31/5/20

Toán lớp ba



Sáng lướt face, vào một group, có người than "con tính chu vi hình chữ nhật thì ok . Nhg bài cho chu vi mà tìm ngược chiều dài hoặc chiều rộng thì k bít hướng làm ntn. E đã hướng dẫn làm tìm nửa chu vi, xong tìm chiều dài hoặc rộng mà con vẫn k nhớ dc".

Đề nghị bạn ấy thử làm thế này, nhân tiện post lên cho ai có con, cháu nhỏ quan tâm đến chuyện dạy con dạy cháu đọc cho vui.

1. lấy hai que, một dài một ngắn. Hai que [có độ dài] cộng lại bằng 5 [cm], biết [độ dài] một que bằng 2. Hỏi que kia dài bao nhieu? Đố vài lần, thay "cộng lại" thành "tổng".

2. lấy bốn que, hai que dài bằng nhau, hai que kia ngắn bằng nhau. Tổng 4 que bằng 10, biết một que bằng 2. Hỏi que kia dài bao nhiêu? Cũng làm vài lần

3. Thay que bằng chữ, que dài là a, que ngắn là b. Đố tương tự

4. Lấy mấy cái que đã dùng sắp thành hình chữ nhật. Kí hiệu một cạnh là a, một cạnh là b.

Nhắc lại các định nghĩa: a + b = nửa chu vi, a+b+a+b tức 2 (a+b) = chu vi.

Đố như trên, thay tổng hai que thành "nửa chu vi"; thay tổng 4 que thành "chu vi".

Vài điều lưu ý:

- Đừng giảng giải gì (các mẹ là hay ưa giảng giải lắm đấy :) ). Chỉ đố, cháu nói ko được thì cười, cho biết đáp sô; lại đố tiếp.

Mẹ nhớ là đang chơi đố nhau với con. Nên phải dành đủ thời gian tâm trí để chơi. Còn nếu đang ngổn ngang trăm mối suy nghĩ gì đó, thì thôi, kệ nó; ko dạy có khi còn tốt cho con hơn.

- Ban đầu cho số nhỏ, để cháu có thể nhẩm, ko dùng sách vở gì. Hai mẹ con ngồi chơi đố nhau, thỉnh thoảng thử yêu cầu cháu ra đề đố ngược lại mẹ (nếu cháu đố được là thành công). Sau mới cho số lớn, làm tính viết vào bảng, vở.

Mẹ có ưu điểm mà thầy cô ở trường ko có: Thời gian. Cứ nhẩn nha chơi toán với con, để con tự khám phá ra cách giải toán. Đừng ép con phải học thuộc công thức, kiểu: rộng = chu vi: 2 - dài, dài = chu vi:2 - rộng, nếu ko muốn con càng học càng rối càng sợ toán.

PS. Đúng ra hồi tôi "chơi toán" với mấy đứa con, gặp trường hợp như này, bước đầu tiên ko phải là dùng ngay que. Mà dùng bộ bài tây: Lấy hai cây bài, một úp, một ngửa ra cho con thấy. Cho biết tổng [số điểm] hai cây bài, đố tìm [số điểm] cây úp, v.v. Giờ nhiều người nghe nói "chơi bài" với con lại ngại, nên tôi chỉ nói thêm thế này để tham khảo thôi. Dùng bộ bài tây có thể giúp con làm quen với hầu hết các bài toán tiểu học một cách nhẹ nhàng.

Hình trên internet



28/5/20

Tiếng Việt lí thú


Tác giả: Trịnh Mạnh, nguyên chuyên viên cao cấp ở Viện khoa học Giáo dục VN.

Nội dung:

 Chương 1. Những điều lí thú về một số thành ngữ, tục ngữ.
 Chương 2. Những điều lí thú về một số danh từ, đại từ.
 Chương 3. Những điều lí thú về một số động từ, tính từ.
 Chương 4. Những điều lí thú về số từ, từ loại khác và ngữ âm.
 Chương 5. Những điều lí thú về thơ văn.



Nguồn link: nhatbook.com

12/5/20

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC 2


Phỏng vấn dịch giả (bản tiếng Việt) Lê Anh Minh

Nhân dịp cuốn sách mới nhất mà ông dịch sang tiếng Việt vừa ra mắt - cuốn Lịch sử triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan, một công trình đồ sộ và quan trọng của văn hóa Trung Quốc, được xem như một giáo trình căn bản về triết học Trung Quốc tại các Đại học Tây phương, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, chúng tôi có cuộc trò chuyện với ông:

* Việc dịch các tác phẩm kinh điển của triết học đang được chú trọng, ông đánh giá thế nào về ý nghĩa của công việc này?

- Dịch giả Lê Anh Minh: Đó là một việc rất đáng mừng. Khi độc giả bắt đầu chịu đọc sách triết tức là đời sống tinh thần của xã hội được nâng lên và sự hiểu biết cũng mở rộng. Thí dụ, đọc sách triết Trung Quốc chúng ta sẽ hiểu nhân sinh quan và vũ trụ quan của người Trung Quốc, và hiểu thêm về văn hóa của họ.

* Được biết, ông biết các ngoại ngữ Hán, Anh, Đức. Vậy theo ông, dịch tiếng Hán sang tiếng Việt có gì khác biệt với dịch các ngôn ngữ của phương Tây không?

- Tôi thấy có sự khác biệt, ít nhất là đối với tôi. Chẳng hạn, ngữ pháp tiếng Đức rất phức tạp, do vậy, muốn dịch một câu sang tiếng Việt cho suôn sẻ thì phải xử lý lại cấu trúc câu. Do đó, nói chung bản dịch từ các ngôn ngữ phương Tây sang tiếng Việt thường thường không được tự nhiên lắm. Trong khi đó, tiếng Hán khá gần gũi với tiếng Việt nên dịch dễ dàng hơn. Tuy nhiên, vấn đề này còn tùy từng dịch giả nữa.

* Phùng Hữu Lan là một tên tuổi khá quen thuộc ở Việt Nam, vậy ông có thể cho biết trước 1975 có những ai đã dịch và nghiên cứu Phùng Hữu Lan?

- Ở miền Bắc thì tôi không rõ; còn ở miền Nam trước 1975 chưa có công trình nào nghiên cứu Phùng Hữu Lan được xuất bản. Học giả Nguyễn Đăng Thục và học giả Nguyễn Hiến Lê có tham khảo bộ Trung Quốc Triết Học Sử (2 quyển) để viết triết học Trung Quốc. Về việc phiên dịch, dịch giả Nguyễn Hữu Ái lược dịch quyển 1 (NXB Khai Trí, không rõ năm xuất bản). Dịch giả Nguyễn Văn Dương dịch quyển tóm tắt của bộ sử này, tức là quyển A Short History of Chinese Philosophy, nhưng vì ông không có bản tiếng Anh nên dịch lại bản dịch tiếng Pháp của Guillaume Dunstheimer. Bản dịch của ông nhan đề Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc (Viện Đại Học Vạn Hạnh ấn hành, 1968); gần đây được in lại.

* Như vậy là đã có người dịch tác phẩm của Phùng Hữu Lan sang tiếng Việt, thế thì điểm mới của bản dịch này là gì?

- Phùng Hữu Lan viết ba bộ sử (gọi là Tam Sử). Đầu tiên là Trung Quốc Triết Học Sử (2 quyển); sau đó ông tự viết bằng tiếng Anh rút gọn bộ đó thành A Short History of Chinese Philosophy; về cuối đời ông viết lại bộ đầu tiên thành Trung Quốc Triết Học Sử Tân Biên (7 quyển). Như nói trên, trước đây có hai người dịch Phùng Hữu Lan, ông Nguyễn Hữu Ái lược dịch phần đầu; ông Nguyễn Văn Dương thì dịch bản rút gọn. Do đó, bản dịch của tôi là mới mẻ hoàn toàn: lần đầu tiên tại Việt Nam có bản dịch trọn bộ Trung Quốc Triết Học Sử (2 quyển).

Tôi dùng cả nguyên tác Hán ngữ và bản dịch tiếng Anh của Derk Bodde. Trong bản dịch Anh ngữ, Derk Bodde và Phùng Hữu Lan có sửa đổi nhiều chỗ, khác với bản Hán ngữ. Tôi linh động dịch cả hai. Thí dụ, tôi dịch cả chương đầy đủ của bản Hán ngữ và chương rút gọn của bản Anh ngữ; chương nào được Derk Bodde và Phùng Hữu Lan sửa đổi thì tôi dịch theo phần đã sửa. Tuy vậy, tiếc phần bị bỏ đi, tôi vẫn dịch nó và ghi là Phụ Chương. Ngoài ra tôi còn bổ sung thêm, như: so sánh giữa Chu Dịch và Thái Huyền Kinh, dịch thêm bài Luận Phật Cốt Biểu của Hàn Dũ, tiểu sử và hình ảnh của các triết gia.

Trong bản dịch này tôi bảo lưu nguyên văn chữ Hán của các đoạn trích dẫn cổ văn trong nguyên tác, đồng thời phiên âm Hán - Việt và chú giải thêm. Bản dịch này có chú thích của Phùng Hữu Lan, chú thích rất kỹ của Derk Bodde, và phần phụ chú riêng của tôi (để độc giả khỏi mất công tra cứu). Tôi còn dịch thêm bài viết của Trương Quý Đồng đánh giá bộ Trung Quốc Triết Học Sử của Phùng Hữu Lan và nêu ra phương pháp đọc bộ sách này. Đây là bài viết quan trọng mà độc giả cần đọc trước tiên.

* Cách đánh giá về các nhà triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan có điểm gì khác biệt so với các học giả khác?

- Về điểm này bài viết của Trương Quý Đồng phân tích rất rõ. Phùng Hữu Lan vận dụng duy vật sử quan và vận dụng rất linh hoạt chứ không máy móc. Thí dụ ông viết: "Tư tưởng con người đều bị hoàn cảnh tinh thần và vật chất của họ hạn chế". Do đó, trước khi trình bày sự biến hóa tư tưởng triết học thì ông nói về căn nguyên xã hội của nó. Trước khi trình bày tư tưởng của một triết gia thì tác giả thường nói đến hoàn cảnh của người đó. Thí dụ khi nói đến Khổng Tử thì tác giả trình bày trước tiên tình hình văn hóa của nước Lỗ; khi giảng về Mặc Tử thì trình bày trước tiên quan hệ của Mặc Tử với nước Tống và nước Lỗ; khi giảng về Lão Tử và Trang Tử thì trước tiên thuyết minh tình hình văn hóa của nước Sở và tinh thần của người Sở,... Đó là điểm khác biệt của Phùng Hữu Lan so với các học giả khác.

* Ở Trung Quốc người ta đã thành lập hội "Phùng học" để nghiên cứu triết học của Phùng Hữu Lan, ông có nghĩ là mình sẽ tiếp tục dịch các tác phẩm của Phùng tiên sinh sang tiếng Việt không?

- Sau khi dịch xong bộ Lịch sử triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan, tôi đã dịch tiếp quyển Tinh thần của triết học Trung Quốc của ông. Bản thảo hoàn tất cuối năm ngoái, đã đưa cho nhà xuất bản, hy vọng xuất bản trong năm 2007 này.

(Tuổi trẻ Online)

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC 
Tập 2





Nguồn link: nhatbook.com

7/5/20

Vũ Đức Sao Biển




Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển, tác giả của Thu hát cho người, Điệu buồn phương nam, Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang, .. và cả những cuốn biên khảo về Kim Dung vừa qua đời (6/5/2020) tại nhà riêng ở Sài Gòn do bị ung thư phổi.

Ông tên thật là Võ Hợi, sinh năm 1948 (*) tại Tam Kỳ, Quảng Nam.
Trước 1975 ông học ĐHSP Saigon, ra trường về dạy Triết và Văn tại Bạc Liêu. Sau 1975 ông về Sài Gòn tiếp tục dạy học (một ít năm) và cộng tác với một số báo, đài.

Ông bắt đầu sáng tác nhạc từ trước 1975, bắt đầu được biết đến với bài hát Thu, hát cho người.
Một số tác phẩm nổi tiếng:
- Thu, hát cho người
- Điệu buồn phương Nam
- Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang
- Đau xót lý chim quyên
...

----------------
(*) Trên một số báo chí (và wiki) thấy ghi ông sinh 12/2/1948. Nhưng ông tên Hợi, như vậy có lẽ là sinh năm Đinh Hợi, ứng với năm 1947 hoặc trễ lắm, tháng 1/1948 (nếu sinh vào tháng chạp Đinh Hợi). Có lẽ ông làm khai sinh trễ.

6/5/20

Thanh Điền, tay guitar mù




Thanh Điền nghệ sĩ mù chơi guitar đang là một "hiện tượng" trên Youtube.
Ông sinh năm 1967, bị mù bẩm sinh. Hiện sống tại quê, xã Trung An, Cần Thơ; ở nhà người mẹ nuôi (người mẹ nuôi đã mất, ông đang ở với vợ chồng người em nuôi), kiếm sống bằng chơi nhạc cho đám cưới, đám lễ, .. và thỉnh thoảng, đệm đờn cho một số ca sĩ nghe tiếng tìm đến ..
Ngoài guitar ông còn có thể chơi mandolin, organ, đớn kìm, đờn cò; có thể chơi cổ nhạc lẫn tân nhạc.

23/4/20

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC 1


Trong thời gian gần đây thị trường sách Việt Nam đang sôi động với những bộ sách kinh điển về triết học: Phê phán lý tính thuần túy của Immanuel Kant, Bàn về tự do của John Stuart Mill, Khảo luận thứ hai về chính quyền của John Locke v.v. thuộc dòng kinh điển của triết học Tây phương. Trong khi đó, đối trọng lại, ở Đông phương những tác phẩm kinh điển cũng được dịch như: Triết giáo Đông phương, Kinh Dịch Và Cấu Hình Tư Tưởng Trung Quốc, Chu dịch đại truyện, Nho giáo... thực sự là những tín hiệu đáng mừng.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là những bước đi sơ khởi để bù đắp vào những thiếu hụt về mặt tri thức mà trước đây chúng ta chưa có điều kiện thực hiện. Những người làm sách, các công ty xuất bản, các nhà xuất bản, các dịch giả, tác giả... đang tiếp tục thực hiện công việc của mình, những công việc cho cả một thế hệ mai sau vì một nền học thuật dung chứa cả Đông lẫn Tây.
Trong bối cảnh như thế bộ sách: Lịch sử triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan được dịch sang tiếng Việt là một nỗ lực cần được trân trọng.
Bản thân Phùng Hữu Lan đã là một tên tuổi đáng cho chúng ta  ngưỡng mộ. Tốt nghiệp Đại học Columbia (Mỹ) năm 1924, rực sáng cuối thế kỷ XX như một sử gia lỗi lạc về triết học Trung Quốc kiêm triết gia hiện đại mà hệ thống triết học của ông được nghiên cứu với danh xưng rộng rãi “Phùng học”.
Nhưng có lẽ, điều đáng nói về cuộc đời của Phùng Hữu Lan chính là ở điểm: Ông tỏa ra một sức hút lạ kì với những người có dịp diện kiến ông. Minh chứng hùng hồn nhất chính là Derk Bodde. Vào những năm 1930, Derk Bodde sang Đại học Thanh Hoa (Bắc kinh) để học Phùng tiên sinh! Với chúng ta, ở thời điểm này, khi những quan hệ quốc tế được mở rộng, hành động này là một điều bình thường. Thế nhưng, vào lúc đó, việc làm của Derk Bodde là một điều kỳ lạ. Bấy nhiêu đó cũng đủ cho ta thấy tầm vóc học thuật, sự thu hút của một triết gia lỗi lạc đến nhường nào.
Chính bản thân của Derk Bodde sau này là người dịch, giới thiệu các tác phẩm của Phùng tiên sinh sang Mỹ và châu Âu. Và hiện nay nếu vào internet, chỉ cần gõ mục từ “Phùng Hữu Lan” sẽ thấy bộ sách này đang ở một vị trí quan trọng chương trình đào tạo triết học Đông phương của các trường đại học lớn trên thế giới.
Hãy nghe Derk Bodde tuyên tụng về bộ sách này:
“Bản dịch Anh ngữ này ra đời, với niềm hi vọng rằng nó sẽ giúp phương Tây thấy được một học giả Trung Quốc vốn được đào tạo theo kiểu phương Tây đã nhận định thế nào về nền triết học của chính đất nước ông... Trong các tác phẩm viết về thời kỳ này, bộ sách của Phùng Hữu Lan hẳn là hoàn bị nhất, và trong nhiều phương diện, người ta có thể hi vọng đây là một bộ sách tốt nhất” .
Nhưng bao nhiêu đó là dường như chưa đủ. Bởi vì, hơn cả việc trình bày về một giai đoạn lịch sử của tư tưởng, trong một chừng mực nào đó, bộ sách này chính là “chìa khóa” để mở cánh cửa vào nền văn hóa Trung Hoa. Mà đã nói đến nền văn hóa vĩ đại này, chúng ta có quá nhiều lý do để tìm hiểu nó.
Cũng theo lời Derk Bodde, việc tìm hiểu chính tác phẩm của Phùng Hữu Lan vượt lên trên những điều bình thường, mà có lẽ, trong cuộc sống chúng ta đã vô tình lướt qua:
“Khi đa số chúng ta cho rằng cái di sản văn hóa Hi Lạp và La Mã vẫn là tiêu biểu của thế giới, thì khoa học so sách các nền văn minh (trong đó có nền văn minh Trung Hoa-LT) càng cần thiết hơn bao giờ hết, không chỉ để hiểu nền văn hóa nước ngoài mà để hiểu nền văn hóa của chính chúng ta, ngõ hầu chúng ta có sự đánh giá khách quan” .
Đến đây có lẽ là quá đủ để nói đến việc bộ sách này được ra đời bằng ấn bản Việt ngữ quan trọng đến mức nào.
Nhiều người sẽ thắc mắc: trên thị trường trước đây có nhiều ấn bản viết về Lịch sử triết học Trung Quốc, vậy liệu công việc này có là một sự lãng phí không? Xin mở ngoặc một chút như thế này: quả là trước đây đã có những người biên soạn và dịch Lịch sử triết học Trung Quốc, nhưng để hệ thống, chặt chẽ và hoàn bị thì bộ sách này là đầu tiên và duy nhất.1
Một điểm cần lưu ý một chút về dịch giả và sự dụng công cho ấn bản tiếng Việt. Là một người say sưa với văn hóa Trung Quốc, Lê Anh Minh được biết đến khi tham gia biên soạn và dịch hàng loạt tác phẩm có giá trị như: Triết giáo Đông phương (đồng chủ biên), Kinh Dịch Và Cấu Hình Tư Tưởng Trung Quốc (đồng chủ biên), Lịch sử văn minh và các triều đại Trung Quốc (đồng chủ biên), Chu dịch đại truyện... Hơn thế, trong bản dịch này ngoài chú thích của Phùng Hữu Lan và Derk Bodde, chúng ta còn ghi nhận sự “đóng góp” của chính dịch giả để cho bản dịch không những trong sáng hơn, mà trong một tầm mức nào đó, tăng giá trị học thuật hơn.
Việc đọc sách triết luôn là một thử thách của bất kỳ ai. Bởi vì ở đó có sự dồn nén của ý tưởng. Hơn thế, các triết gia, nhất là triết gia Đông phương, thường nói qua “đám mây”, do vậy hiểu được họ nói gì đòi hỏi lòng kiên nhẫn. Nhưng, nếu từ từ, cẩn trọng đọc bộ sách này, chúng ta thấy nó sẽ là một trường hợp ngoại lệ hiếm hoi. Và do vậy, chúng ta có lý để tin rằng: mình được dẫn nhập vào nền văn hóa Trung Hoa một cách ngắn nhất và đúng nhất.
----------
Lịch sử Triết học Trung Quốc. Công ty Gia Vũ phối hợp với Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành quý I-2007.
1. Các công trình về lịch sử triết học Trung Quốc ở nước ta gồm có: Học giả Nguyễn Đăng Thục và học giả Nguyễn Hiến Lê có tham khảo bộ Trung Quốc Triết Học Sử (2 quyển) để viết triết học Trung Quốc. Về việc phiên dịch, dịch giả Nguyễn Hữu Ái lược dịch quyển 1 (Nxb Khai Trí, không rõ năm xuất bản). Dịch giả Nguyễn Văn Dương dịch quyển tóm tắt của bộ sử này, tức là quyển A Short History of Chinese Philosophy, nhưng vì ông không có bản tiếng Anh nên dịch lại bản dịch tiếng Pháp của Guillaume Dunstheimer. Bản dịch của ông nhan đề Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc (Viện Đại Học Vạn Hạnh ấn hành, 1968); gần đây được in lại.

Lê Tân
https://tiasang.com.vn/-tin-tuc/lich-su-triet-hoc-trung-quoc-1984

Mục lục

Quyển 1:

Lời tựa của dịch giả Derk Bodde

Lời tựa của bản dịch Việt ngữ

Biển rộng trời cao ta vút bay

Chương 1. Mở đầu

Chương dẫn nhập (Chương 1 rút gọn của dịch giả derk bodde)

Chương 2. Phiếm luận thời đại Tử học

Chương 3. Tư tưởng và tôn giáo trước thời Khổng Tử

Chương 4. Khổng Tử và khởi nguyên của Nho gia

Chương 5. Mặc Tử và Mặc gia thời kỳ đầu

Chương 6. Mạnh Tử và Mạnh học

Chương 7. Cái học Bách gia thời Chiến Quốc

Chương 8. Lão Tử và Lão học trong Đạo gia

Chương 9. Huệ Thi, Công Tôn Long, và các biện giả khác

Chương 10. Trang Tử và Trang học trong Đạo gia

Chương 11. Mặc kinh và các Mặc gia về sau

Chương 12. Tuân Tử và Tuân học trong Nho gia

Chương 13. Hàn Phi Tử và các pháp gia khác

Chương 14. Nho gia đời Tần và đời Hán

Chương 15. Vũ trụ luận trong Dịch truyện và sách Hoài Nam Hồng Liệt

Chương 16. Lục nghệ của Nho gia và sự độc tôn của Nho gia

Niên biểu thời đại Tử học

Quyển 2:

Chương 1: Phiếm luận về thời đại Kinh học

Chương 2: Đổng Trọng Thư và Kinh học Kim Văn

Chương 3: Cái học sấm vĩ và tượng số giữa hai đời hán

Chương 4: Kinh học cổ văn và Dương Hùng, Vương Sung

*

Tập 1





nguồn link: nhatbook.com

17/4/20

Tình yêu! ôi tình yêu!




Ca sĩ Christophe (từng được gt ở đây) vừa mất hôm qua, 16/4/2020, ở Pháp, do covid.
Trước đây ở nam, giới svhs ít ai ko nghe tên ông. Những bài hát của ông như Aline, J'ai entendu la mer, Mal, Je ne t'aime plus, .. đều được soạn lời Việt.

Oh Mon Amour có lẽ là bài hát được biết đến nhiều nhất của ông. Bài hát do Paul de Senneville, nhà soạn nhạc và nhà sản xuất đĩa nhạc người Pháp, sáng tác; được ông thu dĩa năm 1972, nhanh chóng phổ biến ở Saigon và được Nhật Ngân đặt lời Việt với nhan đề Tình yêu! Ôi Tình Yêu nổi tiếng một thời với tiếng hát Thanh Lan



Cuộc tình ngày đó đã ghi trong ta
Ôi bao nhiêu ngọt bùi, bao kỷ niệm
Rồi một trời tiếc nuối ôi xanh xao
Nghe tiếc nuối xót xa vô vàn
Giờ chỉ còn nước mắt rưng rưng thôi
Bao nhiêu đêm rồi thức trắng canh trường
Mình ta chua xót

Em nơi phương xa nào em có biết
Có hay tình ta nhớ thương vơi đầy
Em ơi, em ơi, ở nơi xa đó
Có bao giờ em tiếc thương ngày cũ?
Đắm đuối xa xưa, khi sống gần nhau
Hay em quên mau như cơn mơ ..