12/10/20

tứ phân ngũ liệt



四分五裂 sì fēn wǔ liè

四 tứ = bốn. Hình lỗ mũi với hai vệt nước. Nghĩa gốc là nước mũi, mượn (giả tá) chỉ số 4.
分 phân = chia. Dùng dao 刀 (hình cây dao, âm Hán Việt là đao) phân chia một khúc cây thành hai đoạn 八. 
五 ngũ = năm. Dùng số gạch 一 二 三 để biểu thị 1, 2, 3 thì rất dễ thấy, nhưng nếu tiếp tục dùng với 5 thì sẽ rất rối. Vì thế người ta dùng hai gạch chéo nhau X biểu thị 5. Theo th gian hai gạch chéo ban đầu thành chữ 五 ngày nay.

Trước khi học chữ tiếp theo, ta cần học hai chữ sau:
列 liệt gồm bộ xương 歹 và cây dao 刂 (cách viết khác của chữ đao 刀 vừa học trên), Nghĩa gốc là chia ra (lấy dao lóc xương ra). Nghĩa rộng là bày ra, dàn hàng. Dùng làm danh từ thì có nghĩa là hàng, dãy, đoàn. Liệt trong liệt vị, liệt cường, liệt kê đều là chữ liệt 列 này. (Liệt trong liệt sĩ thì viết khác)
衣 y = áo. Vẽ hình (tượng hình) cái áo.
裂 liệt  = vải vụn sau khi cắt 列 áo 衣 còn dư. Liệt 列 còn chỉ âm đọc. Mở rộng nghĩa thành cắt, rách, xé ra rồi chia tách, li tán. 
列 cũng có một nghĩa là chia tách, nên có khi cũng dùng thay 裂. 

*
四分五裂 tứ phân ngũ liệt = chia bốn tách năm, hay như ta hay nói chia năm xẻ bảy. Tiếng Anh là to disintegrate; be all split up; fall apart; be at sixes and sevens. 

*
Chữ 裂 ở ba dạng: triện, lệ và khải thư. Hình trên trang http://qiyuan.chaziwang.com/ 



10/10/20

nhất nhật tam thu

 一日三秋 yī rì sān qiū

一  nhất = một; 

三 tam = ba. 

        Nhất và tam là hai chữ chỉ sự: một gạch chỉ 1, ba gạch chỉ 3

日 nhật = mặt trời. Vẽ (tượng hình) ông mặt trời. Nghĩa mở rộng: ngày. 

        日日 ngày ngày. 一日 một ngày.

秋 thu = mùa thu. 秋日 ngày thu. 

秋 gồm hai chữ hội ý mà thành:

  • hòa 禾 = cây lúa. vẽ (tượng hình) cây lúa với bông lúa trên ngọn
  • hỏa 火 = lửa. Vẽ hình ngọn lửa. 
  • thu 秋 = mùa lúa 禾 chín đỏ (như màu lửa 火) 

一日三秋 một ngày (dài như) ba mùa thu. A day absent from you is like three seasons, a single day apart seems like three years.

Thành ngữ này lấy từ một câu thơ ở bài Cát đằng trong Kinh Thi, một trong ngũ kinh của Nho giáo: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề = một ngày không gặp như ba mùa thu. Câu thơ diễn tả nỗi nhớ người yêu. Nguyễn Du đã mượn ý câu thơ này để tả nỗi nhớ Kim Trọng của Kiều: 

Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.

Khi lòng có sự trông ngóng thì thấy thời gian như dài ra. Không chỉ ngóng người yêu. Ngóng được tự do cũng vậy. Nên còn có câu: Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại = một ngày trong tù bằng ngàn năm ở ngoài. Phan Châu Trinh khi bị giam ở Côn Lôn đã lấy ý này để hài hước, rằng ông Bành Tổ được tiếng sống lâu, cũng ko so được với mình:

Dầu ai tại ngoại đù thiên thu
So lại không qua nhất nhật tù
(..)
Thong thả co tay ngồi tính thử
Thần tiên chưa dễ sánh ta đâu.

Thế nhưng khi không có gì mong ngóng, thời gian dường như trôi đi rất nhanh, mới thôi mà đã một đã một đời .. 


*
Hình chữ thu 秋 mùa thu được vẽ trên yếm rùa hoặc xương thú (giáp cốt văn) cách đây hơn ba ngàn năm:




一日三秋

(hình trên mạng)

9/10/20

thần tam khẩu tứ

唇三口四 chún sān kǒu sì
唇 thần = môi. Gồm chữ thần 辰 và bộ khẩu 口. Là chữ hình thanh, với
  • 口 khẩu = miệng là phần hình (chỉ nghĩa)
  • 辰 thần, cũng đọc là thìn = chi thìn trong 12 chi (tí sửu dần ..) là phần chỉ âm đọc.
    唇 cũng viết 脣 gồm thần 辰 ( = thìn) + bộ nhục 月 ( = thịt).
三 tam = ba. Chữ chỉ sự: Gạch ba gạch, chỉ 3.
口 khẩu = miệng. Tượng hình cái miệng.
四 tứ = bốn. Tượng hình cái lỗ mũi với hai vệt mũi, nghĩa gốc là nước mũi. Sau người ta mượn để chỉ 4. Đây là loại chữ giả tá. Nghĩa (nước mũi) bị mượn, người ta sẽ đặt chữ mới (là chữ 泗 - thêm ba chấm thủy ở trước, vẫn đọc là tứ)
唇三口四 = môi ba miệng bốn. Ý nghĩa đại khái là mồm năm miệng mười, nói nhiều nhưng linh tinh lang tang, chẳng trúng vào đâu.
Giản thể: 唇三口四 



8/10/20

tam nhân vi chúng

 三人為眾 sān rén wéi zhòng

 三 tam = ba. gạch ba gạch, chỉ 3 (chữ chỉ sự, như nhất 一, nhị 二.)

 人 nhân = người. Chữ tượng hình. Giáp cốt văn (loại chữ Hán thời sơ khai) là hình người đứng. 

 為 vi = làm, là. Giáp cốt văn là hình bàn tay dắt con voi đi làm việc. Cũng viết 爲. Giản thể: 为

眾 chúng = đám đông. Giáp cốt văn vẽ hình ba người là việc dưới ánh mặt trời (xem hình). Ba người, tượng trưng (hội ý) đám đông. Về sau người ta thay hình ông mặt trời bằng hình con mắt 罒 , hẳn là của một ông chủ nào đó đang canh chừng đám nô lệ làm việc. 
Cũng viết: 衆. Giản thể: 众 gồm ba chữ nhân, phần dưới của dạng phồn 眾

三人為众 có nghĩa là ba người thì tạo nên đám đông, ba người thì không coi là số ít nữa. Ở đây còn có sự chơi chữ: bà chữ nhân 人 ghép lại thì thành chữ chúng 众 tức 眾. 

Thật ra nhiều lúc chỉ một người cũng tạo thành đám đông. Nhất là trong thời facebook này, chỉ cần một người tung ra một tin đủ hấp dẫn, lập tức tạo thành một đám đông khổng lồ.
Nhớ một chuyện kể (chẳng biết thiệt hay đùa) thời còn xếp hàng. Một anh chàng đi ngang qua cửa hàng bách hóa thì sút dây giày, bèn dừng lại cúi xuống cột. Khi anh đứng dậy thì thấy sau lưng một người đã sắp thành một hàng dài.

Giản thể: 三人为众

Dạng giáp cốt văn của chữ chúng 眾 (hình trên mạng)



6/10/20

nếu có yêu tôi

 Nếu có yêu tôi là bài hát của Trần Duy Đức phổ nhạc bài thơ của Ngô Tịnh Yên, từng được giới thiệu trên blog này, ở đây, với tiếng hát Khánh hà trên sân khấu Paris By Night. 

Hôm nay mời nghe lại bài hát với Nam Khánh, trong chương trình Âm nhạc Việt Nam  Những chặng đường của VTV3. Clip cũng có phần phỏng vấn Trần Duy Đức, nhà thơ Ngô Tịnh Yên. 



2/10/20

Tự học chữ Hán

Đây là tập sách do Lưu Khôn, vốn là giảng viên Hán văn Đại học Văn Khoa Sài gòn trước 1975 biên soạn. 
Sách gồm 54 bài học, trừ hai bài đầu, mỗi bài có bố cục như sau:
- bài khóa
- học tiếng
- ghép chữ làm câu
- một số ghi chú về văn phạm.
Các bài khóa phần lớn được trích ra từ bộ Tân Quốc văn giáo khoa thư của người Tàu biên soạn làm sách giáo khoa cho hs tiểu học của họ (thời Dân quốc). Thỉnh thoảng tác giả xen vào một số bài thơ nổi tiếng nhưng dễ đọc của các nhà thơ Tàu xưa. 

Riêng hai bài đầu, một bài giới thiệu nguồn gốc, cách cấu tạo chữ Hán (Lục thư), một bài hướng dẫn cách học. Cuối sách có bảng kê các chữ đã học theo âm Hán Việt và theo bộ thủ. 
Sách có một bản mục lục đặt cuối sách, nhưng khá tệ: Quá sơ lược, nên muốn tìm một bài nào đó, chỉ có cách lật tìm từng trang!

Tập sách này hiện được nhiều nơi in lại, có thể tìm mua ở các nhà sách, kể cả online.



1/10/20

Tiếng Việt: Hiện tượng biến âm

 Qua trường hợp biến đổi từ “bợ chồng” thành “vợ chồng”, chúng ta tiếp cận được một hiện tượng rất phổ biến trong tiếng Việt: hiện tượng biến âm.

Biến âm không phải chỉ vì nói ngọng, kiểu “long lanh” thành “nong nanh” hay “nôn nao” thành “lôn lao” như một số người ở một số địa phương nào đó. Biến âm cũng không phải chỉ vì phương ngữ, kiểu “về” thành “dề” như ở miền Nam, hay “nhà” thành “dà” như ở một số làng huyện ở miền Trung, “trung trinh” thành “chung chinh” như ở miền Bắc.

Ðiều đáng nói hơn là những hiện tượng biến âm xuất phát từ những quy luật nội tại của ngôn ngữ, những sự biến âm có mặt ở mọi vùng đất nước và nếu không tự giác và tốn công truy lục, chúng ta sẽ không thể nào tái hiện được nguyên dạng của nó. Chúng ta dễ ngỡ biến âm là chính âm. Dễ ngỡ nó tự nhiên là thế.

Ví dụ, để diễn tả tâm sự buồn nào đó dần dần giảm nhẹ đi, chúng ta hay dùng chữ “nguôi ngoai”. Ðúng ra là “nguôi hoai”. Trong các từ điển cổ, “hoai” có nghĩa là phai nhạt. Nghĩa ấy, cho đến bây giờ chúng ta vẫn dùng trong chữ “phân đã hoai”. “Nguôi hoai” là từ ghép chỉ sự phai dần của một nỗi buồn, một niềm đau.

Tương tự như vậy, chữ “yếu ớt” chúng ta hay dùng ngày nay là do chữ “yếu nớt”. “Ớt” thì không có nghĩa gì cả. Trong khi “nớt” có nghĩa là sinh thiếu tháng, vẫn còn dùng trong từ “non nớt”. “Yếu nớt”, do đó, có nghĩa là yếu đuối, là non nớt.

Chữ “nói mớ” thật ra là biến âm của chữ “nói mơ”, nói trong giấc mơ. “Nước miếng” thật ra là biến âm của “nước miệng”, nước chảy ra từ miệng, cùng cách kết cấu với các chữ nước mắt hay nước mũi.

Chữ “to tát” hiện nay tất cả các từ điển đều viết với chữ T ở cuối, TÁT; nhưng trong Ðại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của thì lại viết chữ TÁC kết thúc bằng C: “to tác”, kèm theo lời định nghĩa là: thô kệch, lớn tác. Mà chúng ta đều biết chữ TÁC có nghĩa là tuổi hay vóc dáng, như trong các từ tuổi tác, tuổi cao tác lớn, hay ngày xưa người ta nói bạn tác, tức bạn hữu; trang tác, tức cùng lứa, cùng tuổi với nhau.

Các con số đếm, nơi rất cần sự chính xác, cũng không thoát khỏi luật biến âm.

Như số 1, chẳng hạn. Ðứng một mình là một. Ðứng trước các con số khác cũng là một. Nhưng khi đứng sau các con số khác, trừ số 10, nó lại biến thành “mốt”: hai mươi mốt; ba mươi mốt, bốn mươi mốt. Những chữ “mốt” ấy chính là biến âm của “một”. Nhưng không phải lúc nào “mốt” cũng có nghĩa là một: “Mốt” trong một trăm mốt hay trong một ngàn mốt, một triệu mốt... không phải là một.

Con số 5 cũng vậy. Ðứng một mình là năm. Ðứng trước các số khác cũng là năm. Nhưng khi đứng sau các số, từ 1 đến 9, nó lại biến thành “lăm”: mười lăm, hai mươi lăm... Con số hai mươi lăm ấy lại được biến âm thêm một lần nữa, thành “hăm nhăm”.

Số ba mươi lăm cũng thường được biến âm thành “băm nhăm”. Từ số bốn mươi lăm trở lên thì chỉ có một cách rút gọn là bốn lăm; năm lăm, sáu lăm, bảy lăm, tám lăm, và chín lăm chứ không có kiểu biến âm như “hăm nhăm” và “băm nhăm”.

Con số 10, cũng vậy. 10 là mười. Nhưng từ 20 trở lên thì “mười” biến thành “mươi”: hai mươi, ba mươi, bốn mươi... Dấu huyền bị biến mất. Có điều, “mươi” không phải lúc nào cũng có nghĩa là mười. Trong nhóm từ “mươi cái áo”, chẳng hạn, “mươi” lớn hơn hoặc nhỏ hơn mười: một con số phỏng định, ước chừng, bâng quơ.

Con số còn thay đổi được, huống gì những từ khác.

Như từ “không”, chẳng hạn. Phủ định điều gì, người ta có thể nói “không”, mà cũng có thể nói “hông”, nói “khổng”, nói “hổng”. Xuất hiện trong câu nghi vấn, chữ “không” ấy có thể có thêm một biến âm khác là “hôn”: “nghe hôn?” Chưa hết. Một số âm vị trong cụm “nghe hôn” ấy bị nuốt đi; “nghe hôn” biến thành “nghen”, rồi đến lượt nó, “nghen” lại biến thành “nghén” hay bị rút gọn lần nữa, thành “nhen”, rồi “hen”, rồi “hén”, rồi “nhe”, v.v...

Như vậy, biện pháp biến âm trở thành một biện pháp tạo từ. Ðã có từ “vậy”, chỉ cần thay dấu nặng bằng dấu huyền, chúng ta có từ mới: “vầy” (như vầy nè!). Ðã có từ “lui hui”, người ta tạo thêm các chữ “lúi húi” rồi “lụi hụi”. Ðã có từ “chừ bự”, người ta tạo thêm các từ mới: chư bư, chừ bư, chừ bử, chử bử, chứ bứ, chự bự. Ðã có “trật lất”, người ta tạo thêm: trết lết, trét lét, trớt lớt, trớt huớt...Ðã có từ “ngoại” vay mượn từ chữ Hán, chúng ta tạo thêm hay từ khác: “ngoài” để các quan hệ không gian cũng như thời gian và “ngoái” để chỉ quan hệ về thời gian: “năm ngoái”.

Biện pháp biến âm như vậy đã dẫn đến một hiện tượng khá thú vị trong tiếng Việt: hiện tượng từ tương tự, tức những từ hao hao gần nhau về cả ngữ âm lẫn ngữ nghĩa, chẳng hạn: các chữ bớt và ngớt; đớp, tợp, hớp và đợp; bẹp, xẹp, lép, khép, nép và nẹp; khan, khàn và khản; xẻ, chẻ, bẻ và xé; xoăn, xoắn, quăn và quắn; tụt, rụt và thụt; véo, nhéo, và béo; v.v...


Nhưng hiện tượng từ tương tự trong tiếng Việt thì dài lắm. Sẽ bàn sau, khi thấy…ngứa.

nguồn: VOA https://www.voatiengviet.com/a/a-19-2009-11-30-voa31-81513787/486857.html?