 là năm khai lại để học hành; anh học ở nhiều nơi, nhiều trường cả bậc Tiểu Học lẫn bậc Trung Học: ở Huế, ở Đông Hà, ở Đà Nẵng, ở tỉnh lỵ Quảng Trị. Còn Cáo Phó ghi năm 1939 là do cách tính; anh mất năm nay (2018), thọ 79 tuổi; theo cách tính của phương Tây, anh phải sinh năm 1939, còn theo cách tính của người Việt Nam là năm 1940. Thế nên, theo tôi, Phạm Văn Bình sinh năm 1940 – tuổi Canh Thìn.


* Về quê quán và dòng dõi,
Phạm Văn Bình sinh ra ở Đông Hà; nhưng quê gốc Bát Sơn, Lương Điền, Thừa Thiên (nay là xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế).
Vào thập kỷ 1920, thuở thanh niên, thân phụ anh, cụ Phạm Tề, ra làm công nhân xây dựng cầu Quảng Trị, kết duyên với một thôn nữ làng Như Lệ (nay là thôn Như Lệ, xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị). Rồi ông bà ra lập nghiệp ở thị trấn Đông Hà, mở một quán cơm ở ga Đông Hà vào lúc mà tại Đông Hà, việc giao thương Bắc - Nam, việc giao thương miền Trung Việt Nam - Lào nhộn nhịp.
Trong thập kỷ 1930, cụ Phạm Tề kết hôn thêm với bà Hoàng thị Căn (1909 – 1984), còn có tên thường gọi là Hoàng thị Cháu, một thôn nữ làng Điếu Ngao (nay là phường 2 – TP. Đông Hà). Phạm Văn Bình là con bà Hoàng thị Căn.
Phạm Văn Bình có người anh đầu cùng cha khác mẹ – con của mẹ làng Như Lệ - tên Phạm Ga hoạt động cho Việt Minh, từng giữ chức chủ tịch Uỷ Ban Hành Chánh Kháng Chiến khu vực Đông Hà, rồi Chánh Văn Phòng Uỷ Ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh Quảng Trị. Khi kháng chiến chống Pháp bùng lên, Phạm Ga được điều động ra Việt Bắc và, sau đó, đã mất trên đường công tác ở tỉnh Cao Bằng. Phạm Văn Bình còn có người anh cùng mẹ cùng cha tên Phạm Vinh tập kết ra Bắc; Phạm Vinh học âm nhạc, chuyên ngành về đàn violon, trong chiến tranh, trở lại miền Nam, công tác ở đoàn Văn Công Quân Khu 5, hiện đã nghỉ hưu.
Ở chế độ miền Nam thời đó, ngoài bản thân là sĩ quan, Phạm Văn Bình còn có em trai cùng cha cùng mẹ tên Phạm Như Trị cũng là sĩ quan quân đội Cộng Hoà, nay định cư ở Mỹ theo diện HO.
Về bên ngoại – phía mẹ của Phạm Văn Bình - ở làng Điếu Ngao, các cậu các dì đều theo Việt Minh.
Dòng dõi của Phạm Văn Bình như thế đã góp phần tạo tứ thơ của anh.


* Về con đường đến với thơ của Phạm Văn Bình,
Phạm Văn Bình có năng khiếu và đam mê văn nghệ từ nhỏ. Tuy nhiên, điều đó chỉ bạn bè biết chứ “người ngoài” chưa biết.
Sau khi hoàn tất bậc Trung Học – có bằng Tú Tài II, Phạm Văn Bình về quê, dạy Việt Văn tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà từ 1963; anh đứng trên bục giảng từ 1963 đến 1966 – năm mà anh phải rời bụi phấn để thi hành lệnh động viên của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà. Trong thời gian dạy ở quê nhà, anh có cộng tác với Đài Truyền Thanh Quân đội ở Đông Hà và gởi thơ đăng ở báo Lập Trường.
Xin mở ngoặc để giới thiệu đôi nét về báo Lập Trường:
Phong trào Phật Giáo bùng lên chống chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm bị cáo buộc phân biệt đối xử tôn giáo bùng lên ở Huế từ tháng 5 năm 1963; phong trào được nhiều giới trong xã hội ủng hộ, trong đó có một số không nhỏ các giáo sư Đại Học Huế; sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ tháng 11 năm 1963, cả miền Nam lâm vào cảnh xáo trộn nhiều mặt, đặc biệt là về chính trị. Năm 1964, báo Lập Trường do một nhóm giáo sư Đại Học Huế chủ trương ra đời; ban điều hành báo gồm GS Tôn Thất Hanh, khoa trưởng Đại Học Khoa Học, làm chủ nhiệm, GS Lê Tuyên giảng dạy tại Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa làm chủ bút và GS Cao Huy Thuần giảng dạy ở Đại Học Luật Khoa làm thư ký toà soạn. Lập Trường là tuần báo Chính Trị - Văn Hoá – Xã Hội; báo bày tỏ thái độ chống đối chiến tranh, chống đối cách điều hành đất nước của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, chống đối sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam; Phạm Văn Bình gởi thơ vào và được đăng với tần suất khá dày; điều đó chứng tỏ tứ thơ của Phạm Văn Bình đã hoà nhập vào lập trường của báo; chủ bút chọn bài là GS Lê Tuyên - người có cách nhìn, cách lý giải mới các tác phẩm văn học cổ Việt Nam bằng cách đem triết học hiện sinh rọi vào. Nhờ báo Lập Trường, Phạm Văn Bình được giới thơ văn biết đến càng ngày càng nhiều. Thành thử, có thể trước đó Phạm Văn Bình đã có làm thơ, nhưng chính báo Lập Trường đã nâng cánh cho thơ của anh.
Nhờ vai trò cộng tác viên đài Truyền Thanh Quân Đội Đông Hà và tiếng tăm về thơ qua báo Lập Trường, Phạm Văn Bình thi hành lệnh động viên, thụ huấn xong ở quân trường, được bổ nhiệm làm sĩ quan tâm lý chiến của sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến. Khi đã làm việc ở Sài Gòn, Phạm Văn Bình có cơ hội quen biết với giới văn nghệ sĩ, thơ anh xuất hiện trên các tạp chí, được đánh giá cao, được Phạm Duy chọn phổ nhạc; nhờ thế, anh có chân trên thi đàn.


* Người phụ nữ trong bài thơ “Chuyện Tình Buồn” là ai?
Trong văn học, tác giả ký tên T.T.KH của bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn” nổi tiếng hơn 80 năm qua vẫn còn là nghi án – giới nghiên cứu văn học đã đoán nhiều tên, nhưng chưa chắc chắn một tên nào. Từ đó, tôi lo tương lai có người muốn biết thật sự tên người phụ nữ trong bài thơ “Chuyện Tình Buồn” sẽ gặp khó khăn, trong khi hiện giờ bà con và người thân quen quê gốc Đông Hà thì biết rõ, nhưng không ai chịu lên tiếng hoặc không có điều kiện lên tiếng. Tôi xin phép lên tiếng thay.
Không biết mối tình giữa Phạm Văn Bình và người phụ nữ này chớm nở từ lúc nào, nhưng mối tình này vỡ lỡ giữa thập kỷ 1960:
Năm năm rồi không gặp,
Từ khi em lấy chồng,
Anh dặm trường mê mải,
Đời chia hai nhánh sông …
Phạm Văn Bình “dặm trường mê mải” từ năm 1966 – năm thi hành lệnh động viên vào lính.
Nhà Phạm Văn Bình và nhà người phụ nữ cùng ở trong con hẻm đường Phan Bội Châu thị trấn Đông Hà. Người phụ nữ này có một người anh – bạn thân cùng trang lứa với Phạm Văn Bình. Qua lại giao du, thấy người phụ nữ này có nhan sắc, có học vấn (cô này không học ở Đông Hà mà học ở Trung Học Bán Công Huế), lại biết trang điểm, ăn diện bắt mắt, Phạm Văn Bình vừa ý, đem lòng yêu đương. Hai người yêu nhau; người Đông Hà thấy mối tình của họ “da diết” lắm, ngay cả Phạm Văn Bình cũng thổ lộ:
Những thư tình ngây dại,
Những vai mềm, môi ngoan,
Những hẹn hò cuống quýt …
Không ai ngờ mối tình ấy tan vỡ. Người trong cuộc bảo rằng do hai người khác biệt về tôn giáo: gia đình Phạm Văn Bình theo Phật Giáo, gia đình người phụ nữ này theo Thiên Chúa Giáo. Thôi, chúng ta cứ tin như vậy, chứ trên đời, không thiếu gì người khác tôn giáo kết hôn với nhau; về sống với nhau, hoặc vợ theo tôn giáo của chồng, hoặc chồng theo tôn giáo của vợ, hoặc, cùng lắm, mỗi người cứ giữ tôn giáo của mình.
Người phụ nữ này “sang ngang”, lấy một người chồng đồng đạo; ông chồng là sĩ quan quân y, trước đó, tốt nghiệp cán sự y tế, bị động viên vào quân đội; hai vợ chồng có 4 người con (?). Rủi! Ông chồng tử trận, Phạm Văn Bình viết trong thơ: “Anh một đời giong ruỗi; em tay bế tay bồng” là vậy.
Việc bất thành trong mối tình giữa Phạm Văn Bình và người phụ nữ này không biết do gia đình bên nào gây ra; nhưng trong thơ và trong đời thực, Phạm Văn Bình ôm nỗi đau cho riêng mình mà không một lời oán hận:
Ngày nhà em pháo nổ,
Anh cuộn mình trong chăn,
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn.
Ngày nhà em pháo nổ,
Tâm hồn anh nhuốm máu,
Ôi nhát chém hư vô,
Ôi nhát chém hư vô.
……………………
Năm năm rồi trở lại,
Một màu tang ngút trời,
THƯƠNG người em năm cũ,
THƯƠNG goá phụ bên song.
Và sau này, mỗi lần có dịp, Phạm Văn Bình vẫn ghé thăm gia đình người phụ nữ này. Ngay trong lễ tang Phạm Văn Bình vừa rồi, người bà con của Phạm Văn Bình cho tôi xem một bức ảnh chụp chung 3 người con của Phạm Văn Bình với một người con gái của người phụ nữ này. Tình của Phạm Văn Bình và người phụ nữ này đã vượt lên sự nhỏ nhen của hờn ghen để thăng hoa. Đẹp quá! Đúng là “đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ”.
Xin tiết lộ: Người phụ nữ này có tên là Nguyễn thị Tuý sinh năm 1945, nguyên là một cư dân Đông Hà, hiện giờ còn sống và định cư bên Mỹ.


* Về tạng người và lối sống,
Phạm Văn Bình có gien văn nghệ từ gia đình; như trên đã nói Phạm Văn Bình có ông anh ruột hoạt động trong lãnh vực âm nhạc.
Phạm Văn Bình không đua đòi theo thiên hạ về bề ngoài, anh thích ca hát vui chơi, không quan tâm đến của cải vật chất. Từ khi ra trại cải tạo cho đến khi đi Mỹ theo diện HO, thời gian dài cả 10 năm, thế mà không thấy anh làm gì để mưu sinh, trong khi những người gặp hoàn cảnh như anh phải làm bất cứ gì để giúp nuôi sống gia đình: xe thồ, xe kéo, bán nước chè, làm thuê … Anh rong chơi không phải với bạn bè cùng lứa - vì không có - mà với bạn bè ít tuổi hơn anh nhiều; anh gặp họ trong các quán cà phê, trong những tiệc cưới, ca hát vui nhộn cùng họ, nhiều khi quá chén, cũng say sưa.
Nghe nói anh uống cà phê không phải trả tiền theo lần mà có bao nhiêu trong túi anh giao cho chủ quán, hàng ngày anh tới uống khi nào chủ quán tính là số tiền hết thì báo cho anh biết.
Thời gian anh chuẩn bị đi Mỹ, nhiều phụ nữ muốn đem tình và tiền ra để “quá giang”, anh từ chối, chắc anh quá ngán ngẩm rồi!
Khi qua Mỹ, với tuổi đời ngấp nghé 55, anh cũng không chạy vạy kiếm công ăn việc làm như thiên hạ, anh sống với người con trai trưởng của anh trong sự bảo bọc của cả 3 đứa con và tiền trợ cấp của chính phủ Mỹ.
Xin mở ngoặc để nói đôi điều về gia đình anh. Sau khi mối tình với Nguyễn thị Tuý không thành, anh lập gia đình với một cô học trò trẻ, đẹp của anh tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà. Vợ chồng sinh được 3 con. Do hoàn cảnh nghiệt ngã sau năm 1975, vợ chồng cũng không sống với nhau trọn đời. Người vợ đem ba con qua Mỹ trước, anh qua sau, và được sự quan tâm chu đáo của cả ba con.
Phạm Văn Bình có lối sống và tạng người khác đời như thế, cộng thêm sống trong bầu không khí gia đình và đất nước mà thân thích kẻ Bắc người Nam, anh luôn mang tâm trạng buồn đau – buồn đau cho đất nước tang thương, cho tình người tan vỡ vì chiến tranh. Dù là một sĩ quan (cấp bậc cuối cùng đại uý) tâm lý chiến, thay vì kích động hận thù để tuyên truyền cho phe ta, chống phe địch, anh không làm thế; bằng chứng là trong bài thơ “Hành Trình Thuỷ Quân Lục Chiến” (tên khác: “Mười Hai Tháng Anh Đi”) - dài 58 câu - chỉ nói lên nỗi đau, niềm khắc khoải, tình yêu lỡ làng do chiến tranh mà người lính cảm nhận khi đi qua đất nước điêu tàn.
Sau thời gian dài khổ cực trong trại cải tạo, được trở về sống trong cộng đồng, nhà không, vợ nỏ có, anh cũng không một lời oán thán ai:
Trở về nhà cũ, nhà thay chủ.
Em đâu? – Đã bỏ chốn thiên đường.
Sang sông, em nỡ lên thuyền khác.
Thôi nhớ làm gì? “Chinh phụ ngâm” …
(Trích từ bài thơ “Đầu Xuân Khai Kiếm”)
Tóm lại, Phạm Văn Bình là nhà thơ nhân văn.
*
* *
Tôi viết bài này với ý nghĩa tích cực; tôi đã hỏi thông tin từ nhiều người: bà con của Phạm Văn Bình có, những người Đông Hà thân quen với Phạm Văn Bình có. Tôi đã đối chiếu, đánh giá thông tin từ nhiều nguồn, cố gắng để có những thông tin chân thật.
Hy vọng bài viết này sẽ làm cho Phạm Văn Bình vui nơi chín suối và góp phần hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về nhà thơ Phạm Văn Bình sau này.


Hoàng Đằng
30/7/2018 (18/6/Mậu Tuất)
Nguồn: fb Hoàng Đằng

1/8/23

Hoàng hạc lâu

 黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓
。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠
。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲
。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁
。
崔顥

Âm: 
Hoàng hạc lâu.
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Nghĩa:
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc.
Hạc vàng một đi không trở lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn bồng bềnh trên không.
Bóng cây Hán Dương trên mặt sông lúc trời tạnh rõ mồn một,
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.
Chiều xuống, quê nhà giờ nơi đâu?
Khói sóng trên sông khiến người thấy buồn bã.

Tạm dịch.

Chuyện xưa người cưỡi hạc vàng bay,
Còn lại lầu không ở chốn này.
Một thoáng hạc vàng không trở lại,
Ngàn năm mây trắng ngẩn ngơ hoài.
Hàng cây lấp loáng dòng sông lạnh,
Thảm cỏ xanh xanh bãi cát dài.
Chiều xuống quê nhà trông mịt mịt,
Trên sông khói sóng mắt cay cay.

---

Thôi Hiệu là nhà thời Thịnh Đường. Ông đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 11 (723), làm quan đến chức Thượng thư tư huân viên ngoại lang. Thời kì đầu ông thường làm thơ tình ái khuê phòng, sau chuyển qua làm thơ biên tái, phong cách thơ thay đổi mạnh mẽ, danh chấn đương thời. Toàn Đường thi chỉ sưu tầm lưu giữ được 42 bài thơ của ông, trong đó nổi tiếng nhất là bài Hoàng hạc lâu trên đây. Theo “Đường thi kí sự” thì Lí Bạch có lần đến lầu Hoàng Hạc chơi, đọc được bài thơ của Thôi Hiệu đề trên tường, thán phục, thốt lên. Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu: trước mắt có cảnh mà không làm thơ được, vì đã có Thôi Hiệu đề thơ ở trên rồi.

Bài thơ này cũng đã được đưa vào học trong chương trình Ngư văn bậc phổ thông ở nước ta. Bài thơ cũng được rất nhiều người dịch. Bản sau đây của Vũ Hoàng Chương. 

Xưa cánh hạc bay vút bóng người
Nay Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi
Trắng một mầu mây, vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống, đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

Bản dịch đã được Cung Tiến phổ nhạc. Quỳnh Giao trình bày: 
https://youtu.be/xdoGbFxWpBQ


25/2/23

Tình khúc 24

Nhà thơ, dịch giả Dương Tường - người từng chuyển ngữ tiểu thuyết "Lolita" của Vladimir Nabokov - qua đời lúc 20h08 ngày 24/2, thọ 91 tuổi.

Hồng Nhung trình bày Tình khúc 24 nhạc Phú Quang, lời phỏng thơ Dương Tường

24 phím cầm chiều
24 nhành sương mím
24 tiếng ve sầu đại lộ tháng tư
Gửi lại em
cầu thang 24 bậc
tờ thư 24 gác mưa
làn menuet 24 âm xưa
Gửi lại em
mùi hoa sữa 24 miền hoài niệm
ga khuya 24 lần đưa đón
bài huê tình 24 lối sân sau
Gửi lại em
doi sông 24 nhịp cầu
tình khúc bãi ngô 24
sương dâng 24 nẻo đi về
Nhâm nhâm 24 hàng đèn
mênh mênh 24 ngã tư mắt
Gửi lại em
chiêm bao 24 chợt hiện tan
cung đàn 24 lần đứt nối
vũng im đêm 24 mạy sao chìm
Gửi lại em
24 phố dài thơm
24 xêrênađ
24 vibratô
24 khung trời tím
24 lối công viên
24 vầng trăng goá
Gửi lại em
gửi lại em tất cả
kể cả con âm đầu trót thụ mầm thơ
Riêng đêm em xoà bóng nốt ruồi
24 quầng
anh giữ
1967

---

Dương Tường (1932 - 2023) tên thật Trần Dương Tường, là dịch giả nổi tiếng, đã dịch hơn 50 tác phẩm: Anna Karenina của Lev Tolstoy, Lolita của Vladimir Vladimirovich Nabokov, .. Ở tuổi 87 ông còn ra mắt bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Anh.

Ngoài dịch thuật ông còn làm thơ, viết phê bình văn học, .. 




5/1/23

từ chàng ra đi

 

Từ chàng ra đi, lưng khoác chiến y
Và hồn nương bóng quốc kỳ
Nàng ngừng con thoi, có khi nhớ chàng ...

Những ca từ này hẳn là lấy ý từ bài thơ của Trương Cửu Linh

自君之出矣,    自君之出矣,
不復理殘機。    不复理残机。
思君如滿月,    思君如满月,
夜夜減清輝。    夜夜减清辉。
張九齡。

Âm Hán Việt

Tự quân chi xuất hĩ,
bất phục lí tàn ki.
Tư quân như mãn nguyệt,
dạ dạ giảm thanh huy.

- 自 tự = từ khi
- 君 quân nghĩa quen thuộc là vua, nhưng ở đây là đại từ nhân xưng ngôi hai, dùng với ý kính trọng. Trong câu này chỉ người chồng của thiếu phụ.
- 之 chi, thường dùng làm giới từ, có nghĩa của, thuộc về. Nhưng ở đây là trợ từ, chỉ mang ý nhấn mạnh, chẳng có nghĩa gì. 
出 xuất = ra đi.
矣 hĩ = trợ từ đặt cuối câu, biểu đạt ý khẳng định.
不 bất = không
復 phục = trở lại, khôi phục.
理 lí = sửa sang, coi sóc
殘 tàn = hư hỏng
機 ki = khung cửi. Ta cũng thường đọc là cơ, như trong cơ khí, phi cơ ..
思 tư = nhớ nghĩ
如 như = giống
滿月mãn nguyệt = trăng rằm.
夜 夜 dạ dạ = đêm đêm
減 giảm = bớt
清輝 thanh huy = ánh sáng trong xanh.
Trương Cữu Linh người Khúc Giang (nay thuộc tỉnh Quảng Đông bên Tàu), cháu nhiều đời của Trương Lương thời Tây Hán. Ông giữ chức tể tướng dưới thời Đường Minh Hoàng, đồng thời là nhà văn nhà thơ có tiếng, được ca ngợi là “Lĩnh Nam đệ nhất nhân” (người số một đất Lĩnh Nam).

Nghĩa:
Từ khi chàng đi rồi, 
thiếp chẳng ngó lại khung cửi hư. 
Nhớ chàng, thiếp như trăng rằm; 
theo từng đêm mà mỏi mòn ánh sáng.  

Tạm dịch:

Từ lúc chàng đi vắng,
Khung thoi chẳng ngó ngàng.
Thiếp tựa trăng rằm sáng,
Đêm đêm mỏn ánh vàng
.




Madame Phương (1930), sơn dầu của Mai Trung Thứ
vừa được bán với giá 3.1 triệu usd hôm 18/4/2021


* post lần đầu: 21/4/21
repost: bổ sung bạn dịch.

21/12/22

Trong tay thánh nữ có đời tôi


Thơ Du Tử Lê, Hoàng Thanh Tâm phổ nhạc. Tuấn Anh ca



Trong tay thánh nữ có đời tôi là bài thơ nằm trong tập Ở chỗ nhân gian không thể hiểu của Du Tử Lê.

23/7/22

Cải mộ tình xa

nhạc Vĩnh Điện, 
lời: thơ Nguyễn Thị Thanh Bình.
trình bày: Bảo Yến



Nguyên văn bài thơ
Nguyễn Thị Thanh Bình
.
Đừng thay tình như thay áo em ơi
Không nhớ sao một phương trời mộng cũ
Tặng nhau chi những đoạn lìa ủ rũ
Dẫu chết rồi trái tim đập không nguôi

Đừng yêu rồi quên như đã yêu thương
Đừng nhắc chi dấu chân người trên cát
Để hồn anh sẽ lại từng võ ốc
Chiếc võ ốc cuốn lốc giữa đại dương

Trái tim giai nhân vốn nhiều hình bóng
Ngăn tim nào em dành trọn cho ai
Thì thôi em nhắc chi một chỗ ngồi
Cho quán hẹn công viên giờ buồn mãi

Nói chi em rằng ấp ủ mộ tình
Xin một lần mình cải mộ huyệt yêu
Đừng bắt ta say trong ly rượu rỗng
Đừng hát nữa khúc tình sầu hư không

Cải mộ tình xa một đời tha ma
Mộng vàng lang thang cải táng điệu buồn
Muốn chôn đi mà dòng lệ cứ tuôn
Hát câu tình phụ em vui hay buồn.

*
Đặng Trường Phát ca


5/6/22

Thu vàng Cung Tiến

Văn Cao viết tác phẩm đầu tay của mình, Buồn Tàn Thu, lúc mới 16 tuổi. Cung Tiến còn sớm hơn, viết tác phẩm đầu tay của mình lúc chỉ mới 14 tuổi, đang học lớp đệ lục (= lớp 7 bây giờ), và cũng là một ca khúc về mùa thu.

25/3/21

Bên kỉ niệm

Cõi nghìn trùng

Mai mốt em về, em về đâu?
Con sông nước chảy trắng chân cầu
Tiếng hát già nua người bạn cũ
Đêm dài muôn thuở buộc lòng nhau


Ngoài kia trời mưa buồn không em
Xa hỡi ngàn xa bóng nhạn chìm
Thương nhau ái ngại tìm đôi mắt
Chưa biết đêm nào thức trắng đêm


Mái tóc em bồng bềnh bể khơi
Áo mỏng vì em nằm đây nhớ đời
Chiêm bao nửa giấc trời mưa bụi
Thấp thoáng em về như lá rơi…

Hoàng Trúc Ly

Bài thơ đã được Trầm Tử Thiêng phổ nhạc, với nhan đề Bên kỉ niệm, nhưng trên mạng thấy nhiều nơi vẫn ghi nhan đề Cõi nghìn trùng. Nghe Hương Lan ca



Nguyễn Thị Thu Huyền (2002, Bắc Giang). Hình trên mạng.

14/10/20

mưa khuya

 Mình tôi thức với mưa đêm thật buồn.
Cảm ơn những trận mưa nguồn ...


Mưa khuya, nhạc Thiên Toàn phổ nhạc thơ Phạm Bá Nhơn. Bảo Yến trình bày.

Nguyên tác bài thơ của Phạm Bá Nhơn

Nửa khuya mưa trút từng cơn
Nằm nghe tiếng gió oán hờn trên cây
Nỗi buồn muôn kiếp về đây
Giữa lòng lá úa rụng đầy lối đi
Giọt mưa ướt đẫm đôi mi
Thấm tan thảm cỏ xanh rì bãi nương
Khuya mưa lạnh cả phố phường
Ngập chìm lối cũ trên đường em qua
Ta mơ thành giọt mưa sa
Hôn lên mái tóc, thơm tà áo bay
Mưa đang rớt xuống nơi này
Chảy tràn vạt đất tôi cày năm xưa
Thấm lòng giọt nước say sưa
Vỡ tan bong bóng lưa thưa bên thềm
Tôi nghe giữa trái tim mềm
Mình tôi thức với mưa đêm thật buồn
Cảm ơn những trận mưa nguồn
Để cho nỗi nhớ chảy tuôn vào hồn.





6/10/20

nếu có yêu tôi

 Nếu có yêu tôi là bài hát của Trần Duy Đức phổ nhạc bài thơ của Ngô Tịnh Yên, từng được giới thiệu trên blog này, ở đây, với tiếng hát Khánh hà trên sân khấu Paris By Night. 

Hôm nay mời nghe lại bài hát với Nam Khánh, trong chương trình Âm nhạc Việt Nam  Những chặng đường của VTV3. Clip cũng có phần phỏng vấn Trần Duy Đức, nhà thơ Ngô Tịnh Yên. 



8/9/20

Tình bỗng khói sương

Một ngày em đã xa tôi
Đường mây hướng gió xa xôi ngàn trùng
Quanh tôi là cõi thinh không
Tìm đâu lại áng mây hồng vụt bay

...

Tình Bỗng Khói Sương (thơ Phạm Ngọc, nhạc Phạm Anh Dũng) Bảo Yến hát, Quốc Dũng hòa âm. (video trên thvn 2005)


















sơn dầu alphonse jules debaene

9/6/20

Có phải em mùa thu Hà Nội


Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội là một trong những bài hát được biết đến nhiều nhất của Trần Quang Lộc (1949 - 2020). Bài hát sáng tác từ 1972, được Thái Thanh trình bày trong một số phòng trà, nhưng rồi sau đó ko thấy ai hát nữa. Nghe nói là bị cấm [1]. Mãi đến 1994 khi làm album Chợt Nghe Em Hát nhạc sĩ soạn hòa âm Đức Trí mới chọn đưa vào album. Và bài hát sống lại với tiếng hát Hồng Nhung



Lời bài hát được Trần Quang Lộc lấy từ bài thơ của bạn ông, Tô Như Châu (1934 - 2002), nhà thơ quê Đà Nẵng.

Nguyên tác bài thơ

Có phải em mùa thu Hà Nội

Tháng tám mùa thu
    lá khởi vàng em nhỉ
Từ độ người đi
    thương nhớ âm thầm

Chiều vào thu nghe lời ru gió
Nắng vàng lơ lửng ngoài hiên
Mắt nai đen mùa thu Hà Nội
Nghe lòng ấm lại tuổi phong sương

May mà có em cho đường phố vui
May còn chút em trang sức sông Hồng
Một sáng vào thu bềnh bồng hương cốm
Đường Cổ Ngư xưa bắt bước phiêu bồng

Thôi thì có em đời ta hy vọng
Thôi thì có em sương khói môi mềm
Có phải em mùa thu Hà Nội
Nghe đâu đây lá ướt và mi xanh
Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông Hát
Lững thững Hồ Tây một dáng Kiều
Có phải em mùa thu Hà Nội
Nghìn năm sau níu bóng quay về

Phải nơi đây miền Thanh, Nghệ Tĩnh
Phải nơi đây Hồng Lĩnh - Ba Vì
Phải nơi đây núi Nùng, sông Nhị
Lớn đậy con người đất Tổ Hùng Vương
Anh sẽ đi
Cả nước Việt Nam yêu dấu
Đẹp quê hương gặp lại tình người
Bước nhỏ long lanh hồn nghệ sĩ
Mơ Quang Trung vó ngựa biên thuỳ
Ngày anh đi
Nhất định phải có em
    đường cỏ thơm giong ruổi
Sẽ ghé lại Thăng Long
    thăm Hoàng Thành, Văn Miếu
    chắc rêu phong đã in dấu bao ngày

Đã nghe
    bập bùng trống trận
Ngày chiến thắng Điện Biên
Sáng hồn lửa thiêng
Xuôi quân về giữ quê hương
Hôm nay mùa thu
Gió về là lạ
Bỗng xôn xao con tim lời lá
Bỗng xôn xao rơi vàng tiếng gọi
Lệ mừng gặp nhau ngàn phím dương cầm

Có phải em mùa thu Hà Nội
Ngày sang thu lót lá em nằm
Bên trời xa sương tóc bay
Hà Nội ơi em có hay
Quê hương thần thoại hiển linh hồn sông núi
Nắng thu muôn màu rực rỡ trong hồn anh

Đà Nẵng, tháng 8-1970.


Bài thơ được Tô Như Châu sáng tác tháng 8/1970, khi ông quen với một cô gái Hà Nội. Cô đã đánh thức trong ông nỗi nhớ về Thăng Long, về những trang sử hào hùng của cha ông ..

Anh sẽ đi
Cả nước Việt Nam yêu dấu
Đẹp quê hương gặp lại tình người
Bước nhỏ long lanh hồn nghệ sĩ
Mơ Quang Trung vó ngựa biên thuỳ
Ngày anh đi
Nhất định phải có em
đường cỏ thơm giong ruổi
Sẽ ghé lại Thăng Long
thăm Hoàng Thành- Văn Miếu
chắc rêu phong đã in dấu bao ngày ..

Mơ thế, nhưng cho đến khi mất, hơn ba chục năm sau, ông vẫn chưa một lần được đặt chân đến Hà Nội.

Và bài thơ ông viết được người bạn phổ nhạc nổi tiếng như cồn, nhưng ông cũng chỉ được nghe nhờ từ băng cassette nhà ai vẳng ra, khi ông cưỡi xe đạp đi bỏ báo kiếm ăn qua ngày, dừng chân nghỉ dưới gốc cây bên đường ..

Bỏ báo đọc thơ nghe nhạc đã đời.
Cảm ơn em cảm ơn đời tử tế
Cảm ơn mùa thu lót lá em nằm.

oOo

ĐI BỎ BÁO
   NGHE THƠ PHỔ NHẠC

(tặng:Trần Trung Sáng)
Anh, con ngựa già chưa mỏi vó
Vẫn thênh thang bước nhẹ quanh đời
Đi, tung bờm tóc gió
Quẳng gánh hương xa lên tiềng gọi mời
Em, cầu vồng bao nhiêu sắc
tháng giêng hồng rất mỏng rất mênh mông
Mật ngữ nào âm thầm bao con chữ
Bỗng bồng bông bay bỗng bềnh bồng.
Không là gió không là mây là hiện hữu
là trần trần trụi trụi cõi nhân sinh
là hạnh phúc quán vỉa hè chút rượu
ngày hiền khô cùa gã bình minh
Nghe em hát mùa thu vàng rưc rỡ
Bỗng xôn xao nghiêng ngả đường chiều
Răng khểnh, soi hồ Gươm yêu dấu
Đà Nẵng tung hê một trời yêu
Có phải em Mùa thu Hà Nội
Mùa thu trong veo mùa thu tuyệt vời
Sống đẹp âm thầm và khát vọng
Bỏ báo đọc thơ nghe nhạc đã đời.
Cảm ơn em cảm ơn đời tử tế
Cảm ơn mùa thu lót lá em nằm.

oOo

Bài hát đến nya đã có nhiều ca sĩ khác tiếp tục chọn đưa bài hát vào các album của mình hay trình bày trong các show diễn: Lam Trường, Tuấn Ngọc, Thanh Lam, Ý Lan, Thu Phương … Mời nghe Thu Phương



------------
[1] Theo Tiền Phong online https://www.tienphong.vn/van-hoa/co-phai-em-mua-thu-ha-noi-tung-bi-lang-quen-hon-20-nam-1214516.tpo thì
"Nhạc sỹ Trần Quang Lộc đã chọn ca sỹ Thái Thanh- Một ca sỹ gốc Hà Nội để hát ca khúc này. Thái Thanh rất thích ca khúc này nên đã hát ở một số phòng trà. Tuy nhiên, khi chỉ vừa hát được 1 lần trên đài phát thanh Pháp-Á thì đột nhiên Thái Thanh ngừng không hát thêm lần nào nữa. Nhạc sỹ đi hỏi nguyên nhân thì được trả lời là "bị cấm". Đó là vào năm 1972."

Chắc tác giả bài báo ko biết Đài Pháp Á (của Pháp) này đã bị dẹp tiệm từ 1956.

7/6/20

Về đây nghe em

Nghe tin Trần Quang Lộc vừa mất chiều nay (7/6/2020) do K ở Bà Rịa, tìm nghe lại mấy bài hát của ông, thấy cái entry post từ 2/7/2015 này. Post lại, thay nén hương tiễn biệt ông.
------------------

Về đây nghe em
Về đây mặc áo the đi guốc mộc
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
..

Về Đây Nghe Em, một trong hai tác phẩm được biết nhiều nhất của Trần Quang Lộc, Nghe Elvis Phương trình bày


2/6/20

Mưa khuya


Cơn mưa nặng hạt từ sẫm tối, giờ đã tạnh. Ngồi mở máy gặp lại mấy hình cũ dọc đường gió bụi. Chợt nhớ năm ngoái, cũng vào giờ này, một mình nơi nơi xa và lạ. Trời mưa lất phất. Thật lạnh

khuya mưa lạnh cả phố phường
ngập chìm lối cũ trên đường em qua
ta mơ thành giọt mưa sa
hôn lên mái tóc, thơm tà áo bay

Đã khuya lắm, và mai phải dậy sớm lên tàu. Nhưng vẫn ko ngủ được. Đành ngồi buồn thiu nhìn những bóng nước nơi chậu hoa ngoài cửa sổ vỡ tan dưới ánh đèn đường hắt hiu

thấm lòng giọt nước say sưa
vỡ tan bong bóng lưa thưa bên thềm
tôi nghe giữa trái tim mềm
mình tôi thức với đêm mưa thật dài .. 

Nghe Bảo Yến ca cho vui. Mưa Khuya, nhạc Thiên Toàn, phổ thơ Phạm Bá Nhơn.



Nguyên tác bài thơ

Mưa khuya

Nửa khuya mưa trút từng cơn
Nằm nghe tiếng gió oán hờn trên cây
Nỗi buồn muôn kiếp về đây
Giữa lòng lá úa rụng đầy lối đi
Giọt mưa ướt đẫm đôi mi
Thấm tan thảm cỏ xanh rì bãi nương
Khuya mưa lạnh cả phố phường
Ngập chìm lối cũ trên đường em qua
Ta mơ thành giọt mưa sa
Hôn lên mái tóc, thơm tà áo bay
Mưa đang rớt xuống nơi này
Chảy tràn vạt đất tôi cày năm xưa
Thấm lòng giọt nước say sưa
Vỡ tan bong bóng lưa thưa bên thềm
Tôi nghe giữa trái tim mềm
Mình tôi thức với mưa đêm thật buồn
Cảm ơn những trận mưa nguồn

Để cho nỗi nhớ chảy tuôn vào hồn.

Nghe Hồng Vân ngâm thơ



16/12/19

Quê hương chùm khế ngọt

Coi lại, thấy link nhạc trong bài Quê hương chùm khế ngọt bị hỏng khá nhiều, ngồi sửa lại, và làm luôn playlist nghe cho tiện.

Trong playlist này có các bài hát phổ thơ Đỗ Trung Quân: bài Quê Hương của Giáp Văn Thạch, bài do Võ Tá Hân phổ nhạc, cũng lấy tên Quê Hương; và bài do Anh Bằng phổ nhạc, lấy tên Bài học đầu cho con, là tên gốc của bài thơ. Ngoài ra có một phiên bản tiếng nhật của bản Giáp Văn Thạch, nghe cho vui.

Ta cũng sẽ được nghe tác giả bài thơ đọc bài thơ của ông, trả lời RFA về nguồn gốc câu thơ cuối "sẽ không lớn nổi thành người". Sau đó nghe tiếp Hải Phượng hòa tấu đàn tranh với dàn nhạc ở Nhật, Trần Mạnh Tuấn chơi saxo, và Sáo Trần thổi sáo bản nhạc của Giáp Văn Thạch.





29/9/19

Thuyền say




THUYỀN SAY

Cứ tưởng thuyền anh không chở gió
Mà sao lòng chật những mênh mang
Hay em thà như con nước nhỏ
Dâng ngập thuyền anh ngập ánh trăng

Phẳng lặng quá cuộc đời cũng chán
Mấy ngàn năm ngồi đợi gió sang
Thì cứ thổi cho ngày địa chấn
Mang kẻ chán đời lại trần gian

Vẫn là anh khô gầy bóng dáng
Lếch thếch lang thang kẻ không nhà
Hành khất một khung trời dĩ vãng
Lặng lẽ đi về rợn thây ma

Ở đây có ngàn thông hoa lá
Có sông trôi cho ngấn nước nhoà
Có phù du nhắc hoài mây xoã
Có bến bờ đợi bóng thuyền qua

Anh đừng ngại rêu buồn trên đá
Gió trên thuyền khi đầy khi với
Chỉ hương ấy muôn đời phóng tỏa
Ủ mấy phương trời chẳng tả tơi

Em có lỡ mang thân sóng tới
Hãy niệm tình làm chiếc thuyền say
Đời biết bao lần còn đắp đổi
Biển rộng bao giờ gặp thuyền say?

Nguyễn Thị Thanh Bình.


Hoài niệ, sơn dầu của Ái Lan

25/9/19

Cõi tôi

Cõi đời đó, có chi đâu!



cõi tôi
gửi Nguyên Sa

cõi tôi, cõi nát, cõi tàn
cõi hoang mang, vội, cõi bàng hoàng, qua
cõi vui thân thể cỗi già
cõi lang thang mượn mái nhà hư, không
cõi xanh, cõi lạnh, cõi cùng
cõi con, muốn bỏ, cõi chồng, vợ, xa
cõi em muốn dạt chân về
cõi đau nhân thế, cõi thề thốt, quên
cõi nào, cõi thật ? tôi riêng ?
cõi đêm máu, chảy, cõi thương nhớ, trùng
cõi tôi, cõi mịt, cõi mùng
thôi em có ghé xin đừng nghỉ, lâu
cõi đời đó, có chi đâu!
(1-1977)

du tử lê

3/9/19

khi cuộc tình đã chết


Khi cuộc tình đã chết
Còn lời nào cho vui ..



Nghe nhan đề bài hát, lại nhớ câu trong kịch Hamlet của Shakespeare: Oh love, oh life. Not life, but love in death. Ôi tình yêu ôi cuộc sống. Ko. Ko phải cuộc sống, mà là tình yêu trong cõi chết. Ca từ bài hát trích trong bài thơ của Du Tử Lê có nhan đề Lúc người chết.

LÚC NGƯỜI CHẾT

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy bóng tối
một hồn đầy hương phai
một hồn đầy gió nổi

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy mắt đỏ
mưa nối liền vai người
buồn nối liền thân tôi
tình nối liền nỗi chết

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy bão rớt
một hồn đầy điên mê
một hồn đầy mộ địa

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy môi người
một hồn đầy tóc rối
một hồn đầy máu tươi
một hồn đầy tay siết
một hồn đầy ngực thơm
chân đưa lời cáo biệt

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy côn trùng
một hồn đầy tháp chuông
ngân nga lời báo tử.

hãy mang đi hồn tôi
khi cuộc tình đã chết
còn lời nào cho vui
còn mắt nào cho tủi

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy trái rụng
đời đã đời chia đôi
tình đã tình khốn nhục

trước khi người phải chết
nhớ một lần đêm nay
mưa đắp mềm vai người
buồn đắp mềm thân tôi
quanh ta đời đã lụn

(10-70)

Trước đó ông cũng có một bài thơ viết về cái chết

KHI NGƯỜI CHẾT TRẺ

Khi kẻ tử trận tuổi chưa ngoài hai mươi mốt
hắn sẽ mang những gì về thế giới bên kia
cây súng nặng hai tay cầm chẳng xuể
lựu đạn thừa không lẽ tặng mẹ cha
hạnh phúc chưa bao giờ bốc đầy vốc tay chim sẻ
tình yêu cũng không ngoài trí tưởng vu vơ

hắn tự hỏi bây giờ vì sao hắn chết
chân lý thường chỉ hiện một lần
ở phút lâm chung

hắn chợt nhớ thì ra mình còn quá trẻ
chết, khi không, chết chả làm gì
nhưng quá muộn đã ngang tầm vĩnh biệt
hơi thở cuối cùng là ân thưởng mang theo

hồn đã đi nhưng mắt còn ngoái lại
nhìn vết chân mình
lắm kẻ đang theo

1967
Du Tử Lê

Hơn nửa thế kỉ qua, ngồi đọc lại bài thơ, thấm hết nỗi buồn chiến tranh. chết, khi không, chết chả làm gì. Bên thắng cuộc hay bên thua cuộc cũng vậy thôi, những người chết, khi không, chết chả làm gì. Nỗi đau họ để lại cho người thân yêu cũng đã nguôi ngoai, còn chăng chỉ là một thoáng kí ức mong manh.
Những năm cuối 196x là những năm chiến tranh khốc liệt. Người thành phố lần đầu thấy xác chết nằm vương vãi trên đường phố, bên hè nhà, của cả hai bên. Và người ta bỗng dưng ngẫm ngợi nhiều về cuộc sống, về cái chết, về tình yêu, về thân phận ..
Khi kẻ tử trận tuổi chưa ngoài hai mươi mốt / hắn sẽ mang những gì về thế giới bên kia.
Ý thơ này sẽ được Du Tử Lê nhắc lại trong bài thơ Khúc Thụy Du viết một năm sau đó (1968), được Anh Bằng phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Nghe lại bài hát Khi cuộc tình đã chết qua tiếng hát Quỳnh Giao