27/1/23

Ngữ pháp tiếng Việt

http://tailieudientu.lrc.tnu.edu.vn/Upload/Collection/brief/brief_8734_14940_2812201116036GTNGUPHAPTIENGVIET.pdf

22/1/23

DƯƠNG LỊCH và ÂM LỊCH

TS. NGUYỄN BÁCH PHÚC
Người Việt Nam thường sử dụng cả Dương lịch và Âm lịch, nhưng phần nhiều không để ý tìm hiểu, không biết được bản chất của hai thứ Lịch này.
Nhiều người không những không hiểu, mà còn hoàn toàn hiểu sai, kể cả một số nhà khoa học lớn, có học hàm, học vị cao và chức vụ lớn. Tai hại của chuyện này là người bình thường nghe các cụ ấy nói, lại tưởng đó là chân lý bất di bất dịch, và cái sai trái ấy được lan truyền rất rộng rãi khắp đất nước.
1. DƯƠNG LỊCH LÀ GÌ?
Dương lịch là việc phân chia sắp xếp thời gian thành Ngày, Tháng, Năm, theo vòng quay của Trái đất quanh Mặt trời. “Dương lịch” tiếng Anh là “Calendar”; tiếng Nga là “календарь”, tiếng Trung Quốc là “日曆” (“Nhật lịch”, nghĩa là “Lịch Mặt trời”).
2. ÂM LỊCH LÀ GÌ?
Âm lịch là việc phân chia sắp xếp thời gian thành Ngày, Tháng, Năm theo vòng quay của Mặt trăng quanh Trái đất. “Âm lịch” tiếng Anh là “Lunar calendar”, nghĩa là “Lịch trăng”, tiếng Nga là “Лунный календарь” (nghĩa là “Lịch theo trăng”), tiếng Trung Quốc là “陰曆” (“Âm lịch”).
3. Tại sao người Việt Nam lại gọi “Âm lịch” và “Dương lịch”? Hai từ này là tiếng Hán, chứ không phải là tiếng Việt, “Lịch” (曆, 历) trong tiếng Hán là “sắp xếp giờ giấc”; “Dương” (陽, 阳), và “Âm” (陰, 阴) là hai từ của Kinh Dịch xưa của người Tàu. Kinh Dịch cho rằng mọi vật, mọi hiện tượng trong Vũ trụ này được tạo thành bởi hai mặt đối lập, gọi là hai mặt “Dương” và “Âm”. Ví dụ: “Con người và mọi sinh vật” đều gồm hai giới, “Dương” là đàn ông, là giống đực, “Âm” là đàn bà, là giống cái. Thiên văn cổ với hiểu biết thô sơ, cho rằng Trái đất là trung tâm Vũ trụ, còn có hai thiên thể lớn nhất Vũ trụ là Mặt trăng và Mặt trời, và họ nghĩ rằng đây là hai vật thể đối lập, họ gọi Mặt trời là “Thái Dương”, Mặt trăng là “Thái Âm”, với chữ “Thái” (太) trong tiếng Tàu nghĩa là “rất lớn”, “vượt mức”
Từ xưa người Trung Hoa đã biết làm Lịch, theo vòng quay của Mặt trăng quanh Trái đất. Về sau, tới khi người Trung Hoa tiếp thu Lịch Mặt trời của phương Tây, thì họ gọi Lịch Phương Tây là “Nhật lịch” (日曆, 日历) hoặc đôi khi gọi là “Dương lịch” ((陽曆, 阳历), và gọi Lịch của họ là “Âm lịch” (陰历, 阴历) và đôi khi gọi “Nguyệt lịch” (月曆, 月历).
Người Việt Nam học theo tiếng nói của người Trung Hoa, là Âm lịch và Dương lịch. Còn đôi khi gọi Dương lịch “Lịch Tây”, còn “Âm lịch” là “Lịch Ta”. Thực ra nói “Lịch Ta” là không chính xác, vì không có Lịch của người Việt Nam, mà chỉ có Lịch Tây của người Tây và Lịch Tàu của người Tàu.
4. NHỮNG NÉT CỐT LÕI CỦA VIỆC LÀM LỊCH
Thứ nhất: Đo thời gian quay được 1 vòng của Mặt trời và của Mặt trăng.
Thứ hai: Qui định số tháng của một năm, để tính ra số ngày của 1 tháng
Thứ ba: Qui định thứ tự của năm, để xác định vị trí của một năm cụ thể trong suốt hàng ngàn triệu năm.
5. VỚI LỊCH MẶT TRỜI
Bình thường chúng ta tưởng Mặt trời quay quanh Quả đất, nhưng thực ra Quả đất quay quanh Mặt trời. Hơn hai ngàn hai trăm năm trước, người Tây đã đo được thời gian đó, là 365 ngày, và qui định đó là 1 năm.
Mỗi năm họ chia làm 12 tháng, mỗi tháng hơn 30 ngày rưỡi, và để làm tròn số ngày của tháng, họ quy định chặt chẽ như sau: Tháng Giêng 31 ngày, tháng Hai 28 ngày, tháng Ba 31 ngày, tháng Tư 30 ngày, tháng Năm 31 ngày, tháng Sáu 30 ngày, tháng Bảy 31 ngày, tháng Tám 31 ngày, tháng Chín 30 ngày, tháng Mười 31 ngày, tháng Mười Một 30 ngày, tháng Mười Hai 31 ngày.
Và qui định mỗi tuần có 7 ngày, mỗi ngày có 24 giờ.
Vài trăm năm sau khi Giê-su chết, Giáo hội phương Tây thống nhất chọn 1 thời điểm làm ngày đầu tiên của Dương lịch. Họ đã chọn sau ngày sinh của Giê-su 1 tuần, gọi là Ngày Đầu tiên của Dương lịch, tức là ngày mồng một tháng Giêng năm thứ nhất (số 1).
Sinh thời của Giê-su chưa có Lịch Tây này, nên Giáo hội không biết gọi ngày sinh của Giê-su là ngày bao nhiêu tháng năm nào. Sau khi có qui định kể trên thì mới có ngày sinh của Giê-su là 25/12 năm -1. Cũng nhờ qui định này mà người ta mới có thứ tự của năm, và có thể xác định vị trí của một năm cụ thể trong suốt hàng ngàn triệu năm.
Khoảng thế kỷ thứ 6 người phương Tây đo đạc lại, kết quả là thời gian quay quanh Mặt trời của Quả đất chính xác hơn số cũ trước Công nguyên (365 ngày), là 365 ngày 6 giờ. Như vậy nếu lấy một năm chỉ 365 ngày như Lịch cũ, thì mỗi năm sẽ thiếu đi 6 giờ, sau 4 năm sẽ thiếu đi 24 giờ, bằng 1 ngày. Việc này dẫn đến 1 hệ quả nghiêm trọng, là sau 120 năm Lịch sẽ bị sai lệch mất 1 tháng, và sau (120 năm x 6) = 720 năm Lịch sẽ lệch đi 6 tháng, nghĩa là đảo lộn 4 mùa, mùa đông vào tháng 6 và mùa hè vào tháng 12. Giáo hội đã quyết định sửa Lịch như sau: Cứ 4 năm thì thêm vào 1 ngày, là ngày 29/2. Người Việt Nam nói theo tiếng Tàu, gọi ngày “thừa” này là ngày “nhuận 閏” và tháng 2 Dương lịch là tháng “nhuận”. Tiếng Tàu, chữ “Nhuận” “閏” nghĩa là “xen vào giữa, thừa ra”.
Khoảng thế kỷ thứ 9, người ta đo lại thời gian quay 1 vòng quanh Mặt trời của Trái đất không phải là 365 ngày 6 giờ, mà chính xác hơn là 365 ngày 5 giờ 48 phút 16 giây. So với số đo cũ, 365 ngày 6 giờ, thì thừa ra: 6 giờ - (5 giờ 48 phút 16 giây) = 11 phút 44 giây.
Người ta đã tính cách bù trừ như sau: cứ 400 năm, nếu theo lịch cũ thì sẽ thừa ra: (11 phút 44 giây) x 400 năm = 78 giờ = 3 ngày + 6 giờ.
Giáo hội phương Tây quyết định sửa Lịch như sau:
- Cứ 400 năm (4 Thể kỉ) thì bỏ bớt đi 3 ngày nhuận, 29/2 của 3 thế kỷ. Ba ngày bị bỏ này được qui định là ngày nhuận đầu tiên, của năm đầu tiên, của những thế kỷ có số thứ tự không chia hết cho 4. Qui định này giúp bỏ bớt được 3 ngày x 24 giờ = 72 giờ. Vẫn còn dư 6 giờ, vẫn còn phải tìm cách bỏ đi 6 giờ này.
- 400 năm còn dư 6 giờ, vậy thì phải mất bao nhiêu năm để số dư là 24 giờ của 1 ngày: Số năm tương ứng với số dư còn lại: 24 giờ/ 6 giờ x 400 năm = 1600 năm.
Từ đây Giáo hội La Mã còn phải thêm 1 qui định, cứ 16 thế kỷ, 1.600 năm, thì phải bỏ thêm 1 ngày nhuận. Cụ thể là năm đầu tiên của thế kỷ 17, là năm 1600, đáng lẽ phải bỏ ngày nhuận 29/2 (theo qui định Lịch cũ), nhưng không bị bỏ.
Câu chuyện Lịch cũ - Lịch mới này đã dẫn đến nhiều chuyện “tréo ngoe” trong lịch sử. Ví dụ: “Cách mạng tháng 10 Nga” ngày 25/10/1917, lại diễn ra vào ngày 7/11/1917 theo lịch mới.
Khoảng thế kỷ 8 đã phát sinh mâu thuẫn rất lớn trong nội bộ Giáo hội, Giáo hội Giê-su bị chia làm hai: Giáo hội phương Tây với trung tâm là thành phố La mã (Roma, nước Ý), và Giáo hội phương Đông, với trung tâm là thành phố Constantinop. Nguyên nhân của sự phân chia là, phe phương Đông phê phán phe phương Tây về những “cải cách”, mà theo họ đã hủy hoại giáo lý cơ bản của Giê-su; còn phe phương Đông kiên trì giữ nguyên giáo lý cơ bản của Giê-su, tự cho mình là “Chính thống giáo”.
Một trong những phê phán của phương Đông, là phương Tây đã sửa đổi Lịch cũ thành Lịch mới. Còn phe Chính thống phương Đông kiên trì sử dụng lịch cũ. Trung tâm của phe phương Đông khoảng thế kỷ 13 đã chuyển sang Thành phố Moscow của Đế quốc Nga. Nhà nước Nga cũng chỉ công nhận Lịch cũ.
Đến Thế kỷ 20 Lịch mới đã bỏ đi 16 ngày nhuận (của năm 100, 200, 300, 500, 600, 700, 900, 1000, 1100, 1300, 1400, 1500, 1600, 1700, 1800, 1900), dẫn đến kết quả là Lịch mới “chạy trước” Lịch cũ 16 ngày, ngày 7/11/1917 chạy trước ngày 25/10/1917 đúng 16 ngày.
6. VỚI LỊCH MẶT TRĂNG
Hơn 2.000 năm trước người Trung Hoa đã đo được Tuần Trăng (khoảng thời gian giữa hai kì trăng tròn), là 29 ngày rưỡi. Họ gọi thời gian này là 1 tháng. Cho nên trong tiếng Tàu chữ “Tháng” và chữ “Trăng” là cùng một chữ “Nguyệt” (月), chứ không phải như trong tiếng Việt, “Tháng” và “Trăng” là hai Từ khác nhau, thể hiện hai khái niệm khác nhau.
Để làm tròn số ngày trong 1 tháng, Lịch Tàu qui định Tháng Lớn (Đại Nguyệt, 大月) có 30 ngày, Tháng Nhỏ (Tiểu Nguyệt, 小月) có 29 ngày, người Việt Nam dùng Lịch Tàu gọi là “Tháng đủ” và “Tháng thiếu”. Họ quan sát thấy khí hậu thay đổi tuần hoàn với chu kì khoảng 12 tháng, từ đó Lịch Tàu qui định 1 năm có 12 tháng.
Lịch này giúp con người xác định được chính xác ngày nào Trăng tròn, và ngày nào Thủy triều trên biển dâng cao nhất, ngoài ra không liên quan gì đến thời tiết, khí hậu, mùa màng, nông nghiệp …
Có thể gọi Lịch này là “Âm Lịch Nguyên Thủy”.
Với Lịch này, mỗi năm chỉ có 12 tháng x 29,5 ngày/tháng = 354 ngày. Nếu so với chu kỳ biến đổi khí hậu trên mặt đất, thì mỗi năm bị thiếu mất 365 ngày - 354 ngày = 11 ngày, sau ba năm sẽ thiếu mất 1 tháng. Và như vậy sau (3 năm) x 6 = 18 năm thì Lịch sẽ sai lệch với thiên nhiên 6 tháng, nghĩa là 4 mùa sẽ đảo lộn, tháng 6 là mùa đông, tháng 12 là mùa hè.
Hiện nay trên thế giới vẫn tồn tại “Âm Lịch Hồi giáo”, giống hệt “Âm Lịch Nguyên Thủy” của người Tàu.
Sau nhiều năm quan sát, người Tàu thấy 1 năm nếu chỉ 12 tháng thì không phù hợp với sự biến đổi thiên nhiên, và họ qui định gần đúng, cứ ba năm thì phải thêm 1 tháng nhuận.
Khoảng hơn 1.000 năm trước các nhà khoa học Thiên văn của các đài thiên văn của Hoàng đế Trung Hoa đã quan sát, đo đạc, và họ cũng đã có kết quả giống như Lịch phương Tây, là một năm có 365 ngày 6 giờ, và thời gian quay vòng trung bình của Mặt trăng quanh Quả đất là 29,534 ngày
Nhưng người Trung Hoa không hủy bỏ Lịch Tàu, mà họ cải tiến nâng cao “Lịch Tàu Nguyên thủy” thành “Âm Lịch”, và gọi chính xác Lịch này là “Âm - Dương Lịch” (陰 陽 曆, 阴 阳 历). Ngày nay Âm lịch mà người Việt chúng ta đang sử dụng, chính là “Âm - Dương Lịch” của người Trung Hoa.
7. GIỐNG NHAU GIỮA “DƯƠNG LỊCH” VÀ “ÂM - DƯƠNG LỊCH” TRUNG HOA
- Thời gian của 1 năm là 365 ngày 5 giờ 48 phút 16 giây
- Mỗi năm có 12 tháng.
- Dương lịch chia mỗi ngày thành 24 giờ, với 12 giờ buổi sáng (AM) và 12 giờ buổi chiều (PM), tên gọi của mỗi giờ theo thứ tự, từ 0 giờ đến 23 giờ. Âm Dương Lịch chia mỗi ngày thành 12 giờ với những tên gọi riêng cho từng giờ, liên quan chặt chẽ với 24 giờ Dương lịch: Giờ Tý từ 0 giờ đến hết 1 giờ, giờ Sửu từ 2 giờ đến hết 3 giờ, giờ Dần từ 4 giờ đến hết 5 giờ, giờ Mão từ 6 giờ đến hết 7 giờ, giờ Thìn từ 8 giờ đến hết 9 giờ, giờ Tỵ từ 10 giờ đến hết 11 giờ, giờ Ngọ từ 12 giờ đến hết 13 giờ, giờ Mùi từ 14 giờ đến hết 15 giờ, giờ Thân từ 16 giờ đến hết 17 giờ, giờ Dậu từ 18 giờ đến hết 19giờ, giờ Tuất từ 20 giờ đến hết 21 giờ, giờ Hợi từ 22 giờ đến hết 23 giờ.
8. KHÁC NHAU GIỮA “DƯƠNG LỊCH” VÀ “ÂM - DƯƠNG LỊCH” TRUNG HOA:
* Việc làm Lịch:
Làm Lịch Tây vô cùng đơn giản, chỉ cần tuân thủ 1 số qui định như đã nói ở phần trên (mục 5). Nên bất cứ ai cũng có thể “nhắm mắt” viết ra đầy đủ chính xác Lịch của một năm nào đó, của quá khứ và cả của tương lai. Còn làm Âm - Dương lịch, công việc không đơn giản một tí nào, với hàng ngàn bài tính phức tạp, rắc rối, liên quan đến những thông số Thiên văn Địa lý của Mặt trăng, Trái đất, Mặt trời, và rất nhiều mối liên quan, rất nhiều qui ước vô cùng phức tạp.
Lưu ý rằng, làm Âm - Dương lịch là phải sử dụng “bài toán 3 vật thể trong không gian”, bài toán này đến nay khoa học của nhân loại vẫn chưa giải được trọn vẹn, mặc dù đã được những nhà Toán học giỏi nhất thế giới dày công nghiên cứu hàng ngàn năm nay.
Hàng năm, để lập nên Âm - Dương lịch của năm tiếp theo, phải mở hội nghị, tập hợp những nhà làm Lịch chuyên nghiệp, kỳ cựu, thảo luận, tính toán.
Lịch này cũng có lắm chuyện “tréo ngoe”. Ví dụ Lịch năm Mậu Thân (1968), Miền Bắc theo múi giờ thứ 7, còn Miền Nam theo múi giờ thứ 6, theo đúng qui tắc tính toàn làm Âm - Dương lịch, thì ngày Âm lịch của 2 miền chênh lệch nhau 1 ngày, dẫn đến kết quả: ngày 30 Tết của Miền Bắc lại là ngày 01 Tết của Miền Nam!
- Ngày Tiết: Dương lịch có 8 “ngày Tiết”, 8 “ngày Tiết” này giúp xác định 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông trên Trái đất:
Trái đất tự quay xung quanh theo trục Bắc - Nam, 1 vòng hết 24 giờ, tạo ra ngày và đêm.
Đồng thời Trái đất quay vòng quanh Mặt trời trong 365 ngày và gần 6 giờ, tạo thành 1 năm. Mặt phẳng mà Trái đất quay quanh Mặt trời gọi là Mặt phẳng Hoàng đạo. Trong suốt quá trình quay quanh Mặt trời, trục tự quay Bắc - Nam của Trái đất luôn giữ một Phương không đổi, Phương này lệch với mặt phẳng Hoàng đạo 23 độ rưỡi.
Nhờ có độ lệch này mà trên mặt của Quả đất có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Nếu không có độ lệch này thì trên Mặt đất không có 4 mùa, quanh năm khí hậu như nhau.
Dương lịch gọi ngày bắt đầu Mùa Xuân là ngày Lập Xuân, ngày chính giữa Mùa Xuân là ngày Xuân Phân; ngày bắt đầu Mùa Hạ là ngày Lập Hạ, ngày chính giữa Mùa Hạ là ngày Hạ Chí; ngày bắt đầu Mùa Thu là ngày Lập Thu, ngày chính giữa Mùa Thu là ngày Thu Phân; ngày bắt đầu Mùa Đông là ngày Lập Đông, ngày chính giữa Mùa Đông là ngày Đông Chí.
Những Ngày Tiết này hoàn toàn xác định bởi vị trí của Quả đất trong vòng quay quanh Mặt trời. Mỗi mùa có hơn 91 ngày, và mỗi Ngày Tiết nói trên cách nhau hơn 45 ngày. Tám Ngày Tiết này gần như cố định trong Dương lịch: Lập xuân ngày 6/2, Xuân Phân ngày 21/3, Lập hạ ngày 6/5, Hạ chí ngày 21/6, Lập thu ngày 6/8, Thu Phân ngày 21/9, Lập Đông ngày 6/11, Đông chí ngày 21/12. Do có những năm nhuận nên tám Ngày Tiết này có thể lệch đi, chậm mất 1,2 ngày.
Âm - Dương lịch cũng có tám Ngày Tiết như vậy. Nhưng trong Âm - Dương lịch, ngày tháng không được sắp xếp thứ tự chặt chẽ như trong Dương lịch, mà biến hóa vô cùng rắc rối, cho nên các nhà làm Lich phải hết sức khốn khổ mới tính ra được ngày Âm lịch của tám ngày Tiết. Tám Ngày Tiết đó không cố định như trong Dương lịch, mà mỗi năm một khác. Cho nên muốn biết Ngày Tiết là ngày nào trong năm Âm lịch thì chỉ có một cách duy nhất là đọc Lịch của năm đó.
Về sau người Trung Hoa có một cách xác định Ngày Tiết dễ dàng hơn, khỏi phải tính toán phức tạp, là đem so sánh Âm - Dương lịch mà họ vất vả tạo ra hàng năm, với Dương lịch của năm tương ứng, rồi gán Ngày Tiết của Dương lịch vào Âm - Dương lịch của họ.
Đại đa số người Việt Nam không biết về câu chuyện Ngày Tiết này, cứ tưởng Ngày Tiết là của Âm lịch Trung Hoa. Ở Việt Nam ngay cả nhiều nhà làm Lịch cũng không biết điều này, nên khi in Lịch, cứ gán Ngày Tiết cho Âm lịch.
Âm - Dương lịch của Trung Hoa còn thêm 16 ngày Tiết, chen vào giữa tám Ngày Tiết kia, họ chia khoảng cách giữa hai Ngày Tiết của Dương lịch làm ba phần đều nhau, rồi chèn thêm hai Ngày Tiết của họ. Thực ra 16 Ngày Tiết chèn vào này cũng giống 8 Ngày Tiết trên kia, họ không cần tính toán mệt nhọc, mà chỉ cần so sánh với Lịch Tây để chọn ngày tương ứng.
* Việc đặt tên năm:
Dương lịch không đặt tên riêng cho từng năm, mà gọi năm theo thứ tự, từ năm số 1 trở đi, cách gọi tên này thật đơn giản, nhưng lại vô cùng thuận lợi và chính xác, giúp người ta dễ dàng xác định được các sự kiện xảy ra trong thời kì lịch sử nào của nhân loại, của dân tộc, của dòng họ, của cá nhân.
Còn Âm - Dương lịch đặt tên theo “Thiên Can Địa Chi”: có 10 “Can”: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, và 12 “Chi”: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Tên của 1 năm được ghép bởi 1 từ thuộc “Can” và 1 từ thuộc “Chi”, ví dụ: năm Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế, là năm Mậu Thân. Cách đặt tên này không giúp người ta biết gì, ví dụ: không biết việc đấy cách đây bao nhiêu năm, còn Lịch Tây ghi là năm 1788, rất dễ hiểu.
Cách đặt tên này còn qui định: 6 “Can” với số thứ tự lẻ chỉ được ghép với 6 “Chi” với thứ tự lẻ, 6 “Can” với số thứ tự chẵn chỉ được ghép với 6 “Chi” vói thứ tự chẵn. Kết quả là Âm - Dương lịch chỉ vẻn vẹn có 60 tên năm. Cứ sau 60 năm, tên năm lại bị lặp lại. Hậu quả là, trong vòng 300 năm có 5 năm khác nhau nhưng lại mang cùng 1 cái tên, trong vòng 2.400 năm có 40 năm khác nhau nhưng lại mang cùng 1 cái tên, biết đằng nào mà lần !
Có tên Can Chi cùa năm rồi, để có thể xác định vị trí của năm đó trong chiều dài của lịch sử, thì Âm lịch phải kèm theo 1 thông tin nữa, là năm ấy vào đời vua nào của Trung Hoa, hoặc đời vua nào của Việt Nam. Ví dụ: năm Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế, là năm Mậu Thân, phải thêm thông tin: Đời Nhà Thanh Trung Hoa, Vua Thanh Cao Tông, Niên hiệu Kiền Long, năm thứ 43. Khi có đủ 2 thông tin nàyrồi, còn phài tra Bảng đối chiếu giữa các đời vua với năm Dương lịch, kết quả đối chiếu sẽ là, Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế năm 1788.
Chuyện xác định năm Âm lịch thật sự rắc rối, nhất là không phải ai cũng có Bảng tra đối chiếu giữa các đời vua với năm Dương lịch.
Tên năm Can Chi còn gây ra một hệ lụy rất đáng buồn, 12 Can ứng với 12 con vật: Tý - Chuột, Sửu – Trâu, Dần - Hổ, Mão - Mèo, Thìn - Rồng, Tỵ - Rắn, Ngọ - Ngựa, Mùi - Dê, Thân - Khỉ, Dậu - Gà, Tuất - Chó, Hợi - Lợn.
Mê tín dị đoan cùng với thói quen và niềm tin hoang sơ vào Âm lịch, đã khiến đa số người Việt Nam đinh ninh rằng ai sinh ra vào năm con vật nào , thì thân phận gắn liền với thân phận vật con đó, nhiều người buồn vì số phận mình là số phận của loài Chó Lợn Trâu Ngựa Chuột Gà, nhiều người hí hửng vì số phận mình là số phận của loài Rồng, loài Hổ !
9. NHỮNG NHẬN THỨC SAI VỀ ÂM LỊCH:
- Nhiều người nghĩ rằng Âm lịch là của người Việt Nam, là hoàn toàn sai.
Từ khi người Trung Hoa xâm lược và thống trị nước ta, họ ra sức đồng hóa nước ta về mọi mặt, văn hóa, ngôn ngữ… Riêng về ngôn ngữ, trong tiếng Việt mà chúng ta đang nói hàng ngày hiện nay, có hơn 70% là tiếng Tàu, gần 30% là tiếng thuần Việt.
Từ vốn tiếng thuần Việt mà chúng ta giữ lại được đến ngày nay, có thể thấy rằng, trước khi người Trung Hoa xâm lược và thống trị nước ta, dân ta đã có những khái niệm rất rõ ràng chính xác về giờ giấc, ngày đêm, năm, tháng, mùa, là những khái niệm cơ bàn để có thể làm nên Lịch, nhưng lúc đó dân ta chưa biết làm Lịch.
- Nhiều người nghĩ rằng Âm lịch là Nông Lịch, là hoàn toàn sai.
Nhiều người ngày nay vẫn lầm tưởng như người cổ đại, rằng có hai thiên thể lớn nhất là Mặt trời và Mặt trăng. Nhưng thực ra Mặt trời lớn gấp khoảng 10 triệu lần Mặt trăng, Mặt trời là nguồn phát ra năng lượng và ánh sáng, còn Mặt trăng thì bé tẹo, không phát ra ánh sáng, mà chỉ phản chiếu ánh sáng của Mặt trời. Mọi tác động lên thiên nhiên và sinh quyển (kể cả nông nghiệp) trên Mặt đất đều xuất phát từ Mặt trời. Mặt trăng chỉ tác động lên Mặt đất hai việc, một là trăng sáng ban đêm, sáng nhất là đêm Rằm, hai là thủy triều trên biển lên xuống theo tuần trăng, triều lên cực đại vào ngày Rằm. Ngoài ra các loại sinh vật sống trong nước biển, về mặt sinh học cũng chịu tác động của thủy triều, tức là tác động của Mặt trăng. Ví dụ: Tôm cua lột vỏ theo tuần trăng.
Âm lịch phân chia thời gian theo tuần trăng, ngày tháng của Âm lịch hoàn toàn phụ thuộc vào vị trí tương đối giữa Mặt trăng và Quả đất, trong khi Mặt trăng không có tác dụng gì đối với Nông nghiệp. Nhưng nhiều người Việt Nam vẫn gọi Âm lịch là Nông Lịch, kể cả người Trung Hoa ngày nay (農曆, 农 历), và lầm tưởng tin rằng làm nghề Nông phải tuân thủ Âm lịch.
Cái lầm tưởng này có lẽ xuất phát từ chỗ, Âm lịch Trung Hoa có chèn thêm 16 Ngày Tiết, tên của mỗi Ngày Tiết nghe ra có vẻ liên quan đến Nông nghiệp và trồng trọt, đó là:
1. Vũ thủy: Vũ Thủy là thời tiết mưa ẩm ướt, mưa phùn, có gió thổi nhẹ.
2. Kinh trập: sâu nở
3. Thanh minh: bầu trời quang đãng
4. Cốc vũ: mưa lớn
5. Tiểu mãn: lũ nhỏ
6. Mang chủng: thu hoạch ngũ cốc
7. Tiểu thử: nắng nhẹ
8. Đại thử: nắng nhiều
9. Xử thử: hết nóng
10. Bạch lộ: bắt đầu sương mù
11. Hàn lộ: sương mù lạnh giá
12. Sương giáng: sương mù dày đặc
13. Tiểu tuyết: Tuyết nhỏ
14. Đại tuyết: tuyết lớn
15. Tiểu hàn: hơi lạnh
16. Đại hàn: rấtt lạnh
Hơn nữa tên gọi và ý nghĩa của các Ngày Tiết này chỉ phù hợp với 1 địa phương hẹp chứ không phải phù hợp với toàn cầu. Ví dụ: Địa phương ở Bắc bán cầu hoàn toàn ngược với các địa phương ở Nam bán cầu, hoặc ở Việt Nam hoàn toàn không có tuyết, ở Nam bộ Việt Nam không có Đại hàn, Tiểu hàn như ở Bắc bộ.
- Bói toán theo ngày tháng năm Âm lịch là hoàn toàn dị đoan:
Các “Thầy” làm nghề bói toán, như “Thầy bói”, “Thầy số”, “Thầy cúng”, “Thầy chùa”, đều lấy ngày tháng năm Âm lịch làm cơ sở cho việc bói toán, nhưng như đã phân tích ở trên (mục , Âm lịch cứ 60 năm lại lặp lại, nghĩa là theo Âm lịch chu kỳ hoạt động của thiên nhiên là 60 năm, điều này không hề có, mà chỉ là sự quy định tùy tiện của Âm lịch. Kết quả là bói toán theo ngày tháng năm Âm lịch là không có căn cứ khoa học, không có căn cứ thực tiễn.
10. MỘT VÀI KIẾN NGHỊ
Từ những thôn tin đã trình bày trong 9 mục nói trên, chúng tôi mạ muội đề xuất mấy kiến nghị.
- Hoàn toàn bỏ Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch:
Ở Trung Hoa, năm 1911 Lãnh tụ cách mạng Tôn Trung Sơn, lãnh đạo thành công Cách mạng Tân Hợi, lật đổ chế độ phong kiến hàng ngàn năm, lên ngôi Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, đã ra lệnh chính quyền nhà nước chỉ dùng Dương lịch, và khuyến cáo nhân dân không nên dùng Âm lịch.
Ở Việt Nam tháng 3/1945 Thủ tướng Chính phủ Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim đã quyết định tương tự như Tổng thống Trung Hoa năm 1911.
Cũng ở Việt Nam, tháng 9/1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định không dùng Âm lịch trong công vụ, nhưng không khuyến cáo nhân dân không nên dùng Âm lịch.
Bỏ Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch, thì trong Dương lịch hàng tháng ghi thêm Ngày Trăng Tròn. Việc thêm thông tin này không có gì khó, không phức tạp như làm Âm lịch, bởi vì Dương lịch đã biết chính xác thời gian Mặt trăng quay quanh Quả đất là khoảng 29 ngày rưỡi. Khi biết ngày trăng tròn trong tháng này, thì có thể biết chắc chắn ngày trăng tròn của tháng tiếp theo.
Người Việt Nam có tục làm Giỗ Tổ Tiên, với ý nghĩ rằng ngày Giỗ là ngày hàng năm tưởng nhớ người đã khuất, vào đúng ngày ra đi. Phong tục Việt Nam lại lấy ngày Âm lịch là ngày Giỗ, nhưng như đã phân tích ở trên, một năm Âm lịch không đúng với một năm của trời đất, ngày Giỗ của năm nay theo Âm lịch, và ngày Giỗ năm sau theo Âm lịch sai lệch nhau hơn 10 ngày của tự nhiên, nghĩa là người Việt mỗi năm làm Giỗ vào những ngày khác nhau, hàng năm phải đọc Âm lịch để biết ngày Giỗ là ngày nào.
Cho nên, nếu người Việt tự quy định lại, làm Giỗ Tổ Tiên vào ngày tháng Dương lịch của ngày từ trần, thì Lễ Giỗ mới đúng là Lễ kỷ niệm ngày Cha ông đi xa.
Người Việt Nam rất coi trọng ngày Tết, coi ngày Tết là ngày Lễ lớn nhất và nhiều ý nghĩa nhất trong mỗi năm. Thực chất ngày Tết chỉ là ngày mở đầu của một năm, ngày mồng một tháng giêng. Từ khi người Việt Nam dùng Lịch của người Tàu, thì bắt đầu ăn Tết vào ngày mồng một tháng giêng của Lịch Tàu, ngày đó người Tàu gọi là Nguyên Đán (元旦, nghĩa là ngày thứ nhất), hoặc là Xuân Tiết (春節, 春节, nghĩa là ngày lễ mùa Xuân), và người Việt Nam cũng gọi ngày Tết là Tết Nguyên Đán. Như đã phân tích ở trên ngày tháng theo Âm lịch không gắn liền với trời đất, thiên nhiên, khí hậu, nên hàng ngàn năm nay dân tộc ta ăn Tết vào ngày vô định của thiên nhiên, trời đất.
Bỏ Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch, thì đương nhiên ngày Tết sẽ là ngày mồng Một tháng giêng Dương lịch, Ngày Tết cổ truyền vô cùng ý nghĩa của chúng ta vẫn giữ được nguyên vẹn là ngày Tết đầu năm, là Nguyên Đán, không mất mát thay đổi gì cả.
Nhân đây xin nói thêm một chút, năm 2005 GS.TS. Võ Tòng Xuân, một nhà khoa học lớn, một nhà yêu nước chân chính, một người đã có nhiều cống hiến lớn cho nền khoa học của Việt Nam và của nhân loại, đã đề xuất “bỏ ăn Tết Âm lịch, chỉ ăn Tết Dương lịch”. Ý tưởng này đã làm xôn xao ầm ĩ công luận, với 1 phe ủng hộ và 1 phe phản đối. Cho đến gần đây có người còn kiến nghị Nhà nước tước bỏ học hàm học vị của GS. Xuân; có người còn kiến nghị thu hồi lương hưu của Cụ.
Thực ra, nếu Cụ Xuân chỉ đề nghị “bỏ dùng Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch”, thì chắc mọi việc sẽ ổn thỏa, KHÔNG AI CÓ LÝ SỰ GÌ ĐỂ PHẢN ỨNG NGƯỢC !
- Cải tiến một chút cho Dương lịch hiện nay:
Dương lịch hiện nay, như đã phân tích ở trên, là hết sức khoa học, hết sức hoàn chỉnh, hết sức thuận lợi cho người dùng.
Nhưng trong Dương lịch hiện nay có 1 điểm chưa thuận tiện. Đó là, mỗi năm có 365 ngày hoặc 366 ngày, trong khi mỗi tuần lễ có 7 ngày, mỗi năm có 365/7 ngày thành 52 tuần lễ, dư 1 ngày l, dẫn đến tình trạng, “Thứ trong tuần” của “Ngày, Tháng” năm nay sẽ lệch với “Thứ trong tuần” của cùng “Ngày, Tháng” của năm sau, ví dụ: ngày mồng một tháng Giêng năm 2023 là ngày Chủ nhật, thì ngày mồng một tháng Giêng năm 2024 sẽ là ngày Thứ hai. Điểm này làm mất tính đồng nhất của Dương lịch, Lịch năm này vẫn khác Lịch năm nọ, gây bất tiên cho người dùng.
Có một cách khắc phục, hết sức đơn giản, là quy định ngày cuối cùng của năm: ngày 31/12, sẽ được đặt tên bằng một tên riêng nào đó, không nằm trong bảy “Thứ” của tuần lễ, ví dụ đặt tên là “Thứ Cuối năm”, thì tuần lễ cuối cùng của năm sẽ có 8 ngày, và Ngày mồng Một tháng Một của năm sau sẽ cùng Thứ với Ngày mồng Một tháng Một của năm trước. Kết quả là, tất cả các Ngày Tháng của năm sau sẽ có cùng Thứ với tất cả Ngày Tháng của năm trước, và Dương Lịch sẽ là 1 Bản đồng nhất cho muôn đời! Quy định tuần lễ cuối cùng có 8 ngày, 8 “Thứ”, không có gì là “khác thường”, vì giống như trong Dương lịch hiện nay, quy định năm nhuận có 29 ngày.
Với cải tiến này, phải có thêm quy định: “Ngày nhuận” 29/2 sẽ có tên “Thứ” riêng, ví dụ “Thứ nhuận”, chứ không phải là “Thứ” tiếp theo của Ngày 28/2, và như vậy, Tuần lễ có Ngày nhuận sẽ có 8 ngày.
HY VỌNG 2 KIẾN NGHỊ TRÊN SẼ ĐƯỢC MỌI NGƯỜI ỦNG HỘ!
N.B.P.

16/1/23

Túc Kiến Đức giang

 宿建德江 

移舟泊煙渚,      Di chu bạc yên chử,

日暮客愁新。      Nhật mộ khách sầu tân.

野曠天低樹,      Dã khoáng thiên đê thụ,

江清月近人。      Giang thanh nguyệt cận nhân.

孟浩然                    Mạnh Hạo Nhiên

Giản thể. 移舟泊烟渚,日暮客愁新。野旷天低树,江清月近人。

Nghĩa. Nghỉ lại đêm trên sông Kiến Đức

Ghé đậu thuyền nơi bãi cồn mù mịt khói sương,
Chiều xuống khiến khách (đang buồn vì nhớ nhà) lại thêm nỗi buồn mới.
Trên cánh đồng mênh mông bầu trời sà xuống thấp, ngay trên đầu ngọn cây,
Nước sông trong khiến trăng như sát bên người.

Tạm dịch

Thuyền neo cồn khói tỏa,

Chiều xuống khách buồn thêm.

Đồng rộng trời liền đất,

Sông trong trăng sát bên.

Chú

建德江 Kiến Đức giang: sông Kiến Đức, nay thuộc 浙江 Chiết Giang.

移舟 di châu: dời thuyền, chèo thuyền. 泊 bạc: đậu, ghé bến. 烟渚 yên chử: chỉ bãi cồn âm u mù mịt sương khói. 烟 yên: khói; bản khác chép “幽” u: tối tăm. 渚 chử /zhǔ/: cồn nhỏ trên sông. Bãi cồn trên sông có thể ở được, lớn thì gọi là 洲 châu, nhỏ thì gọi là 渚 chử (水中可居者曰洲,小洲曰渚。)

客 khách: ở đây chỉ tác giả. 愁 sầu: buồn, do nhớ nhà.

野 dã, tức 原野 nguyên dã: đồng hoang. 曠(旷) khoáng: rộng rãi.

天低樹 thiên đê thụ: bầu trời sà xuống thấp trên ngọn cây.

月近人 nguyệt cận nhân: trăng sát bên người, là nói bóng trăng trên sông.

Bài thơ được Mạnh Hạo Nhiên viết trong thời gian đi du ngoạn đất Ngô Việt.

hình thư pháp: internet



15/1/23

Lạc Trung phỏng Viên thập di bất ngộ

 洛中訪袁拾遺不遇 

洛陽訪才子,      Lạc Dương phỏng tài tử,

江嶺作流人。      Giang Lĩnh tác lưu nhân.

聞說梅花早,      Văn thuyết mai hoa tảo,

何如北地春?      Hà như bắc địa xuân?

孟浩然                    Mạnh Hạo Nhiên

Giản thể. 洛阳访才子,江岭作流人。闻说梅花早,何如北地春。

Nghĩa. Đến Lạc Dương thăm bạn là Viên Thập di nhưng không gặp.
Đến Lạc Dương thăm người bạn có tài,
nhưng bạn nay đã thành tội nhân bị đi đày đến Giang Lĩnh ở phương nam rồi.
Nghe nói ở nơi phương nam đó hoa mai nở sớm,
có đẹp như mùa xuân nơi quê hương ở đất bắc này?

Tạm dịch

Đến nhà thăm bạn thiết,

Bạn đã bị lưu đày.

Nghe đó có mai sớm,

Đẹp như xuân ở đây?

Chú

洛中 Lạc Trung: chỉ Lạc Dương 洛陽.

拾遺 Thập di: tên một chức quan đời Đường, phẩm trật không cao, chỉ tòng bát phẩm.

才子 tài tử: người tài, chỉ Viên thập di.

江嶺 Giang lĩnh: tức Giang Nam lĩnh ngoại. 嶺 lĩnh: dãy núi, ở đây chỉ dãy núi Đại Dữu, nằm ở ranh giới hai tỉnh Giang Tây và Quảng Đông. Thời Đường người có tội thường bị đày ra bên ngoài (phía nam) dãy núi này.

流人 lưu nhân: người bị lưu đày, chỉ Viên Thập di.

梅花早 mai hoa tảo: hoa mai nở sớm. 早 tảo là hình dung từ, dùng như động từ làm vị ngữ.

北 bắc: phía bắc. bản khác: 此 thử: nơi này.

孟浩然 Mạnh Hạo Nhiên (689 - 740) nhà thơ thời Thịnh Đường, tác giả bài Xuân hiểu nổi tiếng, được đưa vào học trong chương trình văn học PT (dã từng giới thiệu). Ông là bạn thân của Vương Duy, cùng với Vương Duy được người đời gọi chung là “Vương Mạnh”.Vương Duy có viết bài Tống biệt (há mã ấm quân tửu) rất hay tặng ông khi ông bỏ quan về ở ẩn. Ông thuộc thế hệ đàn anh của Lí bạch, rất được Lí bạch quý trọng, có bài thơ tiễn ông "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng" nổi tiếng.


Hình trên internet



14/1/23

TIẾNG VIỆT QUA MỘT SỐ BÁO

 Trong bài báo này, tác giả đã khảo sát hơn 100 câu trên 20 trang báo Tuổi Trẻ số ra ngày 8/3/2010, chỉ ra những lỗi liên quan đến logic, từ vựng và ngữ pháp.

Mặc dù có mắc lỗi trích dẫn, bị admin trang blog Từ trắc học mắng "Nhà ngôn ngữ học không biết cách trích dẫn nên biết tự thẹn và không nên chê bai nhà báo không biết viết câu" (*), tôi thấy, bài báo vẫn rất thú vị và có ích. Những lỗi được phân tích trong bài ai cũng có thể mắc phải nếu thiếu cẩn thận. Bài báo tìm được trên internet lưu dưới dạng file .pdf khá khó đọc trên điện thoại, nên tôi chép lại đây cho dễ đọc.



TIẾNG VIỆT QUA MỘT SỐ BÁO
Nguyễn Vân Phổ
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM

TÓM TẮT:
Trong bài viết này, chúng tôi khảo sát ngẫu nhiên một số báo (báo Tuổi Trẻ, ra. ngày 8/3/2010, gồm 20 trang, không kể quảng cáo). Chúng tôi thu thập được hơn 100 câu và loạt câu (xấp xỉ 8 tờ A4) có thể xem là có "lỗi" hay có “vấn đề". Những trường hợp đó thuộc ba kiểu lỗi: (i) lỗi logic, (ii) lỗi từ vựng và (iii) lỗi ngữ pháp.
Chúng tôi cho rằng tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng (của các nhà báo) là đáng báo động chứ không phải tiếng Việt của lứa tuổi thanh thiếu niên khi "chat" hay nhắn tin với nhau.
Từ khóa: báo chí, lỗi diễn đạt, lỗi ngữ pháp, lỗi từ vựng, mạch lạc, tiếng Việt.

1. Giữ gìn tiếng Việt là mối quan tâm của rất nhiều người Việt Nam từ nhiều năm nay, gần đây nhất là loạt bài đăng trên báo Tuổi Trẻ cuối năm 2009 - đầu năm 2010. Nếu tìm trên mạng, chúng ta có thể thấy rất nhiều website của các tổ chức, cơ quan và cá nhân có đề cập ít nhiều đến vấn đề này.([1]) Đặc biệt, các diễn đàn ở các website này quy tụ không ít những thành viên có thể được xem là trẻ tuổi (căn cứ vào những thông tin mà các thành viên đó cung cấp hoặc căn cứ vào ngôn từ mà họ sử dụng).
Nhìn chung, thái độ của hầu hết những người tham gia thảo luận trên mạng có một số điểm chung: (i) tiếng Việt đang bị nghèo đi, xấu đi do sự lạm dụng từ ngữ tiếng nước ngoài, (ii) tiếng Việt đang bị biến dạng do sự phá phách hoặc sự giản tiện hóa quá mức (để thích hợp với việc nhắn tin hoặc “chat”), (iii) cần và phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Về những nguyên nhân gây ra những hiện tượng đáng lo ngại liên quan với tiếng Việt, có vẻ như dư luận hay nhắc đến:
– Yếu tố bên trong: thói học đòi, vọng ngoại, sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của một bộ phận xã hội, chủ yếu là giới trẻ;
– Yếu tố bên ngoài: Việt Nam hội nhập thế giới, kinh tế thị trường phát triển, thông tin bùng nổ (đi kèm với sự phổ biến của điện thoại di động, máy tính, internet), văn hóa nước ngoài xâm nhập, v.v..
Những điều vừa nói trên có lẽ không có gì sai. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, các hiện tượng tiêu cực vừa kể chỉ là những hiện tượng bề mặt, hiện tượng ngoại vi. Nó có thể được điều chỉnh bằng một vài quy định nhà nước (chẳng hạn, Chính phủ cấm sử dụng tiếng nước ngoài ở một số phạm vi, lĩnh vực, phương tiện), bằng một vài phong trào xã hội, và đặc biệt là nó sẽ biến đổi hoặc biến mất cùng với sự thay đổi (hoặc trưởng thành) của chủ thể sử dụng. Điều thứ ba này có thể thấy rất rõ trên mạng: ở rất nhiều diễn đàn, ban quản trị (với sự ủng hộ của các thành viên) đưa ra quy định (chứ không chỉ là khuyến cáo) về cách thể hiện tiếng Việt, chẳng hạn như phải có dấu thanh, không được viết tắt khó hiểu, không được sử dụng ngôn từ xúc phạm người khác, v.v.. Và rất nhiều thành viên xác định rõ ràng rằng cái ngôn từ (thực ra chủ yếu là chữ viết) “chít chát” chỉ sử dụng trong phạm vi giao tiếp cá nhân hay có tính chất cá nhân (do bắt chước, do tiện dụng, do muốn biểu hiện cá tính, v.v.) còn thì họ “không dại gì” dùng nó để viết đơn xin việc làm hay để nói với cấp trên.
Chúng tôi cho rằng tình trạng đáng báo động của tiếng Việt không thể hiện ở các hiện tượng (liên quan đến “giới trẻ”) vừa đề cập mà là ở các sản phẩm ngôn ngữ được tạo ra bởi chính bộ phận tinh hoa của xã hội – trước hết là các nhà văn, nhà báo, giáo viên, những người mà sản phẩm ngôn ngữ của họ có vai trò định hướng đối với xã hội. Trong đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến báo chí, trước hết là báo viết, vì nó là sản phẩm ngôn ngữ mà mọi tầng lớp xã hội đều ít nhiều có tiếp xúc trong sinh hoạt hàng ngày của mình.
Vậy, tiếng Việt trong báo như thế nào?

2. Chúng tôi đã thử khảo sát ngẫu nhiên diện mạo tiếng Việt ở một tờ báo duy nhất (tờ Tuổi Trẻ) trong một số duy nhất (ra ngày 8 tháng 3 năm 2010, 20 trang, không tính quảng cáo).([2])
Kết quả: chúng tôi thu thập được khoảng 100 câu và đoạn câu (với 8 trang A4, cỡ chữ 12, Times New Roman) mà theo chúng tôi là có “vấn đề”. (Sau đây chúng tôi tạm gọi những “vấn đề” đó là “lỗi” để tiện trình bày, dù biết rằng “lỗi” là một khái niệm động và trong nhiều trường hợp không dễ đạt được sự đồng thuận của các nhà ngôn ngữ học, cho nên cần phải được thảo luận thêm).
Chúng tôi không tiến hành đếm, phân loại và tính tỉ lệ một cách rành mạch các lỗi đã thu thập được, vì nhiều lý do:
– có những câu riêng nó không có lỗi (ngữ pháp, từ vựng), nhưng nó lại có vấn đề khi nằm trong quan hệ logic với những câu khác – tức cách lập luận;
– có yếu tố là lỗi chỉ khi nằm trong quan hệ với yếu tố khác trong cùng một câu hoặc ở một câu khác – một trong hai yếu tố ấy đều có thể quy là lỗi;
– có những lỗi được xác định là lỗi từ vựng hoặc lỗi ngữ pháp hoặc lỗi logic là tùy vào hướng khắc phục (hơn nữa, không dễ gì xác định ranh giới giữa phạm trù từ vựng và phạm trù ngữ pháp);
– có những trường hợp có “vấn đề” nhưng khó có thể xác định đó là lỗi, vì trên thực tế người đọc không thể biết chính xác điều mà người viết muốn diễn đạt.
Trong khuôn khổ bài này chúng tôi không đề cập đến các lỗi liên quan đến dấu câu và cách viết hoa, dù những lỗi này khá phổ biến và không phải là không nghiêm trọng. Lý do: (i) những lỗi thuộc dạng này quá nhiều và tương đối giống nhau; (ii) về dấu câu, khả năng tùy chọn trong nhiều trường hợp là rất lớn; (iii) về cách viết hoa, hiện nay chưa có quy tắc nào được xem là chuẩn mực, do đó, muốn xác định lỗi e rằng phải trình bày cặn kẽ một quan điểm có thể chấp nhận được; (iv) trong giới hạn của một bài viết, trình bày những lỗi dạng này là một điều khó.

3. Các lỗi ghi nhận được có thể tạm phân thành hai nhóm: những lỗi liên quan đến nội dung diễn đạt, và những lỗi liên quan đến hình thức diễn đạt: từ vựng và ngữ pháp.
3.1. Những lỗi liên quan đến nội dung diễn đạt là những lỗi thuộc về logic-nhận thức: (i) ý được triển khai không mạch lạc, câu (hoặc đoạn câu) trở nên khó hiểu, khó chấp nhận; (ii) nội dung muốn truyền đạt có thể gây ngờ vực về mặt nhận thức, (iii) quan hệ phụ thuộc hoặc bao hàm giữa các khái niệm chưa được xử lý tốt.
(Như đã nói ở trên, việc phân loại lỗi không phải là việc dễ dàng, vì khi một từ dùng sai không đơn thuần là lỗi từ vựng mà có thể xem là lỗi nội dung diễn đạt – liên quan đến độ chênh giữa nhận thức của người viết và nội hàm của từ-khái niệm. Cái từ dùng sai ấy nếu đặt trong quan hệ kết hợp với những yếu tố khác thì lại có thể xem là một lỗi ngữ pháp. Do vậy, sự phân loại dù xuất phát từ quan điểm nào thì cũng chỉ có ý nghĩa tương đối).([3])
Lỗi về nội dung diễn đạt trước hết là sự thiếu mạch lạc, thiếu logic. Chẳng hạn:
(1) Trao đổi với Tuổi Trẻ, một quan chức cho rằng tổ ấm gia đình là khởi nguồn mọi thành công của người phụ nữ. Do vậy, mái ấm không đảm bảo thì có thành công trong sự nghiệp, phụ nữ vẫn buồn.
Điều thứ hai là được tổ chức tạo điều kiện và được đánh giá đúng, được đồng nghiệp công nhận. Trong gia đình, người phụ nữ đã chịu vất vả, thiệt thòi. Họ cũng phải phấn đấu cho sự nghiệp.
Điều thứ ba, người phụ nữ muốn thành công thì phải chịu học, chịu đọc. Học ở đây không phải là chạy theo bằng cấp mà tri thức phải luôn được bồi đắp bằng cách tự học, tự nghiên cứu, học ở thực tế, ở đồng nghiệp, đồng bào.
Ở đoạn trích trên (chúng tôi phân đoạn và gạch dưới để dễ theo dõi - NVP), từ “khởi nguồn” làm cho người đọc chờ đợi những phân tích liên quan đến vai trò của “tổ ấm gia đình” đối với thành công của người phụ nữ. Hóa ra không phải như vậy, tác giả trình bày nó chỉ như là một trong ba điều kiện bảo đảm thành công của phụ nữ.
Sau đó, đọc kỹ, ở mỗi điều kiện người đọc đều cảm thấy lập luận có vẻ được triển khai không hợp lý: Ở điều thứ nhất, logic thông thường phải là “mái ấm không đảm bảo thì phụ nữ sẽ không thành công (hoặc khó thành công hoặc chưa được xem là thành công) (chứ không phải là “buồn”); hơn nữa, nếu cái “khởi nguồn” ấy “không đảm bảo” thì làm sao có thành công để mà “buồn”?! Ở điều thứ ba, logic thông thường sẽ là “học ở đây không phải là chạy theo bằng cấp mà là học thực sự, học để thu nhận kiến thức, có lẽ vì người đọc chờ đợi một cấu trúc như sau: “A không phải là X mà là Y”. (Ngoài ra, ở điều thứ ba, có một hàm ngôn (implicature) làm người đọc phải suy nghĩ: phải chăng việc “học” (của phụ nữ) thường chỉ là việc “chạy theo bằng cấp” nên người viết phải lên tiếng cảnh báo? Bởi vì, theo logic thông thường, người đọc sẽ chờ được nghe: học cái gì, tại sao phải học (quan hệ giữa dẫn ý và tiếp ý)).
Riêng điều thứ hai, thoạt tiên người đọc có thể tiếp nhận dễ dàng: phụ nữ cần được tạo điều kiện vì trong gia đình họ “đã chịu vất vả, thiệt thòi”. Tuy nhiên, quan hệ ngữ nghĩa giữa câu thứ ba (“Họ cũng phải phấn đấu cho sự nghiệp”) và câu thứ hai của đoạn này đã dẫn đến một suy ý: phụ nữ cần được tổ chức tạo điều kiện, đồng nghiệp công nhận là vì họ chịu hai điều, một là “vất vả, thiệt thòi” trong gia đình và hai là “phấn đấu cho sự nghiệp”! Mà điều thứ hai này không thể xem là một cái gì đó có tính chất (bất lợi) như điều thứ nhất!
Sau đây là một trường hợp khác:
(2) Mỗi phụ nữ vào ngày này hãy biết vui mừng về sự tiến bộ của bình đẳng giới - một sự tiến bộ mà nếu phụ nữ không muốn và nam giới không ủng hộ thì cũng khó mà tạo ra.
Câu trên không có sai sót gì về từ vựng, ngữ pháp (nếu không tính cách sử dụng danh ngữ “bình đẳng giới”). Tuy nhiên, về nội dung, sự có mặt của vị từ “biết” lại làm người đọc ngờ ngợ. “Kể từ khi tôi biết yêu biết ghét” nghĩa là kể từ khi tôi trưởng thành hoặc tôi có đủ hiểu biết /đủ khả năng tinh thần để yêu, ghét. Phải chăng người viết cho rằng có những phụ nữ không ý thức được đầy đủ ý nghĩa của sự tiến bộ trong cuộc đấu tranh bình đẳng giới? Tiếp đó, tác giả cho rằng sự tiến bộ không thể được “tạo ra” nếu “phụ nữ không muốn” và “nam giới không ủng hộ”. Chính cái điều kiện thứ hai này làm nảy sinh ngờ vực: Sự bình đẳng giới không phải do đấu tranh mà có ư? Nếu nam giới không ủng hộ thì sao?
Tương tự:
(3) Phương hạnh phúc mỗi khi gặp khó khăn lại được như một con mèo nhỏ nép vào bờ vai mạnh mẽ của một người đàn ông để được yêu thương và chia sẻ.
(4) Trong khuôn khổ Ngày điện ảnh Việt Nam cũng sẽ diễn ra Cuộc thi sáng tác kịch bản phim Truyện Kiều. Giải đặc biệt dành cho kịch bản phim Truyện Kiều xuất sắc nhất là 200 triệu đồng.
Câu (3) không có lỗi gì về từ vựng, ngữ pháp. Tuy nhiên, cấu trúc mỗi... một... lại mang lại một nét nghĩa tường minh: “mỗi khi gặp khó khăn”, Phương lại cần “một người đàn ông”. Một nhu cầu (về đàn ông) như thế liệu có quá đáng chăng?
Câu (4) cũng không có gì sai, nhưng về nội dung thì người đọc có quyền nghi ngờ: chỉ trong khuôn khổ một ngày thôi mà có thể sáng tác (và bình chọn) kịch bản phim Truyện Kiều được ư?
Lỗi về nội dung diễn đạt còn thể hiện ở cách xử lý mối quan hệ giải thích hoặc liệt kê giữa các thực thể, đối tượng – về bản chất đây là mối quan hệ thượng danh - hạ danh (hypernym - hyponym) giữa các khái niệm do danh từ/danh ngữ diễn đạt. Chẳng hạn:
(5) Nhiều bảng hiệu buôn (người Việt, người Minh Hương, người Việt gốc Hoa) nổi tiếng một thời ở Hội An và ở cả xứ Đàng Trong còn đến bây giờ như: Vạn Bửu, Tấn Ký, Thuận An Đường, Tường Lan, Đức Hưng, Đại Xáng...
(6) Đông đảo người dân và người đi đường vừa hãi hùng tránh đường vừa trố mắt ngạc nhiên.
(7) Nếu không có gà cũng có thể sử dụng giò heo, thịt heo, bồ câu, vịt, dê, tùy ý thích và tùy đối tượng sử dụng. Tất cả đều tốt cho người già, nam giới, phụ nữ mang thai hoặc sau sinh, thanh thiếu niên, trẻ em suy dinh dưỡng. Mỗi tuần có thể ăn một lần.
Ở (5), người đọc có thể thắc mắc mối quan hệ hạ danh - thượng danh giữa “người Minh Hương” và “người Việt gốc Hoa”, giữa “Hội An” và “xứ Đàng Trong”. Ở câu (6) cũng tương tự. (Riêng ở câu (6) còn một trạng thái mà người đọc khó tưởng tượng: một người “vừa hãi hùng” “vừa trố mắt ngạc nhiên” thì vẻ mặt của những người đó sẽ ra sao?!).
Ở câu (7), trong những “loại” người mà tác giả liệt kê hình như chỉ thiếu phụ nữ “bình thường” (nghĩa là không phải “mang thai”, không phải “sau khi sinh”) còn thì đủ cả. Vậy có cần phải phân biệt “đối tượng sử dụng” (“tùy đối tượng sử dụng”) không? (Chưa kể, “thanh thiếu niên” cũng bao hàm “trẻ em suy dinh dưỡng”).
Có một hiện tượng cũng có liên quan đến vấn đề này, đó là sự không đồng chất trong quan hệ giữa các thực thể, đối tượng được nêu ra. Ví dụ:
(8) Ngoài ngành hàng tiêu dùng của Việt Nam có mặt ổn định tại Lào, cạnh tranh ngang ngửa thậm chí thắng thế hàng Thái, hiện nay hàng loạt tập đoàn lớn trong nước như Viettel Mobile, Điện lực Việt Nam, Sacombank, Lao - Viet bank, Công ty cổ phần cao su Việt - Lào... đều xuất hiện trên đất nước triệu voi.
(9) Với cách tổ chức ngày hội bằng nhiều hoạt động, nhiều loại hình trường tham gia như năm nay, những thông tin hết sức cần thiết sẽ đến được với thí sinh để lựa chọn ngành dự thi phù hợp.
Liệu “ngành hàng” và “tập đoàn”, “hoạt động” và “loại hình trường tham gia” có đồng chất với nhau không? có quan hệ cân bằng với các yếu tố khác trong câu không? Ở câu (9) còn có vấn đề ở chỗ dùng từ “bằng”, và ở chỗ thành phần trạng ngữ “để lựa chọn...” (ai lựa chọn?).

3.2. Những lỗi về từ vựng thường có hai dạng: (i) dùng từ ngữ không đúng, không đắt; và (ii) sử dụng từ ngữ theo kiểu khẩu ngữ, do đó nội hàm và ngoại diên không rõ ràng. Chẳng hạn:
(10) Bỗng tất cả con mắt hiếu kỳ đổ dồn về phía một tay đua bị ngã lăn lộn mấy vòng, văng ra khỏi đường phố.
(11) Tại TP.HCM, dự kiến một ca điều trị ung thư tuyến tiền liệt bằng HIFU có giá thành khoảng 50 triệu đồng.
(12) Từ ngày 6-3, các điểm kinh doanh hoa đang tăng công suất để đáp ứng kịp hóa đơn đặt trước. Hiện nay các loại hoa hồng giá 5.000-8.000 đồng/bông, riêng hoa hồng đỏ giá cao hơn 1.000-2.000 đồng.
(13) Bí thư T.Ư Đoàn Phan Văn Mãi đề nghị mỗi bạn trẻ, các cấp bộ Đoàn - Hội - Đội cần có những hành động cụ thể, thiết thực bảo vệ cảnh quan môi trường sống quanh mình để ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời vận động mọi người cùng tham gia và ý thức hơn trong việc giữ gìn môi trường sống chung.
Ở (10), một người khi bị “văng ra khỏi đường phố” thì sẽ văng đến đâu? Ở (11), “giá thành” của một ca điều trị có phải là “chi phí” điều trị không? Có “giá thành” thì có giá bán và tiền lãi không? Ở (12), “đáp ứng hóa đơn” liệu có chỉn chu? Cái “hiện nay” để chỉ khoảng thời gian vài ngày trước 8/3 có giống với cái “hiện nay” trong “hiện nay chúng ta đang tiến hành công nghiệp hóa” không? Và có thể nói “hiện nay mưa to quá” không? Ở (13), “cảnh quan môi trường” là gì? “cảnh quan”? “môi trường”? “cảnh quan của môi trường”? hay “cảnh quan và môi trường”? (Riêng câu (13) còn hai lỗi khó chấp nhận: vị từ “đề nghị” luôn được sử dụng theo mẫu “(ai) đề nghị (ai) (V)” chứ không phải là “(ai) đề nghị (ai) cần (V)”; và vị từ “vận động” cũng vậy: “(ai) vận động (ai) (V)”, ở đây “V” phải được thể hiện bằng một vị từ hành động có chủ ý chứ không thể là “ý thức” ([-hành động] [-chủ ý])).
Trong 20 trang báo mà chúng tôi khảo sát có hai khái niệm chưa thấy có trong Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (1995):
(14) Ban tổ chức sẽ chọn năm phim ngắn để trình chiếu trong vòng chung kết tại Hội luận điện ảnh lần thứ 5, phim hay nhất sẽ do các tham luận viên của hội luận điện ảnh bình chọn và trao giải tại buổi hội luận điện ảnh.
“Hội luận (điện ảnh)” ((cinema) symposium – chú thích của chính tác giả) có gì khác với “hội thảo”, “hội nghị” hay “hội nghị chuyên đề”? Và “tham luận viên” có khác với “báo cáo viên” hay “người tham dự”?
Về từ vựng, chúng tôi cho rằng có hiện tượng nói tắt trong khẩu ngữ xâm nhập vào phong cách viết, tạo ra những khái niệm mơ hồ về nghĩa (câu (15) – (17)) hoặc tạo ra những ngữ định danh thiếu tính chặt chẽ và tính hợp lý (dù rằng suy cho cùng bản chất của dấu hiệu ngôn ngữ là võ đoán). Chẳng hạn:
(15) Theo bà, một phụ nữ muốn phấn đấu, tiến bộ cần những yếu tố gì?
(16) Đợt không khí lạnh làm nhiệt độ phổ biến ở hai khu vực này giảm xuống 17-21OC.
(17) Lạng lách vài vòng trên đường Nguyễn Tất Thành đông nghẹt phương tiện qua lại, các tay đua hoàn tất khâu thử máy và lên đường vào vòng đua.
(18) Họ cũng phải phấn đấu cho sự nghiệp.
(19) Những chiếc xe này cao trên 50cm, dài hơn 80cm, nặng 25-30kg, bề ngoài nhái mẫu mã y như môtô phân khối lớn.
(20) Sắp tới, chúng tôi mong muốn khơi gợi được tinh thần lãnh đạo đắc nhân tâm cho cộng đồng doanh nghiệp.
Ở (15), “phấn đấu” là phấn đấu cho cái gì, phấn đấu làm gì? Cố gắng làm một bữa cơm tươm tất cho gia đình với một số tiền ít ỏi có phải là “phấn đấu” không? Ở (18), khái niệm “sự nghiệp” cũng mơ hồ tương tự. Ở (16), “phổ biến” được hiểu như thế nào? Và nếu nó có một nội hàm chặt chẽ nào đó (theo các nhà chuyên môn) thì liệu người đọc bình thường có thể tiếp nhận được không?
Theo hiểu biết thông thường, “phương tiện” là một khái niệm bao trùm “xe cộ”, vậy (ở câu (17)) khi “qua lại” trên đường, ngoài “xe cộ” còn “phương tiện” gì khác nữa? Có cần thiết phải dùng “phương tiện” thay cho “xe cộ”? Theo Từ điển Hoàng Phê (1995), “lên đường” là bắt đầu rời nơi đang ở để đi xa, vậy “lên đường vào vòng đua” được hiểu thế nào? Hay “lên đường vào vòng đua” = “bắt đầu đua”? Ở (20), “cộng đồng doanh nghiệp” chắc chắn chỉ một tập thể, một giới, vậy tại sao không phải là “cộng đồng doanh nhân”? Hay “doanh nghiệp” = “doanh nhân”?
Riêng ở câu (19), cách nói “môtô phân khối lớn” là một hiện tượng đáng suy nghĩ. Phân khối (= cc) là một đơn vị đo lường cho nên không có lớn và nhỏ. Tất nhiên, ai cũng biết xe “phân khối lớn” nghĩa là xe có dung tích xilanh lớn. Có lẽ bất cứ thứ tiếng nào cũng có những chọn lựa không phải là tối ưu tương tự như thế. Nhưng liệu cách định danh như thế có làm cho tiếng Việt nghèo đi hoặc kém logic không? Phải chăng không còn chọn lựa nào khác? (Hơn nữa, dung tích xilanh bao nhiêu thì được xem là lớn? Mươi năm trước, đa số xe sử dụng là loại Honda Cub từ 70cc trở xuống nên 100cc cũng đã được xem là lớn!).([4])
(Thật ra, các hiện tượng ở (15)-(20) hầu như không bị người đọc hiểu sai. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ, tại sao các phương tiện thông tin đại chúng lại không phải là các kênh cung cấp những ngữ định danh có tính gợi mở và chuẩn mực hơn?)

3.3. Lỗi về ngữ pháp có vẻ đa dạng hơn. Trong đó, chúng tôi chú ý các biểu hiện sau đây: (i) dùng sai hoặc mơ hồ các yếu tố hay các biểu thức quy chiếu (chủ yếu là hồi chỉ); (ii) không thể hiện đúng cấu trúc vị ngữ hạt nhân; (iii) nhập nhằng trong quan hệ cú pháp giữa các thành phần câu; (iv) sai kết từ; (v) không chuẩn mực trong việc tổ chức ngữ đoạn.
Trước hết, có thể thấy có một số trường hợp người viết quy chiếu sai hay quy chiếu mơ hồ. Chẳng hạn:
(21) Phải giúp phụ nữ hạnh phúc trong cả công việc lẫn gia đình thì đó mới thật sự là bình đẳng giới.
(22) Phần lớn tranh bày tỏ lòng yêu quý và tôn trọng đối với những phụ nữ quanh mình...
(23) Nhờ có sự khởi đầu lẻ loi ấy, năm 1920 Quốc hội Mỹ mới chịu thông qua đạo luật cho phép phụ nữ đi bầu cử bên cạnh cử tri nam. Đạo luật này được thông qua ở Canada năm 1960, ở Úc năm 1966, ở Thụy Sĩ năm 1971. (1-4)
(24) Thành viên khác của nhóm, Lý Văn Lợi, cho biết mỗi năm có khoảng 6.500 sinh viên ĐH Cần Thơ ra trường, theo đó là việc loại bỏ các đồ dùng sinh hoạt với giá cho không hoặc đi vào các đống rác.
(25) Chiều 7-3, liên quan đến vụ sạt lở nghiêm trọng tại cầu Trà Niền (huyện Phong Điền), ông Nguyễn Thanh Sơn - phó chủ tịch UBND TP Cần Thơ - cho biết cơ quan chức năng hiện đang xử lý hiện trường, tiến hành trục vớt nhà cửa của dân. Đồng thời đã họp khẩn để chỉ đạo các cơ quan chức năng gồm ngành giao thông, xây dựng, công an khảo sát toàn diện hiện trường nhằm có bước đánh giá thiệt hại, tìm ra nguyên nhân của vụ sạt lở nghiêm trọng này.
(26) Cùng một công việc nếu phụ nữ đạt yêu cầu thấp hơn một chút thì nên ưu tiên cho phụ nữ. Nhưng thực tế ở nhiều khía cạnh như quyết định một vấn đề gì đó, ý kiến của phụ nữ có vai trò thấp hơn nam giới. Nếu người phụ nữ ấy từng có nhiều ý kiến1 đem lại thành công thì ý kiến2 còn có ý nghĩa, nếu không thì thường bị xem nhẹ.
Ở (21), “đó” chỉ hành động “giúp phụ nữ”, hay chỉ “phụ nữ hạnh phúc”, hay chỉ toàn bộ thành phần đứng trước? Dù chỉ cái gì thì cả ngữ đoạn “đó... bình đẳng giới” cũng phải được tổ chức lại để rõ nghĩa hơn. Ở (22), về ngữ phá p, “mình” quy chiếu “tranh”, câu không thể chấp nhận được. Ở (23), “đạo luật này” là đạo luật đã được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1920. Như vậy, sau đó nó lại được Canada, Úc, Thụy Sĩ thông qua?! Ở (24), người đọc không thể xác định được đối tượng hồi chỉ của “đó”. (Thông thường, “(theo) đó” thường được sử dụng để quy chiếu một văn bản (luật, quy định, quyết định, thông báo, v.v.)).
Ở (25), do câu thứ hai trong ví dụ này (“đã họp khẩn”) thiếu đề (/ chủ ngữ) nên về ngữ pháp có thể hiểu “cơ quan chức năng” là đề của vị từ “họp”, ta có: “cơ quan chức năng chỉ đạo cho các cơ quan chức năng”! Đó là chưa kể trạng ngữ “đồng thời” làm người ta nghi ngờ về cách làm việc của “cơ quan chức năng”: làm sao “xử lý hiện trường, tiến hành trục vớt” đồng thời với “họp khẩn”?!
Ở (26) tình hình còn rắc rối hơn: Thứ nhất, “quyết định” không thể là một trường hợp của “khía cạnh”, nên không thể viết “ở nhiều khía cạnh như quyết định một vấn đề gì đó”. Thứ hai, “người phụ nữ ấy” không thể quy chiếu “phụ nữ” trước đó được, vì “phụ nữ” là một danh từ khối. Thứ ba, “ý kiến2” không thể quy chiếu cho “ý kiến1” vì không có yếu tố hồi chỉ (“đó”, “ấy”).
Rõ ràng việc quy chiếu trong những câu và đoạn câu trên đã làm tổn hại đến việc diễn đạt nội dung.
Hiện tượng thứ hai cần chú ý về ngữ pháp là hiện tượng liên quan đến cấu trúc hạt nhân vị từ (cấu trúc tham tố).
Ở ví dụ (13) ở trên chúng tôi đã có nhắc đến trường hợp vị từ “đề nghị” (không có “nên” trong cấu trúc hạt nhân của nó) và vị từ “vận động” (không thể kết hợp với vị từ [-động] [-chủ ý]. Sau đây là một vài trường hợp khác:
(27) Họ hướng dẫn các bà mẹ nên cho trẻ tránh tiếp xúc với các loại thực phẩm này ngay từ ba tháng cuối của thai kỳ cho đến khi trẻ được 2 tuổi.
(28) Ngày 7-3, tại TP.HCM diễn ra nhiều hoạt động kỷ niệm Ngày quốc tế phụ nữ 8-3 và 1.970 năm ngày khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Trong đó, như Hội Liên hiệp phụ nữ TP phối hợp tổ chức hội thi “Trổ tài nội trợ” thu hút hàng trăm phụ nữ tham gia các tiết mục nấu ăn, cắm hoa...
(29) Các bác sĩ nhận định đây là trường hợp có diễn tiến bệnh rất nhanh, gây nhiễm trùng huyết, suy đa cơ quan dẫn đến tử vong.
(30) Có thể nói quá trình diễn tập ngày 6-3 đã giúp khắc phục ngay những nhược điểm trong công tác lai dắt đốt hầm Thủ Thiêm. Trong đó, công tác cảnh báo làm tốt và cương quyết không cho phương tiện thủy đi vào khu vực cấm lưu thông.
Ở (27), “hướng dẫn” đòi hỏi hai bổ ngữ (ai) (làm gì) cho nên không thể có “nên” trong khung vị ngữ. Ngoài ra, giữa hai trật tự “các bà mẹ cho trẻ tránh tiếp xúc” và “các bà mẹ tránh cho trẻ tiếp xúc”, có lẽ trật tự sau tốt hơn, vì “tránh” là một vị từ [+động] [+chủ ý] có lẽ thích hợp với chủ thể là “các bà mẹ” hơn là “trẻ” (trong đó có cả thai nhi). Ở (28), vị từ “phối hợp” cũng cần có ít nhất một bổ ngữ: [(ai) phối hợp với (ai)]. Ở (29), vị từ “gây” đòi hỏi tác thể (ai / cái gì). Ở (30), “công tác cảnh báo” không thể đóng vai trò chủ thể của “làm tốt” và “cương quyết không cho”. Hơn nữa, “làm tốt” (cái gì) và “cương quyết không cho” (ai - làm gì / cái gì - diễn ra) không thể có cùng bổ ngữ.
Một vấn đề ngữ pháp khác cần được chú ý, đó là hiện tượng nhập nhằng chức năng cú pháp trong câu. Chẳng hạn các câu sau đây:
(31) Tôi cho rằng sau khi lai dắt thành công đốt hầm này sẽ giúp chúng tôi có thêm kinh nghiệm, nhưng chúng tôi không chủ quan khi lai dắt các đốt hầm số 2, 3 và 4.
(32) Những chiếc xe này cao trên 50cm, dài hơn 80cm, nặng 25-30kg, bề ngoài nhái mẫu mã y như môtô phân khối lớn.
(33) Tóm lại, việc phối hợp các thực phẩm trên vừa là thức ăn cung cấp năng lượng cho cơ thể vừa là thuốc bổ dưỡng giúp ta sống khỏe.
(34)Vẫn theo báo cáo trên viết: “Sự vươn lên của các nhà lãnh đạo nữ chắc chắn có liên hệ ít nhiều với việc họ là những thành viên của các danh gia vọng tộc: tất cả họ đều là con gái, vợ hay vợ góa của các nhà cựu lãnh đạo hay những nhân vật đối lập hàng đầu”.
(35) Ông Nguyễn Đăng Nghĩa - đại biểu HĐND TP, kiến nghị ngoài siết chặt quản lý, nâng trách nhiệm của quản lý nhà nước, người sản xuất thì cần đẩy mạnh bán hàng ở hệ thống siêu thị.
(36) Ngay lập tức Danny lấy được cảm tình của HLV trưởng Jose Luis lẫn trợ lý Trần Công Minh bởi kỹ thuật khá nhuyễn, nhãn quan chiến thuật tốt cùng khả năng di chuyển liên tục không biết mệt mỏi dù anh chỉ cao 1,68m. Vì thế, chỉ sau một thời gian ngắn thử việc Danny đã được ký hợp đồng do hòa nhập rất nhanh vào lối chơi của toàn đội.
(37) Với những thông tin từ các website chính hãng, Như thiết lập một kho dữ liệu trên 50 sản phẩm điện tử, áo quần, đồ dân dụng... như tính năng, cấu hình, trọng lượng của sản phẩm do nhà cung cấp đưa ra, giá bán bao nhiêu và đại lý thường có ở đâu.
Ở (31), “sau khi” cùng với ngữ đoạn sau nó tạo thành một khung đề (/ trạng ngữ), trong khi câu cần một chủ đề (/chủ ngữ), do đó câu sai ngữ pháp. Ở (32) ta có một hiện tượng “chập cấu trúc”: “bề ngoài nhái mẫu mã (của) môtô phân khối lớn” và “mẫu mã y như môtô phân khối lớn”. Ở (33), câu chưa có thuyết (/ vị ngữ), vì phần thuyết của câu thực chất chỉ là phần thuyết của “các thực phẩm trên”. Hiện tượng sai ngữ pháp này hiếm gặp trong tiếng Việt. Ở (34), vị từ “viết” làm thành phần dẫn nhập mất tư cách trạng ngữ, nhưng cũng không làm cho nó có tư cách đề (/ chủ ngữ), vì có “vẫn theo”.
Ở (35), sự vắng mặt tác thể của “siết chặt”, của “nâng trách nhiệm” và của “đẩy mạnh” cho phép xác định các tác thể đó là đồng nhất, như vậy câu trở nên khó chấp nhận về mặt nhận thức: cơ quan nhà nước có thể “siết chặt quản lý” chứ không thể “đẩy mạnh bán hàng ở hệ thống siêu thị” được. Ở (36), “chỉ sau một thời gian ngắn thử việc Danny đã ký được hợp đồng” vừa là kết quả của “vì...” vừa là kết quả của “do...”. Câu thiếu tường minh về mặt ngữ pháp lẫn logic. Ở (37), sự có mặt của “như...” làm toàn bộ thành phần đứng sau nó không có mối liên kết nào về ngữ pháp với thành phần chính. (Chưa kể quan hệ nghĩa thượng danh - hạ danh giữa “đồ dân dụng và “sản phẩm điện tử, áo quần”).
Lỗi về kết từ (liên từ, giới từ) cũng là một lỗi ngữ pháp phổ biến trong 20 trang báo này. Có trường hợp dùng sai kết từ, có trường hợp thể hiện quan hệ hô ứng giữa hai thành phần không đúng. Ví dụ:
(38) Ý tưởng dùng các sáng tác thiên tài của Mozart và Ravel như một biện pháp trừng trị đối với những học sinh ngỗ ngược đã khiến cả những người yêu âm nhạc lẫn những người làm công tác về giáo dục nổi giận.
(39) Thủ môn Santos đã có một trận cầu xuất sắc với nhiều pha bắt bóng vô hiệu hóa các chân sút Huỳnh Kesley, Amaobi hay Philani.
(40) Nhà nước, Chính phủ cũng có nhiều chính sách với phụ nữ hơn, ví dụ như ngày 8-3 trước đây không thể long trọng bằng hiện nay. Nhưng thực tế vẫn còn có những vấn đề phụ nữ gặp khó khăn trong công việc và cuộc sống hơn so với nam giới.
(41) Trong tuyển chọn lao động, kể cả phụ nữ đạt tiêu chuẩn ngang bằng nam giới nhưng phụ nữ thường bị thiệt thòi.
(42) Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn trung ương, từ đêm nay (8-3) và sáng 9-3, một đợt không khí lạnh có cường độ mạnh hơn sẽ tăng cường ảnh hưởng đến miền Bắc và Bắc Trung bộ, gây mưa rét ở các tỉnh miền Bắc tới Thừa Thiên - Huế trong hai ngày 9 và 10-3.
(43) Trong công việc sắp xếp hài hòa từ công việc xã hội, công việc gia đình.
(44) Tất cả vật dụng từ đồ nghề sửa xe, phụ tùng thay thế, nước giải khát, dép tông, xăng nhớt... được chuẩn bị kỹ lưỡng.
(45) Phụ nữ ở vai trò công việc nào phải làm tốt công việc ở vị trí của mình.
(46) Gần đây tại nhiều cửa hàng chuyên bán xe gắn máy siêu nhỏ cũng như trên các trang web rao vặt, diễn đàn của dân chơi môtô mini náo nhiệt đến độ nào thì những cuộc đua trên phố cũng “nóng” ngang ngửa.
Ở (38), “trừng trị” cần bổ ngữ trực tiếp (“trừng trị” ai) chứ không thể có “đối với”. Ngoài ra, giới từ “về” làm cho người đọc khó nghĩ: giáo viên là người “làm công tác giáo dục” hay “làm công tác về giáo dục”? Ở (39), liên từ “và” đã bị thay bằng “hay”. Ở (40), giới từ “với” làm cho người đọc nghĩ rằng phụ nữ là đối tượng mà Chính phủ phải đối phó. (Cũng cần chú ý: cái ví dụ mà tác giả đưa ra để chứng minh cho chính sách của Chính phủ có vẻ phản tác dụng; ngữ đoạn “những vấn đề” của câu sau đó cũng không rõ quan hệ ngữ pháp thế nào với các bộ phận khác của câu).
Ở (41), chúng ta có một cấu trúc hoàn toàn phi ngữ pháp. Lẽ ra tác giả phải sử dụng mô hình: “kể cả S cũng V” hoặc “S – V, kể cả S’ ”. Chẳng hạn: “kể cả những phụ nữ đạt tiêu chuẩn ngang bằng nam giới cũng thường bị thiệt thòi” hoặc “phụ nữ thường bị thiệt thòi, kể cả những phụ nữ đạt tiêu chuẩn ngang bằng nam giới”.
Ở (42), “từ” không đi với “đến” (thực ra bỏ “từ” thì tốt hơn), và “tới” lại không đi với “từ” – quan hệ hô ứng hoàn toàn không thể hiện. Ví dụ (43) và (44) cũng tương tự. Ở (45) và (46) cũng có lỗi về quan hệ hô ứng: “nào” phải đi với “cũng” (45), và “nào” phải đi với “nấy/ấy/đó”.
Lỗi ngữ pháp cuối cùng mà chúng tôi muốn đề cập là lỗi về cách tổ chức ngữ đoạn danh từ (danh ngữ).
Trong nhiều trường hợp, ngữ pháp đòi hỏi một thực thể, đối tượng (= một “vật”) phải được diễn đạt bằng một danh ngữ, nhất là khi trước nó có một giới từ. Ví dụ:
(47) Phát biểu tại chương trình nói và làm tháng 3-2010 - do HĐND TP.HCM và Đài truyền hình TP tổ chức sáng 7-3, Chủ tịch HĐND TP Phạm Phương Thảo cho biết thăm dò dư luận ở TP gần đây nhất cho thấy an toàn thực phẩm đứng thứ ba trong số bảy vấn đề bức xúc, chỉ đứng sau bức xúc về giá cả tăng và ngập nước đô thị.
(48) Chị Thanh Hà - chủ một tiệm bán cà phê, ăn sáng và cơm trưa văn phòng trên đường Bà Huyện Thanh Quan (Q.3, TP.HCM) - cho biết ...
(49) Một trong những đội được giới truyền thông chú ý nhất là CLB bóng đá TP.HCM. Mùa giải 2009, với vị trí thứ 4 chung cuộc, CLB bóng đá TP.HCM đã bị truyền thông và người hâm mộ hết lời ta thán. Mùa bóng 2010 này TP.HCM chuẩn bị đón tiếp HLV người Trung Quốc Vương Á Đông ký hợp đồng dẫn dắt ở giai đoạn 2.
(50) Vấn đề hết sức đáng lo ngại hiện nay về an toàn thực phẩm là các ngộ độc mãn tính, có thể không thấy được ngay lập tức, do các loại độc chất nằm trong thực phẩm” - ông Châu cảnh báo.
(51) Theo Quách Văn Đen, thành viên sáng lập câu lạc bộ và cửa hàng 3R GOODS ĐH Cần Thơ, ĐBSCL được dự báo là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu nhưng sự cảnh báo và giáo dục cho cộng đồng còn nhiều hạn chế.
Ở (47), “thăm dò dư luận gần đây nhất”, “giá cả tăng” và “ngập nước đô thị” lẽ ra đều phải được danh hóa: chẳng hạn “cuộc/kết quả thăm dò dư luận”, “chuyện/tình trạng giá cả tăng”, “chuyện/tình trạng ngập nước đô thị”. (Riêng danh ngữ cuối cùng này lại có định ngữ “đô thị” rất khó hiểu – phải chăng đây là một “loại” ngập nước phân biệt với “ngập nước nông thôn”?). Tương tự, ở (48), (49), (50) “ăn sáng”, “truyền thông” và “ngộ độc mãn tính” cần được danh hóa chẳng hạn bằng “thức”, “giới” và “hiện tượng” lần lượt.([5])
Riêng hai ngữ đoạn “an toàn thực phẩm” và “biến đổi khí hậu” trong (50) (51) cần bàn thêm. Về ngữ pháp, hiển nhiên phải danh hóa hai ngữ đoạn trên bằng “hiện tượng”, “tình trạng”, “chuyện”, chẳng hạn. Có một vấn đề đáng suy nghĩ là những ngữ đoạn ấy xuất hiện rất thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta có nhu cầu nói tắt, viết tắt, tức là cố định hóa nó thành một tên gọi – một ngữ định danh. Ở đây áp lực của quy tắc tiết kiệm của ngôn ngữ dường như mạnh hơn các quy tắc ngữ pháp. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, có lẽ không cần xem những trường hợp vừa nói như một biệt lệ như vậy. Cuộc sống phát triển, sẽ ngày càng có nhiều sự kiện, quá trình cần được gọi tên, biệt lệ sẽ trở thành thông lệ.
Hơn nữa, tâm thế của người bản ngữ có lẽ vẫn còn chưa sẵn sàng cho những biệt lệ như thế: Nếu hai hiện tượng trên có thể chấp nhận được (vì có vẻ “quen quen”) thì trường hợp sau đây e rằng khó hơn:
(52) Ngày 7-3, (...) có khoảng 3.000ha lúa mùa chủ yếu ở vùng U Minh Thượng bị mất trắng (thiệt hại từ 70% trở lên) do nắng hạn và xâm nhập mặn.
Rõ ràng ở (52) một cấu trúc “bình thường” dễ được chấp nhận hơn: “...do nắng hạn và do (nước) mặn xâm nhập”.
Về danh ngữ, có nhiều trường hợp phạm lỗi ngữ pháp, theo chúng tôi, khá nghiêm trọng vì liên quan đến bản chất từ loại. Chẳng hạn:
(53) Về và nhìn mẹ gội đầu, vẫn là nước bồ kết thân thương mẹ lấy từ cây bồ kết ở đầu làng.
(54) Không khí đường đua càng nóng khi năm chiếc xe lao nhanh về phía trước với tốc độ rất cao giữa đủ loại xe máy, xe tải, xe container...
(55) Phần lớn xe này không còi, không đề và sử dụng nhiên liệu xăng thơm hoặc xăng pha nhớt (tỉ lệ 25 xăng/1 nhớt).
(56) Bên cạnh sự kiện nổi bật Lễ trao giải Cánh diều vàng 2009, Ngày điện ảnh Việt Nam lần đầu tiên sẽ diễn ra các hoạt động: chiếu phim tiêu biểu của nền điện ảnh dân tộc cách mạng Việt Nam, thi tìm hiểu lịch sử điện ảnh Việt Nam, hội thảo Điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế, hội thảo khuyến khích sáng tác và trải nghiệm nghệ sĩ tại Hà Nội và TP.HCM...
Ở (53), “nước” là danh từ khối không thể có định ngữ trang trí “thân thương” được. (Hơn nữa, làm sao có thể lấy “nước bồ kết” từ cây bồ kết?). Ở (54), “năm chiếc xe” không thể đóng vai trò của đề (/ chủ ngữ) của vị từ theo sau nó, vì nó bất định (ngữ cảnh trước đó không cho biết “năm chiếc xe” nào). Ở (55), danh ngữ “xe này” cần có danh từ đơn vị làm trung tâm, chẳng hạn “(những) chiếc xe này”). Ở (56), “phim tiêu biểu” cũng thiếu danh từ đơn vị làm trung tâm, “những bộ phim tiêu biểu”. Ngoài ra, ở đây chúng ta còn có những kết hợp tối nghĩa: “dân tộc cách mạng”, “trải nghiệm nghệ sĩ”!
Những kết hợp tương tự cũng xuất hiện ở các ví dụ sau:
(57) Theo bà Vũ, nguồn hoa vẫn dồi dào, hoa đẹp về nhiều do chủng loại hoa trong dịp thị trường 8-3 đa dạng từ hoa hồng đến các loại hoa lys, hoa lan, tulip, cát tường...
(58) Trung bình một lẵng hoa từ 300.000-700.000 đồng, mẫu mã khá đa dạng, trong đó có nhiều lẵng hoa được kết theo hình trái tim, mẫu ưa chuộng của dịp ngày tình yêu 14-2.
(59) Giá trị thu nhập kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hóa do phụ nữ mang lại cho gia đình, cho đất nước quá cụ thể đã trở thành yếu tố quan trọng đánh tan mọi mối nghi ngờ, rằng có cần phải bình đẳng giới không và có thể thực hiện bình đẳng giới không.
(60) Nhà trường ngỏ ý trợ vốn nhưng ba bạn lại muốn “khởi nghiệp” từ đôi tay và vốn tự tạo bằng số tiền kiếm được từ những công việc chạy bàn, bán hoa tươi, nuôi dế, viết thư pháp của nhóm.
(61) Các tay đua ở độ tuổi 17-25 liều mạng cưỡi những chiếc xe tí hon lao với tốc độ trên 60-80km/giờ.
Ở (57), (58), “dịp thị trường 8-3”, “dịp ngày tình yêu 14-2” là những danh ngữ lủng củng. Ở (57), tác giả kể ra 4 loại hoa, nhưng chỉ sử dụng 2 từ “hoa”. Tại sao không phải là 4 hoặc là 1?
Ở (59), “giá trị thu nhập kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hóa” là một tổ hợp hoàn toàn vô nghĩa. Ở (60), “vốn tự tạo bằng số tiền kiếm được”, và ở (61), “từ 60-80km/giờ” là những cách diễn đạt tối nghĩa; người đọc sẽ cảm thấy khó hiểu: “vốn tự tạo” nếu không phải bằng “số tiền kiếm được” thì bằng gì? Và “từ 60-80km/giờ” là “từ” bao nhiêu, 60km hay 80km?

4. Kết luận:
Qua một số câu và đoạn câu có “vấn đề” như chúng tôi vừa trình bày ở trên, có thể thấy rằng mối đe dọa đối với tiếng Việt không phải (chỉ) là những biểu hiện bề ngoài liên quan đến sự lạm dụng từ ngữ nước ngoài hay sự quái dị của ngôn ngữ “chit chat” của giới trẻ - đây chỉ là những “bệnh ngoài da”. Sự thiếu mạch lạc, thiếu logic khi diễn đạt một nội dung nào đó, sự thiếu cân nhắc khi sử dụng từ ngữ, và đặc biệt là sự vi phạm những quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt, đó mới thực sự là nguy cơ. Lý do là những hiện tượng này rất thường bị bỏ qua hoặc không bị xem là lỗi (người đọc có đủ khả năng thu nhặt thông tin dựa trên kiến thức nền và sự phỏng đoán chứ không phải chỉ dựa trên ngôn từ) – và dần dần nó sẽ làm biến dạng tiếng Việt.
Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng những vấn đề được đề cập ở trên không phải là xa lạ với thực tế sử dụng tiếng Việt hằng ngày của mỗi người chúng ta – nghĩa là ai trong chúng ta cũng có thể vướng vào những lỗi tương tự như thế, nếu không cẩn trọng. Chúng ta giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ; nhiều khi sự thiếu chuẩn mực trong ngôn từ hoặc sự thiếu mạch lạc trong việc triển khai ý vẫn không làm tổn hại (hoặc không làm tổn hại nhiều) đến quá trình giao tiếp. Chính điều đó làm chúng ta dễ dãi với những gì mình nói ra, viết ra.
Do vậy, có thể nói rằng trách nhiệm giữ gìn tiếng Việt là của mỗi người Việt Nam chứ không chỉ của các nhà văn, nhà báo, nhà giáo và nhà ngôn ngữ học.

Chú thích
[1] Với cụm từ “trong sáng tiếng Việt”, Google đưa ra 4.690.000 kết quả; với “giữ gìn tiếng Việt” 812.000 kết quả; với “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” 2.220.000 kết quả. Thực ra, chỉ một phần rất nhỏ trong các con số khổng lồ này là có nói đến vấn đề hữu quan. Tuy nhiên, chỉ cần bấm vào vài mươi kết quả mà Google cung cấp cũng có thể hình dung được phần nào vấn đề đang bàn.
[2] Báo Tuổi Trẻ là một nhật báo có số lượng phát hành cao trên khắp cả nước. Tuy nhiên, chúng tôi chọn tờ báo này như là một đối tượng khảo sát ngẫu nhiên chứ không vì bất cứ lý do nào khác (càng không phải là để phê bình, chỉ trích). Những hiện tượng ngôn ngữ ở báo Tuổi Trẻ cũng là những hiện tượng mà bất cứ người Việt Nam nào cũng có thể gặp phải khi sử dụng tiếng Việt.
[3] Trong phần sau đây, khi phân tích, chúng tôi sẽ không đề cập đến tất cả các lỗi trong một câu hoặc một đoạn câu mà chỉ đề cập những lỗi tiêu biểu, đang nói đến.
[4] Trên thực tế, đã từ lâu người Sài Gòn sử dụng “môtô” cho các loại xe có dung tích xilanh từ 125cc trở lên, có thiết kế khác chút ít với loại xe máy “thông thường”.
[5] Câu cuối cùng của ví dụ (49) cũng cần suy ngẫm: lẽ nào TP.HCM dành cả một mùa bóng để “chuẩn bị đón tiếp” một HLV?

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cao Xuân Hạo. Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Q.i. Nxb KHXH, H., 1991
[2] Nguyễn Đức Dân, Trần Thị Ngọc Lang. Câu sai và câu mơ hồ. Nxb GD, H., 1992
[3] Nguyễn Đức Dân. Lôgích và tiếng Việt. Nxb GD, H., 1996
[4] Hoàng Phê (chủ biên). Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học. Hà Nội - ĐàNẵng, 1995.
------
Nguồn: http://www.vns.edu.vn/images/6_NGHIEN_CUU/VIET_NGU_HOC/NguyenVanPho/2.Tieng-Viet-qua-mot-so-bao---Nguyen-Van-Pho.pdf
(*) https://tutrachoc . blogspot . com/2014/01/trich-dan-can-chinh-xac.html?fbclid=IwAR1yrjFT5l1D2diTKqGRtiJYKDIDFKP9QMIeDUqZL74hRv-DU_UBpGQ9dMA