22/9/26

Quán nhạc vàng

 Bài trên Quán nhạc vàng

 Sài Gòn xưa: những câu chuyện sau từng con đường, từng câu hát

■ Địa điểm ở Sài Gòn - Gia Định
Đồng Khánh (Bánh trung thu - Nhà hàng - Đại lộ): https://www.facebook.com/reel/1792535278409902
Lăng Ông - Tả quân Lê Văn Duyệt: https://www.facebook.com/reel/1600274831796013
Lê Thị Riêng (công viên): https://www.facebook.com/reel/1014011088221899
Mạc Đỉnh Chi (nghĩa trang): https://www.facebook.com/reel/1522106269356047
Sài Gòn Xe Hơi Công Ty - Diamond Plaza: https://www.facebook.com/reel/
1615644906868846
■ Nhân vật xưa
■ Lịch sử đường Sài Gòn
■ Đại phú hộ
Lầu chú Hỏa ở Long Hải: https://www.facebook.com/reel/1040587168894955
Huyện sỹ Lê Phát Đạt https://www.facebook.com/reel/1503356854374865
■ Những cây cầu ở Sài Gòn
■ Bản đồ Sài Gòn - Việt Nam
Lịch sử 11 Quận trước 1975: https://www.facebook.com/reel/1561077508693102
Lục tỉnh Nam Kỳ phần 2: https://www.facebook.com/reel/1695566021710352
Bản đồ miền Nam 1956 - Phần 1: https://www.facebook.com/reel/2465024977315885
Bản đồ miền Nam 1956 - Phần 2: https://www.facebook.com/reel/1580296983654671
Bản đồ miền Nam 1956 - Phần 3: https://www.facebook.com/reel/1044920458100600
Bản đồ miền Nam 1956 - Phần 4: https://www.facebook.com/reel/1034308652372217
Bản đồ miền Mam 1956 - Cao nguyên: https://www.facebook.com/reel/2230796811004398
Bản đồ Việt Nam 1975 phần 2: https://www.facebook.com/reel/2052285055388512
■ Nhạc Vàng, phân tích ý nghĩa bài hát, hoàn cảnh sáng tác:
Buồn trong kỷ niệm (Trúc Phương): https://www.facebook.com/reel/2219523512198760
Căn nhà màu tím (Hoài Linh) https://www.facebook.com/reel/1328071972003888
Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong): https://www.facebook.com/reel/1406727611315107
Cô láng giềng (Hoàng Quý): https://www.facebook.com/reel/1700798207793412
Chiều mưa biên giới (Nguyễn Văn Đông): https://www.facebook.com/reel/2097108301147009
Chuyện tình buồn (Phạm Duy Phạm Văn Bình): https://www.facebook.com/reel/2180993332634542
Chuyện tình cô lái đò bến Hạ (Hoàng Thi thơ): https://www.facebook.com/reel/1386589059957472
Dạ khúc cho tình nhân (Lê Uyên Phương): https://www.facebook.com/reel/2018188208804569
Đêm đông (Nguyễn Văn Thương): https://www.facebook.com/reel/36042325622081755
Để trả lời 1 câu hỏi (Trúc Phương): https://www.facebook.com/reel/37011546145110244
Đò dọc (Trầm Tử Thiêng): https://www.facebook.com/reel/2833981086963948
Đời đá vàng (Vũ Thành An): https://www.facebook.com/reel/1036336345743187
Đôi Mắt Người Sơn Tây (Phạm Đình Chương - Quang Dũng): https://www.facebook.com/reel/1402879518433415
Đưa em tìm động hoa vàng (Phạm Duy Phạm Thiên Thư): https://www.facebook.com/reel/2575055382914222
Đừng bỏ em một mình (Phạm Duy - Hoài Trinh) https://www.facebook.com/reel/1492169968538969
Đường xưa lối cũ (Hoàng Thi Thơ): https://www.facebook.com/reel/856437690843872
Giọt mưa thu (Đặng Thế Phong): https://www.facebook.com/reel/1057217786746418
Hai kỷ niệm 1 chuyến đi (Tuấn Khanh Hoài Linh): https://www.facebook.com/reel/3415857788585285
Hai năm tình lận đận (Phạm Duy Nguyễn Tất Nhiên): https://www.facebook.com/reel/2291473508321574
Hai vì sao lạc (Anh Việt Thu): https://www.facebook.com/reel/1744070790363576
Hàn Mặc Tử (Trần Thiện Thanh): https://www.facebook.com/reel/1719210012552367
Hoa trinh nữ (Trần Thiện Thanh): https://www.facebook.com/reel/26834980919508499
Hòn Vọng Phu (Lê Thương): https://www.facebook.com/reel/1773554900557746
Hòn Vọng Phu 2 (Lê Thương): https://www.facebook.com/reel/1388419076177521
Hòn Vọng Phu 3 (Lê Thương): https://www.facebook.com/reel/1710673753350088
Linh hồn tượng đá (Mai Bích Dung): https://www.facebook.com/reel/836956642539967
Lời đắng cho cuộc tình (Nhật Ngân): https://www.facebook.com/reel/1035181719056374
Mắt lệ cho người (Từ Công Phụng): https://www.facebook.com/reel/1183072154015254
Mộng Dưới Hoa (Phạm Đình Chương Đinh Hùng): https://www.facebook.com/reel/1054653734024236
Nắng Chiều (Lê Trọng Nguyễn): https://www.facebook.com/reel/3051487135052492
Ngày xưa Hoàng Thị (Phạm Duy Phạm Thiên Thư): https://www.facebook.com/reel/971065355529084
Nghìn trùng xa cách (Phạm Duy): https://www.facebook.com/reel/1322328396557782
Ngỏ hồn qua đêm (Hoàng Trang): https://www.facebook.com/reel/955391607534536
Nhớ người ra đi (Phạm Duy): https://www.facebook.com/reel/1503975320734623
Nỗi buồn gác trọ (Mạnh Phát Hoài Linh): https://www.facebook.com/reel/4347800435468924
Nỗi buồn hoa phượng (Thanh Sơn): https://www.facebook.com/reel/1011052877985312
Qua cơn mê (Trịnh Lâm Ngân): https://www.facebook.com/reel/1375781204367222
Thà như giọt mưa (Phạm Duy Nguyễn Tất Nhiên): https://www.facebook.com/reel/4413300062270496
Thằng Cuội (Lê Thương): https://www.facebook.com/reel/1363207109129551
Thói đời (Trúc Phương): https://www.facebook.com/reel/2150374835532107
Thu ca (Phạm Mạnh Cương): https://www.facebook.com/reel/1335949195290077
Thu hát cho người (Vũ Đức Sao Biển): https://www.facebook.com/reel/2272846510124014
Tiếng xưa (Dương Thiệu Tước): https://www.facebook.com/reel/1025357290251626
Tình nào trong mắt em (Ngân Giang): https://www.facebook.com/reel/1018435411149928
Trộm Nhìn Nhau (Trầm Tử Thiêng): https://www.facebook.com/reel/1729089351418267
Tưởng niệm (Trầm tử Thiêng): https://www.facebook.com/reel/1050006384153864
Xóm đêm (Phạm Đình Chương): https://www.facebook.com/reel/1572272174288443
Về đâu mái tóc người thương (Hoài Linh): https://www.facebook.com/reel/982295078050531
Về đây nghe em (Trần Quang Lộc A Khuê): https://www.facebook.com/reel/1313639850903228
Về quê ngoại (Hàn Châu): https://www.facebook.com/reel/1694233338486017
■ Nhạc vàng - cuộc đời và sự nghiệp:
■ Chuyện về nhạc
Chuyên đề Đà Lạt
Chuyện tình vua Bảo Đại ở Đà Lạt: https://www.facebook.com/reel/1014046921664923
Lycee Yersin (Cao đẳng Đà Lạt): https://www.facebook.com/reel/1415238063825195
■ Phiếm luận
Bài báo xưa về vua Bảo Đại: https://www.facebook.com/reel/1718127045922486
■ Thi ca

21/9/26

Hữu

 

Trong giáp cốt văn người ta dùng chữ 又 (hựu: tượng hình bàn tay phải) để ghi nghĩa nắm giữ, có. Về sau, 又 bị mượn (giả tá) dùng làm phó từ (lại, lần nữa), nên đến kim văn để ghi nghĩa có người ta thêm hình miếng thịt vào. Thời cổ, có được miếng thịt ăn là một sự kiện đáng dùng để biểu thị sự sở hữu.


Trong các thời kì tiếp theo, cấu trúc "tay cầm miếng thịt" hầu như không thay đổi. Miếng thịt 肉 (nhục) thời bấy giờ viết khá giống chữ 月 (nguyệt: trăng). Thời kì lệ biến, hình bàn tay được viết thành 𠂇, từ đó định hình nên chữ 有 6 nét trong khải thư như hiện nay.

Thuyết văn giải tự: 「有,不宜有也。《春秋傳》曰:日月有食之。从月,又聲。」 Hữu, bất nghi hữu dã. Xuân Thu truyện viết: 'Nhật nguyệt hữu thực chi.' Tòng Nguyệt, Hựu thanh. = [Hữu] là điều đáng lẽ không nên có. Sách Xuân Thu: "Mặt trời mặt trăng có lúc bị ăn". Cấu tạo từ bộ kiện Nguyệt (月), Hựu (又) là bộ phận biểu âm (thanh phù).

Hứa Thận dùng cụm từ "不宜有" (không nên có) là nhắm vào câu trong kinh Xuân Thu được ông trích dẫn sau đó: 「日月有食之」. Nhật thực, nguyệt thực là hiện tượng mà người xưa cho là bất thường, đáng lẽ không nên xảy ra mà lại xảy ra.

Đoàn Ngọc Tài giải thích: 「本是不當有而有之偁」 bản thị bất đáng hữu nhi hữu chi xưng: gọi cái không đáng có mà lại có. Tức, cuối cùng, nghĩa của 有 vẫn là “có, tồn tại” như cách hiểu thông thường.

Hứa Thận đã giải nghĩa một cách quanh co. Ngoài ra ông phân tích cấu tạo cũng không phù hợp với hình thức ban đầu của chữ Hữu. Trong giáp cốt văn, hình tay cầm miếng thịt, giống chữ Nguyệt (月) nhưng không phải chữ Nguyệt (mặt trăng) - trong giáp cốt văn, Nguyệt tượng hình mặt trăng khuyết, hình thể rất khác.

link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/有



10/9/26

Từ chữ 邨 đến chữ 村: Ngôn ngữ là của số đông

 Bài đọc thêm

== Từ chữ 邨 đến chữ 村: Ngôn ngữ là của số đông ==
Trong ''Thuyết văn giải tự'', Hứa Thận ghi nhận: '''「邨,地名。从邑屯聲。」''' Thôn, địa danh, cấu tạo từ bộ kiện ấp, đồn làm thanh phù.

Như vậy, '''[[邨]]''' vốn là tên gọi của một vùng đất, là chữ hình thanh, cấu tạo từ hai bộ kiện:
* '''[[邑]]''' (''ấp'': vùng đất).
* '''[[屯]]''' (''đồn'' /tún/).

Từ tên gọi một vùng đất, nghĩa được mở rộng, phiếm chỉ những xóm làng nhỏ, nơi tụ cư của những người dân quê, phần lớn sống bằng nghề nông. Bản thân bộ kiện 邑 (với nghĩa gốc là vùng đất phong) cũng như 屯 (vốn có nghĩa là tụ tập, đồn trú) đều hỗ trợ cho sự chuyển nghĩa này, tạo ra một nét nghĩa hội ý rất thỏa đáng.

Tuy nhiên vào thời Tống, khi Từ Huyễn vâng mệnh vua hiệu đính ''Thuyết văn giải tự'' đã chú thích: 臣鉉等曰:今俗作村,非是 ''Thần Huyễn đẳng viết: Kim tục tác thôn, phi thị'' = Thần là Từ Huyễn cùng các đồng sự xin thưa: Nay tục viết thành 村 là không đúng.

Tức là, bên cạnh chữ 邨 chính thống được Thuyết văn ghi nhận thời Hán, trong dân gian bấy giờ còn sử dụng chữ 村 để ghi nghĩa "xóm làng".

Vì sao đã có chữ 邨, lại còn đặt thêm chữ 村 để thay thế, và nhờ vào đâu để dần đẩy chữ gốc 邨 vào chỗ quên lãng?

Có lẽ, lí do đầu tiên là '''sự minh xác về nghĩa''': chữ 村 ngay từ khi ra đời đã mang thẳng nét nghĩa "xóm làng", không phải trải qua con đường phái sinh từ một địa danh như 邨.

Lí do thứ hai là '''sự trực quan về hình ảnh'''.
Trái với thành thị là một không gian kín với tường thành bao quanh, nhà cửa phố xá san sát, cây cối hiếm hoi; xóm làng thôn quê là một không gian thoáng đãng, thường ngút một màu xanh của lúa của dâu. Trong chữ 邨, bộ kiện 邑 (ấp) với hình khung thành 囗 tù túng rõ ràng không phù hợp để mô tả làng quê bằng bộ kiện [[木]] (mộc) trong chữ 村.

Cuối cùng, có lẽ là vấn đề về '''âm thanh và cảm nhận'''. 屯 đọc là ''đồn'' (tụ tập), ngoài ra còn đọc là '''truân''' (truân chuyên, khó khăn), sao dễ chịu bằng 寸 (''thốn'') vốn tượng hình bàn tay vô cùng thân thuộc?

Chữ 村 tuy được phân tích hàn lâm là chữ hình thanh, nhưng nếu chiết tự một cách bình dân thì vẫn hết sức tự nhiên: thôn xóm là nơi người ta dùng tay (寸) trồng cây (木) lúa để ăn, trồng dâu để nuôi tằm dệt lụa...

Và thế là, một chữ chính thống có cấu trúc chặt chẽ, đầy ý nghĩa đã bị thay thế bởi một chữ "bình dân" nhưng trực quan và dễ hiểu hơn. Ngôn ngữ bao giờ cũng là của số đông những người sử dụng nó, mặc kệ những bậc sĩ đại phu lắm chữ trợn mắt lắc đầu 非是 (''phi thị'')!

link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/村


Đại Nam Quấc âm Tự vị

 link từ fb Brian Wu




9/9/26

Từ bào thai đến vỏ xe

 Từ bào thai đến vỏ xe

Ngày xưa ở Trung Quốc, bánh xe chủ yếu được làm bằng gỗ hoặc kim loại. Bánh xe gọi là 輪 (luân).

Từ cuối thế kỷ XIX, cùng với sự du nhập của xe đạp, ô tô và kĩ thuật phương Tây, loại bánh xe dùng lốp cao su bơm hơi dần xuất hiện. Trong tiếng Hán, các bộ phận này được gọi bằng những thuật ngữ như 內胎 (nội thai - săm, ruột xe), 外胎 (ngoại thai - lốp ngoài) và 輪胎 (luân thai - lốp xe).

Vậy chữ 胎 (thai) trong những từ này có quan hệ gì với nghĩa gốc “bào thai”?

Có hai cách giải thích đáng chú ý.

1. Thuyết phiên âm

Một cách giải thích cho rằng 胎 trong 輪胎 có thể liên quan đến việc phiên âm tiếng Anh tire/tyre (“lốp xe”). Âm 胎 trong tiếng Hán hiện đại là /tāi/, rất gần với âm đầu của tire/tyre.

Cách giải thích này khá hấp dẫn vì nó đưa ra một con đường ngắn nhất giải thích cho một từ ngữ kĩ thuật mới. Tuy nhiên, điểm hạn chế của thuyết này là khó giải thích trọn vẹn sự xuất hiện của các từ như 內胎 (nội thai) hay 外胎 (ngoại thai), vốn mang cấu trúc định nghĩa thuần ngữ nghĩa tiếng Hán chứ không phải cách ghép của từ phiên âm.

2. Thuyết diễn hóa nghĩa

Một cách giải thích khác dựa vào sự liên tưởng giữa bào thai và một túi mềm có tính đàn hồi, chứa chất lỏng/khí để bảo vệ phần bên trong.

Nghĩa gốc của 胎 là bào thai, tức cơ thể non đang được hình thành trong bụng mẹ. Thai nhi nằm trong túi ối — một cấu trúc màng chứa dịch, có tác dụng bảo vệ và giảm chấn.

Từ hình ảnh một vật thể được bao bọc, bảo vệ và có tính đàn hồi, chữ 胎 trong tiếng Hán dần được mở rộng để chỉ phần cốt, phần nòng hoặc lớp đệm bên trong của vật thể. Khi lốp xe bơm hơi du nhập, cấu tạo của nó có một điểm tương đồng rất rõ nét: bên trong là một không gian chứa khí đàn hồi, bao bọc và nâng đỡ toàn bộ bánh xe.

Từ đó, một hệ thống thuật ngữ cơ khí được hình thành rất logic:

  • 內胎 (nội thai): săm, ruột xe — túi cao su đàn hồi nằm bên trong, chứa khí (tương tự như túi ối chứa dịch).
  • 外胎 (ngoại thai): lốp ngoài — lớp cao su dày bên ngoài, bảo vệ săm và tiếp xúc với mặt đường.
  • 輪胎 (luân thai): lốp xe nói chung (gồm cả bộ vỏ và ruột).

Về sau, khi lốp không săm (tubeless tire) trở nên phổ biến, 輪胎 được dùng để chỉ thẳng cái lốp xe hiện đại.

Nếu theo thuyết diễn hóa nghĩa, con đường liên tưởng phát triển như sau:

bào thai → túi màng mềm, đàn hồi bảo vệ bên trong → cấu trúc đàn hồi chứa khí → săm/lốp xe

Chữ 胎 trong 輪胎 như vậy hoàn toàn là nghĩa phái sinh tự nhiên theo phương thức ẩn dụ. Sự liên tưởng tuy qua nhiều nấc trung gian, nhưng rất chặt chẽ và phản ánh đúng tư duy định danh của ngôn ngữ học tri nhận.

link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/胎