Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ ngũ tuyệt đời Đường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ ngũ tuyệt đời Đường. Hiển thị tất cả bài đăng

7/12/23

Nhàn du Hoa đỉnh thượng

 

閑遊華頂上 

閑遊華頂上,天朗晝光輝。
四顧晴空裏,白雲同鶴飛。寒山

Âm

Nhàn du Hoa đỉnh thượng,

Thiên lãng trú quang huy.

Tứ cố tình không lý,

Bạch vân đồng hạc phi.

Nghĩa

Rỗi lên chơi đỉnh núi Hoa, Trời sáng tươi ánh nắng ban ngày rực rỡ.

Bốn phía trời tạnh ráo, Mây trắng và hạc cùng bay.

Tạm dịch

Rảnh lên chơi đỉnh núi,

Trời đẫm nắng vàng tơ

Bốn phía nhìn quang đãng,

Hạc cùng mây nhởn nhơ.

Chú

Núi Hoa nằm trong dãy núi Thiên Thai, nay trong huyện cùng tên Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang.

Hàn Sơn, nhà thơ thời trung Đường. Xuất thân nhà quan, thi nhiều lần không đỗ, bỏ đi tu, ẩn cu ở núi Thiên Thai.

29/6/23

HÀ XUYÊN ĐỘC PHIẾM


葭川獨泛  

倚棹春江上,

橫舟石岸前。

山暝行人斷,

迢迢獨泛仙。

盧照鄰


Ỷ trạo xuân giang thượng,

Hoành chu thạch ngạn tiền.

Sơn minh hành nhân đoạn,

Điều điều độc phiếm tiên.

Lư Chiếu Lân


Tạm dịch

Một mình đi thuyền trên sông Hà.

Trên sông xuân gác mái,

Bờ đá xoay ngang thuyền.

Núi tối khách đường hết,

Bồng bềnh một cõi tiên.


盧照鄰 Lư Chiếu Lân (663 - 689), một trong Sơ Đường tứ kiệt (Bốn nhà thơ kiệt xuất thời Sơ Đường, gồm Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân và Lạc Tân Vương).

sen nhà

12/4/23

Sau ngày vợ mất. Lí Thương Ẩn.

Sau ngày vợ mất, đi Đông Thục nhậm chức đến Tản Quan gặp tuyết rơi.

Lí Thương Ẩn.
-----
悼傷後赴東蜀闢至散關遇雪
劍外從軍遠,
無家與寄衣。
散關三尺雪,
回夢舊鴛機。
李商隱
.
Điệu thương hậu phó Đông Thục tịch chí Tản Quan ngộ tuyết
Kiếm ngoại tòng quân viễn,
Vô gia dữ ký y.
Tản Quan tam xích tuyết,
Hồi mộng cựu uyên ky.
.
Tạm dịch.
Nhậm chức đường xa ngái,
Áo không ai gởi cho.
Nửa đường trời đổ tuyết,
Mơ thấy khung thêu xưa.


Hình thư pháp: internet.


16/1/23

Túc Kiến Đức giang

 宿建德江 

移舟泊煙渚      Di chu bạc yên chử,

日暮客愁新      Nhật mộ khách sầu tân.

野曠天低樹      Dã khoáng thiên đê thụ,

江清月近人      Giang thanh nguyệt cận nhân.

孟浩然                    Mạnh Hạo Nhiên

Giản thể. 移舟泊烟渚,日暮客愁新。野旷天低树,江清月近人

Nghĩa. Nghỉ lại đêm trên sông Kiến Đức

Ghé đậu thuyền nơi bãi cồn mù mịt khói sương,
Chiều xuống khiến khách (đang buồn vì nhớ nhà) lại thêm nỗi buồn mới.
Trên cánh đồng mênh mông bầu trời sà xuống thấp, ngay trên đầu ngọn cây,
Nước sông trong khiến trăng như sát bên người.

Tạm dịch

Thuyền neo cồn khói tỏa,

Chiều xuống khách buồn thêm.

Đồng rộng trời liền đất,

Sông trong trăng sát bên.

Chú

建德江 Kiến Đức giang: sông Kiến Đức, nay thuộc 浙江 Chiết Giang.

移舟 di châu: dời thuyền, chèo thuyền. bạc: đậu, ghé bến. 烟渚 yên chử: chỉ bãi cồn âm u mù mịt sương khói. yên: khói; bản khác chép “幽” u: tối tăm. chử /zhǔ/: cồn nhỏ trên sông. Bãi cồn trên sông có thể ở được, lớn thì gọi là châu, nhỏ thì gọi là chử (水中可居者曰洲,小洲曰渚。)

khách: ở đây chỉ tác giả. sầu: buồn, do nhớ nhà.

dã, tức 原野 nguyên dã: đồng hoang. () khoáng: rộng rãi.

天低樹 thiên đê thụ: bầu trời sà xuống thấp trên ngọn cây.

月近人 nguyệt cận nhân: trăng sát bên người, là nói bóng trăng trên sông.

Bài thơ được Mạnh Hạo Nhiên viết trong thời gian đi du ngoạn đất Ngô Việt.

hình thư pháp: internet



15/1/23

Lạc Trung phỏng Viên thập di bất ngộ

 洛中訪袁拾遺不遇 

洛陽訪才子      Lạc Dương phỏng tài tử,

江嶺作流人      Giang Lĩnh tác lưu nhân.

聞說梅花早      Văn thuyết mai hoa tảo,

何如北地春      Hà như bắc địa xuân?

孟浩然                    Mạnh Hạo Nhiên

Giản thể. 洛阳访才子,江岭作流人。闻说梅花早,何如北地春

Nghĩa. Đến Lạc Dương thăm bạn là Viên Thập di nhưng không gặp.
Đến Lạc Dương thăm người bạn có tài,
nhưng bạn nay đã thành tội nhân bị đi đày đến Giang Lĩnh ở phương nam rồi.
Nghe nói ở nơi phương nam đó hoa mai nở sớm,
có đẹp như mùa xuân nơi quê hương ở đất bắc này?

Tạm dịch

Đến nhà thăm bạn thiết,

Bạn đã bị lưu đày.

Nghe đó có mai sớm,

Đẹp như xuân ở đây?

Chú

洛中 Lạc Trung: chỉ Lạc Dương 洛陽.

拾遺 Thập di: tên một chức quan đời Đường, phẩm trật không cao, chỉ tòng bát phẩm.

才子 tài tử: người tài, chỉ Viên thập di.

江嶺 Giang lĩnh: tức Giang Nam lĩnh ngoại. lĩnh: dãy núi, ở đây chỉ dãy núi Đại Dữu, nằm ở ranh giới hai tỉnh Giang Tây và Quảng Đông. Thời Đường người có tội thường bị đày ra bên ngoài (phía nam) dãy núi này.

流人 lưu nhân: người bị lưu đày, chỉ Viên Thập di.

梅花早 mai hoa tảo: hoa mai nở sớm. tảo là hình dung từ, dùng như động từ làm vị ngữ.

bắc: phía bắc. bản khác: thử: nơi này.

孟浩然 Mạnh Hạo Nhiên (689 - 740) nhà thơ thời Thịnh Đường, tác giả bài Xuân hiểu nổi tiếng, được đưa vào học trong chương trình văn học PT (dã từng giới thiệu). Ông là bạn thân của Vương Duy, cùng với Vương Duy được người đời gọi chung là “Vương Mạnh”.Vương Duy có viết bài Tống biệt (há mã ấm quân tửu) rất hay tặng ông khi ông bỏ quan về ở ẩn. Ông thuộc thế hệ đàn anh của Lí bạch, rất được Lí bạch quý trọng, có bài thơ tiễn ông "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng" nổi tiếng.


Hình trên internet



11/1/23

Bãi tướng tác

罷相作 

避賢初罷相      Tị hiền sơ bãi tướng,

樂聖且銜杯      Lạc thánh thả hàm bôi.

為問門前客      Vị vấn môn tiền khách,

今朝幾個來?        Kim triêu kỉ cá lai?

李適之                    Lí Thích Chi

Giản thể. 避贤初罢相,乐圣且衔杯。 为问门前客,今朝几个来

Nghĩa. Thơ làm sau khi thôi chức tướng quốc.
Vừa thôi chức tả thừa tướng để nhượng hiền, vui thích uống rượu đến ngậm cả chén.
Xin hỏi khách trước cửa/ xin hỏi khách trước từng đến cửa này,
hôm nay có bao nhiêu người đến vậy.

Tạm dịch.

Nhượng hiền thôi chức tướng,

Chén rượu ngậm không rời.

Xin hỏi khách ngoài cửa,

Hôm nay đến mấy người?

Chú.

罷相 bãi tướng: thôi chức tể tướng.

避賢 tị hiền: từ chức để nhường cho người hiền tài. Lí Thích Chi giữ chức tả thừa tướng, bị Lí Lâm Phủ tính mưu, mất chức. tị: tránh, kị. 避難 tị nạn: tránh nạn. 避諱 kiêng tên húy.

樂聖 lạc thánh: chỉ sở thích uống rượu. Sách Tam Quốc Chí, trong phần Ngụy Chí kể truyện Từ Mạo: Bấy giờ cấm rượu, Mạo lén uống say, có người hỏi, Mạo trả lời để làm thánh nhân. Vua nghe, giận lắm, định trị tội. Có người thưa: Kẻ say gọi người uống rượu trong là thánh, uống rượu đục là hiền; chỉ là say rượu nói xàm. Về sau, người ta dùng chữ "lạc thánh" để chỉ việc ham thích uống rượu. 

thả: lại, mà còn.

銜杯 hàm bôi: miệng ngậm chén rượu, uống rượu.

為問 vị vấn: xin hỏi. vi, ở đây đọc vị, biểu thị giả thiết. Có bản chép "借問" tá vấn, nghĩa tương tự. 今朝 kim triêu: hôm nay, hiện tại.

李適之 Lí Thích Chi (khoảng 694 - 747), nhà thơ thời Thịnh Đường. Ông  vốn là tông thất nhà Lí đương triều, từng giữ chức tể tướng, sau bị biếm làm thái thú Nghi Xuân. Bài thơ này viết sau khi thôi chức tả thừa tướng.

Hình thư pháp: internet



9/1/23

Đăng Kinh Châu thành vọng giang 2

 登荊州城望江其二 

東望何悠悠      Đông vọng hà du du,

西來晝夜流      Tây lai trú dạ lưu.

歲月既如此      Tuế nguyệt kí như thử,

為心那不愁      Vi tâm na bất sầu?

張九齡       Trương Cửu Linh.

Giản thể东望何悠悠,西来昼夜流。岁月既如此,为心那不愁

Nghĩa. Lên thành Kinh Châu nhìn dòng sông

Nhìn về phía đông thấy dòng nước cuồn cuộn
từ phía tây chảy đến, ngày đêm không nghỉ
Năm tháng cũng như dòng sông trôi đi không bao giờ trở lại,
nghĩ đến làm sao lòng không buồn?

Tạm dịch.

Dòng sông cuồn cuộn chảy,
Mãi miết suốt đêm ngày.
Tháng năm không trở lại,
Sao không buồn được đây
?

Chú.

何悠悠 hà du du: sao mà bao la, thăm thẳm làm sao. 悠悠 du du: liên miên, bất tận, đằng dặc.

歲月 tuế nguyệt: năm tháng, phiếm chỉ thời gian. tuế: năm, tuổi.

張九齡 Trương Cửu Linh là nhà thơ thời Thịnh Đường, từng giữ chức (tương đương) tể tướng.

Đây là bài thứ hai trong chùm hai bài ngũ ngôn tuyệt cú ông viết sau khi mất chức tể tướng, bị biếm làm tổng đốc ở Kinh Châu. Hẳn khi viết bài thơ, tác giả đã nhớ đến câu nói của Khổng tử khi đứng bên dòng sông nhìn nước chảy: 逝者如斯夫, 不舍晝夜 (論語, IX.16). Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ (Luận ngữ, IX. 16): Chảy đi hoài như thế kia, ngày đêm không ngừng!


Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ.


8/1/23

Đăng Kinh Châu thành vọng giang 1

 登荊州城望江其一 

滔滔大江水      Thao thao đại giang thủy,

天地相終始      Thiên địa tương chung thủy.

經閱幾世人      Kinh duyệt kỉ thế nhân,

復嘆誰家子      Phục thán duy gia tử.

張九齡       Trương Cửu Linh.

Giản thể. 滔滔大江水,天地相终始。经阅几世人,复叹谁家子

Nghĩa. Lên thành Kinh Châu ngắm sông.

Nước sông lớn cuồn cuộn chảy, cùng với trời đất từ thủa ban sơ đến mãi mãi về sau.
Lắm người đã thấu hiểu điều ấy, sao còn có bao người vẫn oán than?

Tạm dịch.

Mãi miết dòng sông chảy,

Giữa đất trời mênh mang.

Xưa nay ai cũng thấy,

Sao vẫn còn người than?

Chú.

滔滔 thao thao: mông mênh, cun cun. 滔滔不絕 thao thao bất tuyệt: nói thao thao, tràng giang đại hải.

duyt: xem qua. 閱兵 duyt binh: xem xét binh lính tp luyn. 閱書 duyt thư: đọc sách. 呈閱 trình duyt: đưa cho để xem xét phê chun.

Đây là bài thơ thứ nhất trong chùm hai bài ngũ ngôn, có lẽ được làm sau khi tác giả mất chức thừa tướng, bị biếm làm tổng đốc Kinh Châu.


Sông Thạch Hãn, hình wiki


5/1/23

từ chàng ra đi

 

Từ chàng ra đi, lưng khoác chiến y
Và hồn nương bóng quốc kỳ
Nàng ngừng con thoi, có khi nhớ chàng ...

Những ca từ này hẳn là lấy ý từ bài thơ của Trương Cửu Linh

自君之出矣,    自君之出矣,
不復理殘機。    不复理残机。
思君如滿月,    思君如满月,
夜夜減清輝。    夜夜减清
張九齡。

Âm Hán Việt

Tự quân chi xuất hĩ,
bất phục lí tàn ki.
Tư quân như mãn nguyệt,
dạ dạ giảm thanh huy.

- 自 tự = từ khi
- 君 quân nghĩa quen thuộc là vua, nhưng ở đây là đại từ nhân xưng ngôi hai, dùng với ý kính trọng. Trong câu này chỉ người chồng của thiếu phụ.
- 之 chi, thường dùng làm giới từ, có nghĩa của, thuộc về. Nhưng ở đây là trợ từ, chỉ mang ý nhấn mạnh, chẳng có nghĩa gì. 
出 xuất = ra đi.
矣 hĩ = trợ từ đặt cuối câu, biểu đạt ý khẳng định.
不 bất = không
復 phục = trở lại, khôi phục.
理 lí = sửa sang, coi sóc
殘 tàn = hư hỏng
機 ki = khung cửi. Ta cũng thường đọc là cơ, như trong cơ khí, phi cơ ..
思 tư = nhớ nghĩ
如 như = giống
滿月mãn nguyệt = trăng rằm.
夜 夜 dạ dạ = đêm đêm
減 giảm = bớt
清輝 thanh huy = ánh sáng trong xanh.
Trương Cữu Linh người Khúc Giang (nay thuộc tỉnh Quảng Đông bên Tàu), cháu nhiều đời của Trương Lương thời Tây Hán. Ông giữ chức tể tướng dưới thời Đường Minh Hoàng, đồng thời là nhà văn nhà thơ có tiếng, được ca ngợi là “Lĩnh Nam đệ nhất nhân” (người số một đất Lĩnh Nam).

Nghĩa:
Từ khi chàng đi rồi, 
thiếp chẳng ngó lại khung cửi hư. 
Nhớ chàng, thiếp như trăng rằm; 
theo từng đêm mà mỏi mòn ánh sáng.  

Tạm dịch:

Từ lúc chàng đi vắng,
Khung thoi chẳng ngó ngàng.
Thiếp tựa trăng rằm sáng,
Đêm đêm mỏn ánh vàng
.




Madame Phương (1930), sơn dầu của Mai Trung Thứ
vừa được bán với giá 3.1 triệu usd hôm 18/4/2021


* post lần đầu: 21/4/21
repost: bổ sung bạn dịch.

4/1/23

Chánh triêu lãm kính

 正朝覽鏡 

憔悴逢新歲      Tiều tụy phùng tân tuế,

芳菲見陽春      Phương phi kiến dương xuân.

朝來明鏡裏      Triêu lai minh kính lí,

不忍白頭人      Bất nhẫn bạch đầu nhân.

劉長卿                    Lưu Trường Khanh

Giản thể. 憔悴逢新岁,茅扉见旧春。朝来明镜里,不忍白头人

Nghĩa. Sáng sớm đầu năm soi gương.

Thân xác tiều tụy đón năm mới, hoa cỏ thơm tho nhìn nắng xuân.
Sáng sớm ở trong gương, không nỡ nhìn bóng người đầu bạc trắng.

Tạm dịch.

Năm mới người xơ xác,

Xuân tươi cỏ thắm màu.

Sớm mai soi mặt kính,

Lặng nhìn tóc trắng phau.

Chú

正朝 chính triêu: sáng sớm đầu năm.

覽鏡 lãm kính: soi gương.

憔悴 tiều tụy, cũng viết 憔瘁: vàng vọt, khô héo.

芳菲 phương phi: cỏ hoa thơm tươi. phương: cỏ thơm. phi: tươi tốt. ( phỉ: rau phỉ).

不忍 bất nhẫn: không nhịn được, không nỡ, không nén được lòng thương xót.

劉長卿 Lưu Trường Khanh (709? – 780?), tự Văn Phòng 文房, nhà thơ thời Thịnh Đường. Người Tuyên Thành (nay thuộc An Huy), tiến sĩ, từng giữ chức giám sát ngự sử, nhưng quan lộ gian nan, lúc thăng lúc bị biếm. Sở trường thơ ngũ ngôn luật tuyệt.



2/1/23

Chiếu kính kiến bạch phát

 照鏡見白髮 

宿昔青雲志      Túc tích thanh vân chí,

蹉跎白髮年      Tha đà bạch phát niên.

誰知明鏡裏      Thùy tri minh kính lí,

形影自相憐      Hình ảnh tự tương liên.

張九齡                    Trương Cửu Linh

Giản thể. 宿昔青云志,蹉跎白发年。谁知明镜里,形影自相怜

Nghĩa. Soi gương thấy tóc bạc.

Ngày xưa chí ở tận mây xanh,
tháng ngày phôi pha nay tóc đã bạc trắng.
Có ai biết chăng trong tấm gương sáng,
hình và bóng nhìn nhau mà thương cảm.

Tạm dịch.

Xưa chí tận mây xanh,

Nay bơ phờ tóc trắng.

Soi gương nhìn bóng mình,

Lòng xót xa cay đắng.

Chú

照鏡見白髮 chiếu kính kiến bạch phát: soi gương thấy tóc bạc. 宿昔 túc tích: trước đây, trong quá khứ. 宿 túc: vốn đã, trước giờ. tích: xưa, trước.

青雲志 thanh vân chí: chí ở mây xanh. Tác giả nhớ lại thời gian giữ chức tể tướng.

蹉跎 tha đà: lỡ bước, lỡ làng, lần lữa. Ở đây có nghĩa là lần lữa qua ngày, lãng phí tháng năm, chỉ thời gian tác giả bị bãi chức tể tướng, bị biếm làm Kinh Châu trưởng sử, một chức quan nhàn nhã chẳng có việc gì làm.

白髮年 bạch phát niên: năm tháng đầu bạc, tuổi già.

誰知 thùy tri: ai biết, ai hay. 明鏡裏 minh kính lí: trong gương sáng.

形影 hình ảnh: hình thực và ảnh trong gương. 自相憐 tự tương liên: tự thương nhau; ý cô đơn.

張九齡 Trương Cửu Linh (678 - 740), tự Tử Thọ, người Thiều Châu, huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông. Làm quan đến thượng thư hữu thừa, có công lớn trong việc giúp nhà Đường bước vào thời cực thịnh. Tính cương trực, được ca ngợi là “Lĩnh Nam đệ nhất nhân” (người số một ở Lĩnh Nam), có tiếng thời Thịnh Đường. Về sau, mâu thuẫn phe phái trong triều, ông không được bụng vua, nên bị biếm đến Kinh Châu làm trưởng sử rồi mất ở đó. Còn lưu lại Khúc Giang tập.



Hình thư pháp: internet

30/12/22

Khách trung hữu cảm

 客中有感 

天地一身在      Thiên địa nhất thân tại,

頭顱五十過      Đầu lô ngũ thập qua.

流年消壯志      Lưu niên tiêu tráng chí,

空使淚成河      Không sử lệ thành hà.

殷堯藩                    Ân Nghiêu Phiên.

Giản thể. 天地一身在,头颅五十过。 流年消壮志,空使泪成河

Nghĩa. Cảm xúc nơi đất khách

Một thân một mình trong trời đất,

Năm chục năm trôi qua trên mái đầu.

Năm tháng làm tiêu tan chí lớn thời tuổi trẻ,

Không dưng nước mắt lại chảy thành sông.

Tạm dịch.

Một thân giữa đất trời,

Thoáng chốc đã năm mươi.

Tháng năm trôi chí lớn,

Không dưng nước mắt rơi.

Chú.

頭顱 đầu lô: đầu lâu.

流年 lưu niên: năm tháng trôi qua như nước chảy.

壯志 tráng chí: ý muốn to lớn mạnh mẽ.

殷堯藩 Ân Nghiêu Phiên (780 - 855), nhà thơ thời Trung Đường. Tiến sĩ, quan đến chức Thị ngự sử.


Cánh cò. Photo: Đơn Hồng Oai.



28/12/22

Điền viên lạc

 田園樂其六                  

桃紅復含宿雨             Đào hồng phục hàm túc vũ,

柳綠更帶朝煙             Liễu lục cánh đái triêu yên.

花落家童未掃             Hoa lạc gia đồng vị tảo,

鶯啼山客猶眠                 Oanh đề sơn khách do miên.

王維                                      Vương Duy

Giản thể. 桃红复含宿雨,柳绿更带朝烟。 花落家童未扫,莺啼山客犹眠

Nghĩa: Thú vui nơi ruộng vườn

Cành đào hồng còn ngậm hạt mưa đêm,

Cành liễu xanh lại vắt thêm dải khói sớm.

Hoa rơi trẻ nhỏ trong nhà chưa quét,

Oanh kêu khách trên núi vẫn còn ngủ.

Tạm dịch

Đào hồng mưa khuya còn đọng,

Liễu biếc khói sớm vắt vai.

Hoa rụng trẻ chưa kịp dọn,

Oanh kêu khách ngủ đang say.

Chú

- 宿雨 túc vũ, tức dạ vũ 夜雨: mưa đêm, mưa lúc đầu hôm. 宿 túc: nghỉ đêm; cách đêm. 宿醉 túc túy: say đêm trước.

- 朝煙 triêu yên: khói sớm, mùa xuân thời tiết ấm lên, sinh ra lớp sương mù lúc sáng. Có bản chép: xuân yên “春煙” khói xuân.

- 家童 gia đồng: trẻ giúp việc trong nhà.

- oanh: chim oanh. Bản khác: “鳥”điểu: chim.

- 山客 sơn khách: người ẩn cư trong núi; ở đây chỉ bản thân tác giả.

- 猶眠 do miên: vẫn còn ngủ. do (phó từ): vẫn còn.

Đây là bài thứ 6 trong chùm bảy bài lục ngôn tuyệt cú “Điền viên lạc” của Vương Duy.

Cô hái chuối, 1960. Tranh màu nước của Lưu Công Nhân.



18/12/22

Khốc Mạnh Hạo Nhiên

 哭孟浩然 

故人不可見      Cố nhân bất khả kiến,

漢水日東流      Hán thủy nhật đông lưu.

借問襄陽老      Tá vấn Tương Dương lão,

江山空蔡州      Giang sơn không Sái Châu.

王維                          Vương Duy

Giản thể. 故人不可见,汉水日东流。借问襄阳老,江山空蔡州

Nghĩa. Khóc Mạnh Hạo Nhiên

Bạn cũ không thể gặp được nữa, sông Hán ngày ngày vẫn xuôi về đông.
Xin hỏi ông bạn già Tương Dương,
núi sông Sái Châu giờ đây sao thấy trống vắng?

Tạm dịch

Bạn hiền không thể gặp,

Sông mãi miết xuôi đông.

Xin hỏi người quê cũ,

Sao giờ như trống không?

Chú

孟浩然 Mạnh Hạo Nhiên: nhà thơ thời Thịnh Đường, người Tương Dương, Sái Châu (nay thuộc Hồ Bắc), bạn của Vương Duy, hai người được người đời liệt ngang danh, gọi là Vương Mạnh.

故人 cố nhân: bạn cũ, chỉ Mạnh Hạo Nhiên.

漢水 Hán thủy: Sông Hán, là nhánh sông dài nhất của sông Dương tử, nằm ở trung bộ nước Tàu.

借問 tá vấn: xin hỏi.

襄阳老 Tương Dương lão: ông lão người Tương Dương, chỉ mạnh Hạo Nhiên.

江山 giang sơn: sông núi.

không: trống rỗng.

蔡州 Thái Châu, ta quen đọc Sái Châu, quê Mạnh Hạo Nhiên.

17/12/22

Lưu biệt Vương Duy

留別王維  

歸山深淺去      Quy sơn thâm thiển khứ,

須盡丘壑美      Tu tận khâu hác mĩ.

莫學武陵人      Mạc học Vũ Lăng nhân,

暫遊桃源裏      Tạm du Đào Nguyên lí.

裴迪                          Bùi Địch.

Giản thể. 归山深浅去,须尽丘壑美。莫学武陵人,暂游桃源里

Nghĩa. Chia tay Vương Duy.

Lui về dống nơi núi sâu hay ở ngoài bìa rừng, thì cũng hay tận hưởng vẻ đẹp của đồi ao.
Đừng học ông đánh cá ở Vũ Lăng, bỗng nhiên đi vào chốn Đào Nguyên (rồi lạc lối về!).

Tạm dịch.

Về núi cao hay thấp,

Hãy vui hưởng cảnh trời.

Đừng theo ông đánh cá,

Tìm chốn Đào Nguyên chơi.

Chú.

丘壑 khâu hác: gò và hố. hác: hang, hố, ngòi ao.

武陵人 Vũ Lăng nhân: người ở Vũ Lăng. Chỉ người thuyền chài ở Vũ Lăng tình cờ đi lạc đến động Đào Nguyên được Đào Tiềm kể trong Đào hoa nguyên kí. Vũ Lăng,  nay ở huyện Thường Đức, tỉnh Hồ Nam.

tạm (phó từ): trong một khoảng thời gian ngắn; hãy; vừa mới; bỗng, thốt nhiên.

裴迪 Bùi Địch (716 - ?) người đất Quan Trung (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây), trước ở núi Chung Nam, là bạn thân với Vương Duy, từng nhiều lần thăm thú trang trại Võng Xuyên của Vương Duy, cùng nhau làm thơ vịnh cảnh đẹp ở đó, gom lại được Võng Xuyên tập.

Bài này có bản ghi nhan đề là 送崔九 Tống Thôi Cửu: Đưa tiễn Thôi Cửu.

13/12/22

Hoa tử cương. Bùi Địch

華子崗 

日落松風起      Nhật lạc tùng phong khởi,

還家草露晞      Hoàn gia thảo lộ hi.

雲光侵履跡      Vân quang xâm lí tích,

山翠拂人衣      Sơn thúy phất nhân y.

裴迪                          Bùi Địch

Giản thể. 华子岗日落松风起,还家草露晞。 云光侵履迹,山翠拂人衣

Nghĩa. Sườn núi Hoa Tử

Mặt trời lặn gió trong rừng thông nổi lên,
về nhà sương trên ngọn cỏ đã khô ráo.
Mây sáng soi dấu giày,
núi xanh biếc nhuộm màu chiếc áo của nhà thơ.

Tạm dịch

Rừng thông chiều trở gió,

Về cỏ ráo sương trời.

Mây sáng soi chân bước,

Núi xanh nhuốm áo người.

Chú

華子崗 cũng viết 華子岡 Hoa Tử cương: sườn núi Hoa Tử, một thắng cảnh ở Võng Xuyên, nơi Vương Duy ẩn cư.

日落 nhật lạc: mặt trời lặn. Bản khác: 落日 lạc nhật.

松風 tùng phong: gió trong rừng thông.

hi: khô ráo, tiêu tan.

雲光 vân quang: ánh sáng từ đám mây, ráng chiều.

xâm: lấn chiếm.

履跡 lí tích: dấu giày, dấu chân người. lí: giày.

phất: phẩy qua, giũ.

山翠 sơn thúynúi màu xanh biếc.

裴迪 Bùi Địch, nhà thơ thời Thịnh Đường, là bạn chí cốt của Vương Duy. 

Vương Duy sau khi từ quan, về Võng Xuyên (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) lập một khu trang trại, gọi là Võng Xuyên biệt nghiệp, dưới núi Chung Nam vui thú điền viên. Khu trang trại có nhiều cảnh đẹp, Hoa Tử cương là một trong số đó. Vương Duy cùng người bạn thân là Bùi Địch đến thăm cùng nhau dạo chơi, làm thơ vịnh cảnh, mỗi người có 20 bài, gom chung lại thành Võng Xuyên tập.