Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhạc Việt một thời. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhạc Việt một thời. Hiển thị tất cả bài đăng

11/8/23

9 thập kỷ ca khúc tân nhạc Việt Nam

Tác giả Lê Thiên Minh Khoa
Tác phẩm có thể đọc online trên trang web bông tràm 
link: http://www.bongtram.com/2018/12/cong-trinh-nghien-cuu-9-thap-ky-ca-khuc.html?


M Ụ C  L Ụ C
(Mời nhấp vào từng tiểu mục để đọc)

I. CA KHÚC GIAI ĐOẠN 1930-1945:
II. CA KHÚC GIAI ĐOẠN 1945-1954:             
III. CA KHÚC GIAI ĐOẠN 1954-1975:
IV. CA KHÚC ĐƯƠNG ĐẠI - GIAI ĐOẠN 1975 ĐẾN NAY:
1. Quá trình hình thành, phát triển dòng nhạc nhẹ đương đại
4. Ca nhạc thị trường đương thời
V. PHÂN CỰC VÀ GIAO THOA GIỮA CÁC DÒNG  NHẠC 1930 ĐẾN NAY:
PHỤ LỤC:

20/10/14

Những tiếng hát một thuở: Khánh Ly

Một trong 3 bài Những tiếng hát một thuở viết về 3 danh ca Saigon thời trước 1975:
Thái Thanh
Lệ Thu

(Thethaovanhoa.vn) - Nói đến những giọng hát vàng ở miền Nam, sau cặp Thái Hằng - Thái Thanh (xem TT&VH Cuối tuần số 50), Khánh Ly là một cái tên không thể bỏ qua. Viết về ca sĩ này thật khó lắm thay, vì nhiều cỡ nào cũng không đủ mà một ít cũng đã là thừa. Bao nhiêu “góc khuất” trong cuộc đời và một sự nghiệp ca hát dài đúng nửa thế kỷ đã được khai thác tưởng như kiệt cùng bởi những nhà “Trịnh học” hay “Khánh Ly học” tự xưng với cơ sở dữ liệu rất thuận lợi là chính những gì được Khánh Ly viết ra, kể lại (nhiều hơn hẳn tất cả các ca sĩ khác cùng thời). Nhưng chính những “luồng sáng” đã được công khai ấy lại góp phần rọi chiếu những “góc khuất” khác

Tuổi thơ bão táp

Chẳng hạn những hồi ức đầy cảm xúc, chắc chắn là nhiều dồn nén nhưng lại được bọc trong lớp vỏ lạnh lùng, mà Khánh Ly kể lại trong tự truyện Chuyện kể sau 40 năm về những trận đòn (dường như vô cớ hoặc lạm dụng cớ) từ chính người mẹ đẻ và sau đó là người cha dượng trút xuống đầu cô gái Lệ Mai (tên thật của Khánh Ly) đã giải thích nhiều cho tính cách đặc trưng mà Khánh Ly tự nhận là “lỳ”. Vì lỳ mà bị ăn đòn, càng bị ăn đòn thì càng lỳ. Và cái lỳ đó theo cô vào lãnh địa hoa lệ phù phiếm nhưng cũng đầy vinh quang là âm nhạc.

Quãng đời này (lúc Lệ Mai trên 10 tuổi tới trước khi lấy chồng một cách vội vã năm 17 tuổi) được Khánh Ly kể lại với giọng vừa cay đắng vừa ngậm ngùi: “Nhà không giàu lại đông anh chị em, sẽ có đứa bị thiệt thòi. Điều này thường xảy ra. Ác ở chỗ, nó lại rơi trúng tôi”; “Tôi đi học là bởi muốn ra khỏi nhà để khỏi phải nghe những lời mắng nhiếc của mẹ, cái nhìn hầm hầm của bố, tránh những ngọn roi, những cái tát, những chiếc giày đập túi bụi trên đầu trên cổ tôi”; “Tôi không nghĩ là mẹ thích thú khi thấy con mình bị đánh đập nhưng có lẽ bà khó chịu đựng được cái nết lỳ lợm của tôi. Mắng chửi, tôi cãi lại. Đánh đập, tôi không khóc. Bắt xin lỗi, tôi không mở miệng…”.

Khánh Ly - thời còn là Lệ Mai
Chính tuổi thơ “dữ dội” như thế đã hình thành nên sự nổi loạn ngầm của cô bé Mai. Cô thích giao du với những người bạn trai (bạn của anh trai), thích khiêu vũ nhảy múa, và càng bị cấm thì đam mê ca hát ngày bé lại càng trỗi dậy (dù có lúc bị mẹ dọa sẽ “từ” bởi “nhà này không có mả cầm ca”). Dù bị cấm làm ca sĩ nhưng trước đó, cô bé Lệ Mai đã có cột mốc đáng kể đánh dấu con đường ca hát: năm 1954, khi mới 9 tuổi, trước khi di cư vào Nam cùng mẹ, Lệ Mai đã dự cuộc thi hát tại một hội chợ ở Hà Nội; hai năm sau, tại Sài Gòn, cô được giải nhì tại một cuộc thi tuyển ca sĩ thiếu nhi.

Vừa đa cảm vừa cứng rắn, vừa lạnh lùng vừa sôi nổi, hài hước mà thâm thúy, đặc biệt rất hay tự trào bản thân, tính cách ấy ảnh hưởng lớn đến phong cách ca hát, biểu diễn của Khánh Ly sau này. Ngay cả nghệ danh Khánh Ly cũng được hình thành từ tên của hai nhân vật đa tính cách luôn luôn ẩn hiện giữa ác và thiện, giữa trung và phản trong truyện Đông Chu Liệt Quốc là Khánh Kỵ và Yêu Ly.

Hồi giữa năm nay, trong một công trình nghiên cứu, một nhà nhạc học Mỹ, ông Donald Cohen, đã xếp Khánh Ly vào một trong số 26 ca sĩ hát tango hay nhất thế giới. Ông Cohen nhận thấy Khánh Ly đặc biệt yêu thích các bài hát với nhịp điệu tango, và đã thu âm tới 5 album toàn nhạc tango (cả nhạc quốc tế lời Việt và nhạc Việt Nam), album nào cũng được thính giả khắp nơi đón nhận. Còn Khánh Ly lý giải nguồn cơn cho sự say mê nhạc tango của mình chính là từ những lần… đấm chân cho mẹ khi bà bị đau nhức: “Ngày nào tôi cũng đấm chân cho bà, và trong những lúc ấy bà hay cho chạy những đĩa nhạc tango. Mẹ tôi không hết nhức mỏi nhưng điệu nhạc tango đã chui vào đầu tôi, đến nỗi những lúc mỏi tay quá, tôi đấm cho bà theo nhịp điệu tango”.

Tuổi thơ bão táp của Khánh Ly chấm dứt khi cô lập gia đình một cách vội vã (vì trót có bầu) với người chồng đầu tiên, và làm mẹ của hai đứa trẻ khi mới 18 tuổi, tạm biệt Sài Gòn trở lại sống ở Đà Lạt. Từ đây, bắt đầu câu chuyện kỳ thú tuyệt vời mà tất cả chúng ta đều đã biết.

Từ trái sang: Khánh Ly, Lệ Thu, Thái Thanh - 3 giọng ca hàng đầu của Saigon trước đây
Khánh Ly và Trịnh Công Sơn

Nếu Trịnh Công Sơn được ví là Bob Dylan Việt Nam, thì Khánh Ly có thể là Joan Baez được chăng, nhất là xét về giọng hát, phong cách có rất nhiều tương đồng: cũng giọng alto khàn đục nhừa nhựa, tinh thần folk và du ca đậm đà trong từng câu hát, tác phong giản dị và lối trình diễn hết mình trong cùng một trào lưu phản chiến. Đó là hình ảnh ở thời đỉnh cao của Khánh Ly. Nói như thế bỗng nhiên lại thấy tiếc ngơ tiếc ngẩn không có cơ hội nào được nghe Khánh Ly hát những bài ngoại quốc như là Crazy Love, Put Your Hand On My Shoulder, Only You, Unchained Melody, Non je Ne Regrette Rien… mà cô kể là đã hát ở nơi đầu tiên đánh dấu sự kiện cô trở thành ca sĩ (phòng trà Anh Vũ, Sài Gòn…

Khánh Ly đã hát, như một ca sĩ vô danh, suốt 5 năm trong một vũ trường ở Đà Lạt. Cô gắn bó với Đà Lạt và yên phận với cuộc sống rất đỗi bình thường ấy, cho nên phải 3 năm sau ngày gặp Trịnh Công Sơn lần đầu (1964) Khánh Ly mới quyết định trở lại Sài Gòn song hành cùng người nhạc sĩ tài ba để từ đó bắt đầu một hành trình âm nhạc tuyệt vời. Dù Khánh Ly có trả lời phỏng vấn nhà báo Trường Kỳ một cách khiêm tốn: “Nếu không có ông Trịnh Công Sơn thì sẽ không có tôi. Có thể tôi vẫn chỉ là một cái bóng mờ nào đó hoặc là tôi sẽ có một cái đường đi nó chật hẹp hơn” thì cũng khó mà phủ nhận sự thực rằng chính sự có mặt đúng lúc của cô - như một định mệnh, vì họ tình cờ gặp lại nhau trên đường phố Sài Gòn chứ không hề chủ định đi tìm nhau - vào thời điểm thăng hoa trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn đã góp phần quyết định tạo nên tầm vóc Trịnh nhạc sĩ.

Khánh Ly, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và Trịnh Vĩnh Trinh
Trong những băng nhạc thời ấy còn lại tới giờ, nhất là bộ Hát cho quê hương Việt Nam và những cuốn băng kiểu bootleg (thu trực tiếp một cách ngẫu hứng) tại Quán Văn có thể thấy Khánh Ly đã từ một ca sĩ phòng trà bình thường, an phận, trở thành biểu tượng một thời như thế nào. Những uẩn ức, dồn nén từ tuổi thơ không bình yên làm nên tính cách cô, và nay tính cách ấy tìm được không gian thích hợp nhất để thể hiện.
Khánh Ly không giật đùng đùng như các nữ hoàng kích động nhạc khi ấy, không sướt mướt ỷ ôi như ca sĩ dòng sến, không ra vẻ mệnh phụ như ca sĩ dòng “sang”. Cô hát theo cách mà chúng ta nói thời nay là bằng “cái đầu lạnh và trái tim nóng”. Cách hát nghe rất “tỉnh” ấy đi thẳng tới trái tim người nghe, không qua nhào nắn uốn lượn bằng những tiểu xảo đặc trưng của nghề hát. Khi cần truyền đạt thông điệp - như với các bài ca phản chiến - thì không gì thích hợp bằng kiểu hát ấy. Tỉnh nhưng mà gần gũi, chia sẻ thông điệp phản chiến trong tư thế tâm tình, là ngôi sao lớn nhưng vẫn giữ hình tượng “nữ hoàng chân đất”. Người ta yêu Khánh Ly chính vì điều đó. Và càng yêu hơn khi nghe cô chia sẻ: “Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn 10 năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào”.

Ngày 24/9 năm nay, Khánh Ly được Cục NTBD cấp phép về Việt Nam biểu diễn (cùng thời điểm cấp phép với Bằng Kiều) tuy nhiên gần như chắc chắn Khánh Ly sẽ không kịp trở về trong thời hạn giấy phép còn hiệu lực (hết tháng 12/2012). Tuy nhiên Khánh Ly vẫn xác nhận mong muốn trở về hát, muốn “được kết thúc” ở nơi “khởi đầu”, “muốn có dịp ra thăm con đường Trịnh Công Sơn ở Huế, ra Hà Nội đi dưới hàng cây hoa sữa, nói với chim sâm cầm”.

Khi đã rất nổi tiếng, Khánh Ly mở phòng trà mang tên mình, mở rộng danh mục biểu diễn tới nhiều nhạc sĩ khác, và cũng rất thành công, đặc biệt với dòng nhạc tiền chiến nhưng đỉnh cao sự nghiệp của cô vẫn là với nhạc Trịnh Công Sơn, nhất là trong cuốn băng nhạc được ca ngợi là “bất hủ” - Sơn Ca 7. Cũng với nhạc Trịnh, Khánh Ly có một sự nghiệp vượt ra khỏi biên giới, trở thành giọng hát được yêu thích tại thị trường Nhật Bản trong những năm 1970. Tới năm 1997, cô còn được một đoàn phim Nhật Bản mời đi cùng về Việt Nam quay hình cho một bộ phim tài liệu về một nhà báo Nhật chết trên chiến trường Việt Nam, trong túi còn cuốn băng Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn. Tới nay, một số khách du lịch người Nhật lớn tuổi qua Sài Gòn vẫn tìm hỏi mua đĩa nhạc Khánh Ly (có bài Diễm xưa hát bằng tiếng Nhật).

Nghe Khánh Ly hát "Diễm xưa"



Cũng chính vì là “Nàng thơ” của Trịnh Công Sơn nên sau này, những năm đầu ở hải ngoại không dễ dàng gì với Khánh Ly khi nối lại nghề ca hát. Cô đã quá nổi tiếng với nhạc Trịnh nên muốn tái lập sự nghiệp không thể nào thiếu dòng nhạc này. Nhưng do nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi ấy vẫn còn ở trong nước, lại chủ trương “Nối vòng tay lớn” nên hầu như Khánh Ly không thể “công khai” hát trở lại nhạc Trịnh do gặp sự chống đối của một số nhóm cực đoan. Theo một số nghệ sĩ hải ngoại kể lại, người giúp “phá băng” vụ này là ca sĩ Kim Anh, người bắt đầu sự nghiệp ca hát ngay từ hải ngoại và hầu như không chịu nhiều tác động quanh chuyện chống đối. Sau khi được “phá băng”, Khánh Ly và âm nhạc Trịnh Công Sơn mới có thể coi như chính thức trở lại ở bên kia đại dương, lại làm nên một sự nghiệp nối dài cho Khánh Ly tới tận bây giờ.

Nguyễn Minh
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần
Thứ Tư, 02/01/2013


Playlist có (loạt) clip Tâm sự tuổi 16, Khánh Ly kể lại đời mình



14/10/14

Những tiếng hát một thuở 2

"Hit Maker" Lệ Thu

Bài thứ 2 trong loạt bài Những tiếng hát một thủa của Nguyễn Minh trên trang web Thethaovanhoa.vn. Các clip nhạc là bonus.

(Thethaovanhoa.vn) - Dùng cách nói thịnh hành bây giờ là “người tạo hit” để nói về Lệ Thu hóa ra lại rất thích hợp, bởi sự nghiệp ca hát dường như khá bằng phẳng của nữ danh ca này được rải đều bởi những bài hát đánh dấu những đỉnh cao về nghệ thuật trình diễn ca khúc, không cần phụ trợ bởi những câu chuyện hậu trường ly kỳ đằng sau mỗi bài hát hay với người sáng tác. Đã nửa thế kỷ qua từ ngày một cô gái trẻ bỡ ngỡ bước lên sân khấu hát bài Dang dở cho tới ngày hôm nay, “Thu” vẫn miệt mài “hát cho người”, vẫn đủ sức chinh phục mọi trái tim chỉ bằng giọng hát trời cho tuyệt vời của mình

Mở đầu băng nhạc Sơn Ca 9 (trong loạt băng nhạc Sơn Ca rất nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975) với tiếng hát Lệ Thu là những lời giới thiệu có cánh như thế này: “Lệ Thu, như cái tên tiền định một đời nghệ sĩ hát bằng nước mắt yêu thương, bàng bạc như tơ sương của khung trời mùa Thu đất Bắc”. Dù hơi sáo rỗng, sến và có thể “dùng chung” cho nhiều ca sĩ khác không nhất thiết phải tên là Thu, nhưng có lẽ những lời này cũng không sai khi nói về Lệ Thu, giọng hát bậc nhất khi đó cả về tài năng trình diễn, giọng hát thiên bẩm và mức độ ăn khách: Nói Lệ Thu hát bằng nước mắt yêu thương bởi bên cạnh một sự nghiệp lẫy lừng là một cuộc sống riêng nhiều buồn hơn vui; còn “khung trời mùa Thu đất Bắc” dù nghe rất mơ hồ nhưng hãy nhớ lại là bao nhiêu năm qua, người ta vẫn luôn lấy tiếng hát của chị như một chuẩn mực về hát đẹp, phát âm đẹp, giọng Bắc chuẩn mực đẹp đẽ trong mọi hoài niệm về Hà Nội xưa. Và “mùa Thu” cũng liên quan tới khởi đầu định mệnh để chị thành danh ca, với bài hát của “nhạc sĩ của mùa Thu” Đoàn Chuẩn: Tà áo xanh (tức Dang dở).

13/10/14

Những tiếng hát một thủa 1


Thái Hằng là chị, em là Thái Thanh

Trước 1975 ở miền Nam, Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly là ba ca sĩ hàng đầu. Trang web Thethaovanhoa có loạt bài viết về 3 danh ca này. Đây là bài đầu tiên. Mời nghe nhạc và đọc bài



(Thethaovanhoa.vn) - Gần đây có thông tin nữ danh ca Thái Thanh mắc căn bệnh Alzheimer (một chứng mất trí phổ biến) và tình trạng sức khỏe đang ngày một yếu đi. Ở tuổi gần 80, dù đang chạy đua với quỹ thời gian mỗi lúc một cạn dần nhưng những ảnh hưởng từ giọng hát của bà còn rất lớn, Thái Thanh vẫn luôn được xem là một trong những diva hàng đầu của tân nhạc Việt Nam.

5/4/14

Nhạc Việt một thời xa vắng: 4. Ngày ấy, Hà Nội trong mắt ai...

(TT&VH Cuối tuần) - Đã nhiều năm qua rồi…
Kể từ lúc Mỹ Linh,tóc dài, cầm cành bằng lăng tím, lướt qua  máy quay tại một góc Hồ Gươm, hát Hà Nội đêm trở gió.Những nữ sinh trong đoạn phim “áo học trò xanh những hàng me…”  thuở ấy, đã lớn lên đến gần hai thế hệ.
Cuộc sống quá va đập và bộn bề, làm cho chúng tôi không mấy khi được nhớ ,khoảng thời gian thực hiện những băng hình về Hà Nội, dù đã nhiều lần ngược xuôi, đi về Hà Nội…
Chúng tôi cũng quên mất ,đã có một thời, những bài hát về Hà Nội làm dậy sóng thị trường ca nhạc, vẽ nên một chân dung văn nghệ thật độc đáo, có thể nói là…độc nhất, hy hữu nhất, tráng lệ nhất, “cổ tích” nhất.
Bạn muốn hiểu vì sao?
Bạn có tin rằng tình yêu Hà Nội của người Sài Gòn đủ để làm nên những sản phẩm âm nhạc đậm sâu như vậy?


Ngày ấy, chúng tôi, những biên tập viên, đạo diễn, quay phim …xuất thân từ nhiều nguồn khác nhau nhưng gặp nhau ở Sài Gòn. Ký ức và kỉ niệm về Hà Nội của mọi người cũng đậm nhạt khác nhau. Đinh Anh Dũng  đã học mấy năm về điện ảnh tại Hà Nội. Cảm nhận về Hà Nội của nhà quay phim người miền Nam này là những khung hình thiên nhiên đẹp như mơ, là lãng đãng, là tĩnh lặng, là Văn Cao, là mái nhà phố Phái, là đám bạn hữu Hà Nội thỉnh thoảng hay í ới gọi ra làm phim...Hà Nội của Phạm Hoàng Nam là tuổi thơ với tàu điện và xe đạp, của chiều hồ Tây và phố  phường…Nam cũng vừa trở về sau mấy năm học điện ảnh ở Nga, rất háo hức và hăm hở… Còn với Hãng Phim Trẻ, nhà sản xuất đang ăn nên làm ra, nổi tiếng vì dám khai phá và mạo hiểm, Hà Nội là một ẩn số về khán giả và thị trường. Sau thành công của loạt video ca nhạc về các tác giả (1), sau Mưa Bụi (2), dẫn dắt mọi người với cảnh đẹp quê hương …, chúng tôi có ngay ý tưởng mới mẻ: làm video ca nhạc về các vùng miền, mà bàn nhau nên bắt đầu từ …Hà Nội. Vì Hà Nội là… thủ đô, Hà Nội…đẹp tự nhiên, Hà Nội có một kho bài hát tuyệt vời, (rất nhiều lí do hay ho cho những người nhiệt huyết, lãng mạn và mộng mơ thời đó), kể cả vì Hà Nội có nhiều người quen biết… v.v..

Lúc đó, chúng tôi hoàn toàn không hình dung nổi sức lan tỏa và thành công của những chương trình này.
Chúng tôi biên tập cũng…cảm tính lắm. Nhớ về Hà Nội (Hoàng Hiệp) làm bài hát mở đầu. Hồng Nhung đứng trong studio ở Sài Gòn, mà..tóc bay tơi bời ! Hồng Nhung đã làm cho bài hát u hoài một nỗi nhớ rất dễ chịu, đây cũng là một trong những ca khúc làm nên “thương hiệu” Hồng Nhung sau này. Sau đó chúng tôi bắt đầu “cuộc hành quân” đúng nghĩa, “đổ bộ” ra Hà Nội với toàn lực của một đơn vị làm băng nhạc hăm hở, đúng chất “người Sài Gòn” : nói là làm, vừa làm vừa nghĩ cách để… làm tiếp. Bạn bè trong giới ở Hà Nội cứ băn khoăn về ý định của chúng tôi, bảo rằng : “Hàng chục năm nay,chưa có ai ở Hà Nội nghĩ đến điều này, thật lạ, làm băng nhạc về Hà Nội bán được không, Hà Nội cũ kỹ quá, có thể vì chúng tôi là ngườiHà Nội nên không thấy “ quý” Hà Nội chăng?...”

Chúng tôi đã lăn lóc, đã nếm trải,  cầu kì phác họa dần dần chân dung Hà Nội bằng sự giúp sức chí tình của những người bạn ấy. Cả đoàn phim kiên nhẫn, chực chờ để có thể chớp được ánh nắng cuối cùng ở Hồ Tây, giọt sương hiếm hoi trên cây lộc vừng Hồ Gươm, lênh đênh trên bờ bãi sông Hồng, thu vào ống kính cho bằng được tiếng còi tàu qua phố Phùng Hưng, lang thang trong từng ngõ ngách, leo lên tận cột thu lôi của Nhà hát lớn để lấy cảnh phố Tràng Tiền, trải nghiệm và nếm thử những món ăn Hà Nội, ngồi hàng giờ để quay ... một bông hoa loa kèn và bức mành thấp thoáng…- những câu chuyện nghề nghiệp và đam mê mà thời buổi bây giờ khó ai có thể làm được như vậy nữa! Trong cuộc  “trường chinh” gian khổ ấy, tôi còn nhớ hình ảnh của Trinh Hoan và Lâm Lê  Dũng, máy quay cầm tay chạy bộ băng băng từ Ba Đình về tận Hồ Hoàn Kiếm, để bám theo đoàn xe hoa diễu hành dịp Quốc khánh. Nhờ vậy sau này chúng ta còn giữ được những cảnh hóa trang lịch sử  rất hoành tráng của Hà Nội vào mùa thu năm 1995, có cả hoạt cảnh trả gươm cho rùa thần ở hồ Hoàn Kiếm…

Quay phim, đạo diễn Đinh Anh Dũng
trong lần tác nghiệp thời Hà Nội trong mắt ai
Chúng tôi bắt đầu “vỡ bài”, khi tìm ra tầng tầng lớp lớp những bài hát về Hà Nội. Nhiều, phong phú hơn chúng tôi nghĩ. Mọi người bắt đầu thấy hiểu đươc một chút chiều sâu của Hà Nội, thấy việc mình đang làm đầy ý nghĩa, đáng để “dấn thân”quá.

Chúng tôi chọn những bài quen, đã được nghe nhiều nhưng chưa bao giờ ghi hình, những Em ơi, Hà  Nội phố, Hướng về Hà Nội, Hoa sữa...đậm đặc niềm vui và nỗi buồn Hà Nội, với những cảnh quay êm mượt, với những phố xưa nhà cổ, Văn Miếu và Ba Đình .v.v..( đến hôm nay thì thấy cũng thường, nhưng thời đó là cả những tuyệt phẩm và kì công). Ngồi xem lại, tôi tiếc những chi tiết chưa hoàn hảo, như sao lúc đó để Ánh Tuyết mặc chiếc áo dài rực rỡ quá, để những cận cảnh của Lê Dung chưa đủ lay động... Đặc biệt với Hoa sữa, sẵn dịp Thanh Lam (lúc ấy đang có mang), chúng tôi vẽ nên một câu chuyện tình yêu Hà Nội rất dung dị. Lam diễn rất” phiêu”, đẹp nhẹ nhàng, trắng trong, rất… hoa sữa.

Những bài hát mới (đối với chúng tôi) làm chúng tôi háo hức hơn cả. Có thể nói, chúng tôi đã nâng niu, chăm chút cho những Chị tôi, Hà Nội, mùa vắng những cơn mưa, Làng lúa làng hoa, Hà Nội đêm trở gió, Hà Nội và tôi,… bằng tất cả “tâm hồn nghệ sĩ” của mình. Lúc đó chúng tôi chưa nghĩ đến khái niệm “lăng xê” gì hết. Tôi còn nhớ Cẩm Vân nhận hát Hà Nội, mùa vắng những cơn mưa rất dè dặt, chúng tôi phải thuyết phục Vân, cam kết sẽ quay cho cô ấy đẹp… tuyệt vời. Thật vậy, Vân và những hình ảnh về Hà  Nội của một thời gian khó đã làm cho bài hát này bay bổng, lãng mạn đến… mê say. Bài hát trở thành “hit của hit” lẫy lừng ngay sau khi băng video vừa được phát hành.

Với Chị tôi chúng tôi có đôi “ngọc nữ” Hà thành. Mỹ Linh và Lê Khanh hóa thân thành những người đẹp của Tô Ngọc Vân, kiêu sa và quý phái, làm sáng rực cả chương trinh. Chị tôi cũng “hit” không kém, lại cùng lúc có bộ phim truyền hình Người Hà Nội  đã đẩy bài hát đến mức thăng hoa nhất.

Hà Nội đêm trở gió cũng vậy, bản hòa âm sang trọng đã trở thành nhạc hiệu của cả loạt chương trình. Còn nhớ, lúc ấy, một số thành viên người “Sài Gòn ngơ ngác” (trong đoàn phim) mới được hiểu thế nào khái niệm “trở gió”. Cứ thế, chúng tôi thấm dần, “đi” vào Hà Nội dần dần, khám phá dần dần… những sắc độ màu xanh trên mặt nước Hồ Gươm, những cung bậc âm thanh phố phường Hà Nội, những cách gọi, cách hiểu, cách nhìn…

Nhớ về Hà Nội (đạo diễn Đinh Anh Dũng), Hà Nội mùa vắng những cơn mưa (đạo diễn Phạm Hoàng Nam), hai chương trình video ca nhạc chủ đề Hà Nội, là chân dung Hà Nội được làm bằng cảm xúc khó tìm lại của chúng tôi. Cảm ơn những người bạn Hà Nội, những c tên tuổi , những người lặng lẽ, đã giúp chúng tôi diễn tả Hà Nội kiêu hãnh, Hà Nội đảm đang, cùng chúng tôi tìm thấy Hà Nội, cả êm đềm và bão táp.

Đây là chương trình ca nhạc quy tụ nhiều ngôi sao nhất của thời ấy. Điều lạ lùng, là chưa có dự án nào được đồng lòng như vậy, chúng tôi làm việc đúng nghĩa mỗi người một tay, xắn tay áo vào làm. Nhiều người  hãnh diện vì được tham gia. Điểm lại, đã thấy vắng bóng khá nhiều , những bậc tiền bối đã đi xa : Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Trần Lê Văn, Ngọc Bảo,…  rồi chị Lê Dung, anh Trần Kiên, anh Bảo Phúc, … May mắn, hình ảnh và dấu vết của họ vẫn được lưu lại, công sức của họ là một nét son trong cuộc hành trình mở mang nhạc Việt.

Hãng Phim Trẻ và đối tác là nhà xuất bản Âm nhạc  (DIHAVINA) “bội thu”. Băng cassette, băng hình video được bán ra với số lượng choáng ngợp. Chúng tôi chứng kiến ngày ngày số thư của khán giả đổ về, các cửa hàng băng đĩa chỉ phát toàn  ca khúc Hà Nội, hiệu ứng lan tỏa ,trở thành hiện tượng “ca sĩ Hà Nội và bài hát Hà Nội”… lẫy lừng, làm nên nên sức sống cho một loạt bài hát về Hà Nội ( khoảng 1995-1998)… và dự báo gần đến thời điểm của Làn sóng xanh.

Đó là thời kì đáng yêu, đáng nhớ nhất, thịnh vượng nhất của ngành băng đĩa nhạc Việt Nam. Thừa thắng xông lên, chúng tôi bắt đầu phát hành sản phẩm ghi âm dưới dạng CD. Băng cassette và video dần lùi bước, thời kỳ huy hoàng của công nghiệp CD  và cũng là thời kì “huy hoàng” của đĩa chép, đĩa lậu,… bắt đầu.(3)

Chia sẻ

Tôi đã kể lại phần nào những câu chuyện thành công đẹp như mơ của nhạc Việt. Những chuyện có thật, được làm nên trong bối cảnh những cuộc khai phá, mở mang, mạo hiểm, tình yêu âm nhạc và sự đồng lòng của nhiều đội ngũ, kể cả đội ngũ kỹ thuật viên và dàn máy quay ngựa chiến M2, Panasonic đã cùng chúng tôi “ra trận”.

Sau “Hà Nội”, chúng tôi làm tiếp bộ video ca nhạc Nhớ Huế, cũng rất ăn khách và cũng… đẹp như mơ.
Trong Hà Nội mùa vắng những cơn mưa, có một nghệ nhân làm tò he, những em bé Hà Nội, và văng vẳng… bài thơ Hà Nội của Trần Đăng Khoa:

Hà Nội có tàu điện
Đi về kêu leng keng…

Hà Nội có chong chóng
Cứ tự xoay trong nhà
Không cần trời nổi gió


Và :

Hà Nội có bông hoa
Buộc từng chùm cẩn thận
Chú bộ đội mua hoa
Tươi cười ra mặt trận


Chúng tôi đã yêu Hà Nội đến vậy. Nhưng sâu thẳm nhận ra, chúng tôi yêu Hà Nội chỉ vì… yêu Sài Gòn. Ngày ấy, hẹn nhau, sau “Hà Nội,” sẽ có một chương trình thật hay để Sài Gòn không thua kém.

Thiên Thanh

----------------------
(1). Câu chuyện thứ hai “Ở đâu đó, có giấc mơ một đời người”
(2) Câu chuyện thứ ba:  “Con đường mưa bụi
(3) Số lượng băng đĩa bán lúc đó lên đến cả trăm nghìn bản.


4 câu chuyện mới chỉ hé mở một phần nhỏ của quãng đường 15 năm đáng nhớ của nhạc Việt. Để “thay đổi không khí” cho mục Góc khuất, chúng tôi sẽ tiếp tục trở lại với loạt bài mới về Nhạc Việt một thời xa vắng trong thời gian tới. TT&VH Cuối tuần





Nguồn: TT&VH Cuối tuần Thứ Ba, 05/06/2012 17:14


Hai album Nhớ Về Hà Nội (đd Đinh Anh Dũng) và Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa (đd Phạm Hoàng Nam) hiện chưa tìm được trên mạng. Mời xem playlist gồm những bài ca về Hà Nội





27/3/14

Nhạc Việt một thời xa vắng 3. Mưa Bụi

(TT&VH Cuối tuần) - Câu chuyện về con đường này, chắc chắn không có nhiều người biết rõ. Nó không hề phẳng phiu, nó đầy gian nan, đầy thách thức, nhưng dẫn đến một khu vườn nở hoa, nó không phụ công những người khai phá.

Trở lại thời gian khoảng đầu những năm 1990, nhạc Việt im lìm, nhưng dự báo sẽ có nhiều cơn mưa, bằng những tín hiệu khác,  tuy chưa rõ nét về sự xuất hiện rải rác của các hiện tượng ca sĩ, nhà sản xuất khá mạo hiểm, khá cách tân…

Giai đoạn trên sân khấu bán chuyên nghiệp của Bảo Yến, Nhã Phương, Ngọc Bích, Ngọc Tân,…với dòng nhạc “Tình ca đỏ” đặc trưng… tạm lắng, nhường chỗ cho những ca sĩ có  khán giả trẻ và đông đảo hơn, “gu” thưởng thức ca nhạc sôi động hơn ,và sự hồi sinh một cách dè dặt, khá rụt rè của dòng nhạc trữ tình dễ nghe, đã phổ biến từ trước 1975. Lê Tuấn, Ngọc Sơn, Ngọc Ánh… với phong cách trẻ trung , gần gũi, đôi lúc có chút ủy mị, ướt át, và… gợi nhớ “nhạc vàng” bắt đầu được khán giả đón nhận.

Tuy nhiên, vẫn chưa rõ nét vì chưa có những “ngôi sao” thực sự, chưa có các công cụ quảng bá sâu rộng như băng đĩa nhạc, chưa có những studio kỹ thuật tốt và sự nhập cuộc rầm rộ của báo đài… các ca sĩ chủ yếu biểu diễn ở những tụ điểm  ngoài trời và một số sân khấu tỉnh. Giai đoạn đó, nếu muốn thưởng thức băng đĩa nhạc, vẫn phải nghe nhạc “hải ngoại” là chính, các ngôi sao, những “thần tượng” của số đông lúc đó là Ngọc Lan, Linda Trang Đài, Hương Lan…ở tận phương trời nào nhưng tiếng hát và hình ảnh của họ vẫn làm mưa làm gió khá mãnh liệt, vì những sản phẩm âm nhạc trong nước còn rất nghèo nàn.

Nhưng như trên đã nói, trời đã “chuyển mưa”…
Trong cuộc sống, chúng ta hiểu mọi chuyện vận hành theo quy luật, nhưng lại bằng những điều tưởng như rất tình cờ. Những cuộc gặp gỡ, kết nối, đẩy đưa rất ngẫu nhiên, có thể làm nên chuyện hoặc bắt đầu cho một trào lưu hay hiệu ứng nào đó.

Chuyện xảy ra ở studio Kim Lợi (1).

Nghệ sĩ cải lương Tài Linh ghé qua và hát thử một đoạn “tân nhạc”. Chất giọng ngọt như mật ong của chị làm cho Hữu Minh, ông chủ trẻ của Kim Lợi hết sức chú ý. Tài Linh lúc ấy đang là một ngôi sao thực sự của sân khấu cải lương. Kim Lợi đang cần một nghệ sĩ dân ca và hát nhạc …mùi.

Thời đó, ngoài nghệ sĩ Thu Hiền có thể hát dân ca 3 miền nhuần nhuyễn và rất ăn khách (các album đầu tiên của Thu Hiền thực hiện ở Hãng Phim Trẻ dưới dạng băng cassette bắt đầu bán chạy), chưa có một giọng ca nào mới hơn. Hữu Minh quyết định mời Tài Linh thử nghiệm, hát thử một số ca khúc do chính anh viết (vì mới tập sáng tác nên Hữu Minh nhờ nhạc sĩ Vinh Sử, người được mệnh danh là “vua nhạc sến” ở Sài Gòn, biên tập và chỉnh lý theo dạng âm hưởng dân ca).Tài Linh hoàn toàn không có kỹ thuật hát nhạc nhẹ.

Cuộc hành trình thu âm rất cực khổ của Tài Linh bắt đầu. Chị làm quen với nhịp phách và tiết tấu của nhạc nhẹ qua sở trường và cách nhấn nhá, buông thả luyến láy mềm mại của cổ nhạc, những chị biết chắt lọc và làm mới giọng hát của mình, cộng hưởng với sự mày mò, sửa chữa, và xử lý tinh tế về kỹ thuật của phòng thu Kim Lợi. Tiếng hát đặc biệt của chị đã thuyết phục được ca sĩ Đình Văn, vốn là một giọng ca nam khá sáng giá lúc bấy giờ, kết hợp với chị thành một cặp song ca. Đình Văn – Tài Linh với bài hát đình đám đầu tiên Tùy hứng Lý qua cầu đã làm… nhúc nhích thị trường băng cassette, bắt đầu vươn lên, phá các kỷ lục của Ngọc Sơn, Thu Hiền… vượt qua con số 150.000 bản, làm rộn rang khắp trong Nam ngoài Bắc, từ thành phố đến tận miền quê thời kì đó.

Khi Hãng Phim Trẻ và Kim Lợi có sáng kiến, liều lĩnh du nhập một dàn máy quay mới tinh (hệ thống M2, Panasonic “oách” nhất của thời đó), thì các nhà “sáng tạo nghệ thuật” mới tìm cách dùng, khai thác tối đa công năng của nó bằng  ý tưởng quay nghệ sĩ và cảnh đẹp (tiền thân của video ca nhạc và MTV Việt Nam sau này. Sở dĩ điều này được coi là mới lạ, vì thời đó mọi người chưa được tiếp cận kênh MTV quốc tế, còn các chương trình ca nhạc ở hải ngoại như Thúy Nga hay Asia thì chủ yếu quay trên sân khấu).

Hữu Minh kể: “Một chiều buồn, cả đoàn đi quay cảnh làm karaoke trên Đà Lạt, thì gặp …mưa bụi”. Anh còn nhấn mạnh: “cam đoan chỉ ở Đà Lạt mới có mưa bụi”. Đó là những hạt mưa nhẹ và mỏng manh lạ lùng, chỉ làm mềm tấm áo, không làm người ta ướt sũng, ý tưởng này sẽ dùng làm chủ đề cho video ca nhạc của Tài Linh. Máy M2 sẽ quay va …đặc tả được mưa bụi.

Và như vậy, dòng video ca nhạc tình tự quê hương Mưa bụi ra đời. Bối cảnh thì thật nhiều, những bờ ruộng, đồng lúa, những chiếc cầu tre, xứ Huế mộng mơ, miền Trung thương nhớ, Tây Nguyên khói sương v.v… hàng ngày chứng kiến các đoàn phim lên đường, chưa bao giờ cảnh đẹp quê hương lại được khai phá, thu vào ống kính trong từng bối cảnh, từng góc độ tận tình như vậy. Tôi còn nhớ mình đã nói với Hữu Minh: “Cảnh đẹp thế này chỉ để quay ca nhạc thì phí quá, giết cảnh quá”. Minh nói: “Mình sẽ làm một dòng nhạc mới, giới thiệu quê hương bằng hình ảnh, đó là thế mạnh của phim ca nhạc trong nước, điều mà “hải ngoại” khó có thể làm được”.

Dấu ấn khó phai nhất của Mưa bụi là bài hát Giăng Câu. Nó gần gũi và phổ thông đến mức trở thành câu chào hàng ngày của khán giả miền Tây và một số nơi ở Sài Gòn: Em hỏi anh đêm nay đi đâu, anh nói rằng anh đi giăng câu



Video ca nhạc Mưa bụi phát triển dần dần theo một công thức khá hấp dẫn: Ca khúc có âm hưởng dân ca+ nhạc trữ tình bình dân (sến) + Tổ hợp hoạt cảnh hài + ca sĩ mới được lăng xê…Từ Mưa bụi, sau hai ca sĩ kiêm diễn viên chính là Tài Linh - Đình Văn, xuất hiện rầm rộ hàng loạt tên tuổi một thời như Chế Thanh, Sỹ Ben, Thùy Trang, Cảnh Hàn…Mưa bụi còn rủ rê cả những ngôi sao cải lương như Kim Tử Long, Chí Tâm,… và các danh hài Hồng Vân, Hồng Đào…, các nghệ sĩ Thành Lộc, Hữu Châu, Xuân Hương… dạo chơi qua lĩnh vực video ca nhạc và tạo được dấu ấn bằng những tiết mục hài rất vui nhộn, hợp thị hiếu, có tính chất sáng tạo, đầy thể nghiệm và tìm tòi trong thời kì đó.

Nhưng sau 2 số đầu tiên với lương băng video bán chạy không ngờ, Mưa bụi gặp phải những phản ứng khá gay gắt vì… “bình dân quá”,  “không xứng tầm”, không “sang” v.v…Những người thực hiện không có cách lý giải hay tự bênh vực, bèn bàn nhau … đổi tên chương trình.

Vậy là sau đó Mưa bụi trở thành Tình đã bay xa, một dấu ấn cũng đậm đà không kém, đặc biệt đã…bay xa hơn, có công đầu trong việc tiếp cận thị trường nhạc Việt ở hải ngoại,chinh phục lượng khán giả khó tính nhưng luôn mở lòng đón nhận những thay đổi tích cực của quê nhà.

Năm 1993, tuy ra vẻ hờ hững khi xem những chương trình video ca nhạc trong nước gởi sang chào hàng,  sau “ Văn Cao, giấc mơ một đời người”(2) , và Mưa bụi, các trung tâm băng nhạc ở hải ngoại đã quan tâm thực sự đến việc hợp tác với các nhà sản xuất trong nước, để làm ra những chương trình video ca nhạc đáp ứng được cả hai nhu cầu trong và ngoài nước. Điều đó kích thích việc sáng tác, tìm nhân tố mới,cùng với sự ra đời của các hãng băng đĩa nhạc trong nước, sát cánh và cạnh tranh với Hãng Phim TrẻKim Lợi studio. Đó là những hãng có thế mạnh về dòng nhạc này như Bến Thành, VAFACO… đặc biệt là TTBN Rạng Đông, rất năng động trong việc nắm bắt giao dịch, tổ chức trao đổi sản phẩm, giao lưu nghệ sĩ giữa hai bên (đây là những sự kiện và chuyển động khác, sẽ được kể ở những câu chuyện sau).

Từ Mưa bụi, đến Tình bay xa, sau đó là Tình xuân, Tình 2000, …thương hiệu “trữ tình quê hương” và “nhạc hoa lời Việt”(3) ngày càng đông khán giả , tiêu biểu cho thời kỳ rực rỡ, “dễ kiếm tiền nhất” của video ca nhạc. Lần đầu tiên và duy nhất (có lẽ lịch sử không bao giờ lặp lại), các đại lý bán băng phải xếp hàng, lấy số thứ tự,mới vào điểm phát hành mua được băng về bán. Đúng là đắt như..tôm tươi.

Các ngôi sao, ca sĩ mới (nhân tố của Làn sóng xanh) sau này như Lam Trường, Phương Thanh,.. cũngđược phát hiện, “lăng xê” từ đó (Lam Trường nổi lên từ bài hát Tiếng sáo phiêu bồng, và sau đó là Tình thôi xót xa từ video Tình Xuân...)

Những ngộ nhận, phủ nhận, những phán quyết khắt khe của một thời đã đi qua. Ngày hôm nay, những ca khúc bolero,” trữ tình vàng”… đã có một chỗ đứng đàng hoàng, thậm chí được tôn vinh, được bênh vực vì đã vượt thời gian và nói lên những rung động rất thật, rất… vừa phải của tâm hồn người.

Vì vậy, tôi viết lại câu chuyện này, muốn chia xẻ với các bạn, để trả lại  phần nào cho Mưa bụi những giá trị thật của nó. Showbiz Việt  đã có một dòng chảy lặng lẽ, không ồn ào chiêu trò nhưng đằm thắm và chững chạc, đó là dòng nhạc tạm gọi là trữ tình quê hương, với những ca sĩ đầu đàn và cả những ngôi sao, đáp ứng được thi hiếu và nhu cầu giải trí của rất đông khán giả.

(Còn nữa)
Thiên Thanh
-----------------
(1).Trong câu chuyện thứ 1 (TT&VH Cuối tuần số 18).
(2) Trong câu chuyện thứ 2 (TT&VH Cuối tuần số 19).

Nguồn: TT&VH Cuối tuần. Chủ Nhật, 27/05/2012 17:27

Mưa Bụi 1




23/3/14

Nhạc Việt một thời xa vắng 2: Giấc mơ một đời người

Dưới mái nhà
Một người đang ngủ
Với giấc mơ của những vì sao
… (*)

Tôi tìm mãi trong tủ của mình và hỏi rất nhiều bạn bè, không ai còn giữ được bản gốc cuốn video ca nhạc Văn Cao, Giấc mơ một đời người (*) tìm đến Hãng phim Trẻ “nhà sản xuất" của thời ấy, lại càng không…

Đây là một tác phẩm, một sản phẩm âm nhạc chất chứa trong lòng nó nhiều câu chuyện có thật, nhưng lại lãng mạn và đẹp như cổ tích.
Nếu bạn muốn nghe, tôi sẽ kể nhé, kể với niềm hạnh phúc và hãnh diện khôn nguôi vì được là một … trong rất nhiều người chung tay làm ra … giấc mơ ấy.

22/3/14

Nhạc Việt một thời xa vắng: 1. Ngôi nhà trong hẻm

Nhạc Việt một thời xa vắng là loạt bài của tác giả Thiên Thanh đăng trên trang web Thể Thao Văn Hóa, bắt đầu từ ngày 9/5/2012. Được 4 bài thì tạm nghỉ để thay đổi không khí, và hẹn sẽ trở lại. Nhưng từ ấy đến nay gần 2 năm qua, chưa thấy thêm bài nào. Thấy đây là tài liệu quí về nhạc Việt một thời, nên cop về đây trước để mọi người đọc cho vui, sau để lưu.

Mời nghe nhạc và đọc bài




(TT&VH Cuối tuần) - Showbiz Việt đầu năm 2012, đã hơn 20 năm từ khi  bắt đầu câu chuyện này… Tin buồn về Whitney Houston, nỗi tiếc thương đậm sâu về một thế hệ vàng ca sĩ như câu chuyện dẫn về một thời chưa xa lắm. Những người trong cuộc ngày ấy, những người đã chứng kiến và hăm hở lao vào một cuộc “vỡ hoang” cho nhạc Việt, thỉnh thoảng gặp nhau đâu đó, tóc đã bạc màu, ngậm ngùi nói với nhau: “Bao giờ cho tới…ngày xưa”.