Hiển thị các bài đăng có nhãn Dương Thiệu Tước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dương Thiệu Tước. Hiển thị tất cả bài đăng
17/10/16
SNTN 16. Dương Thiệu Tước, mạch tương lai láng chờ phím ngân trùng
Trong một dịp bình nghị về nhạc, Phạm Duy đã phát biểu, rằng vào đầu thập niên 40 khi Văn Cao và Phạm Duy còn viết nhạc với âm thanh chuỗi như trong Cung Đàn Xưa hay Khối Tình Trương Chi, thì người đó đã tài tình hòa cả thất cung lẫn ngũ cung trong một khúc tình ca diễm tuyệt. Người mà Phạm Duy nhắc tới đó, chính là Dương Thiệu Tước.
Khúc hát làm Phạm Duy cảm phục mãi tới giờ chính là Trời Xanh Thẳm, mà Dương Thiệu Tước đã viết từ năm 1939. Và Phạm Duy nhớ bài ca vô cùng, vì do nghe Thái Hằng ngây ngất với Trời Xanh Thẳm mà ông đã bị cú sét ái tình... và Thái Hằng trở thành bà Phạm Duy từ đó...
Trời Xanh Thẳm
Đối với nhiều nhạc sĩ ở tuổi thất tuần hiện nay, Dương Thiệu Tước là một người đàn anh đáng yêu, không chỉ vì tuổi đời hay tuổi nghề, mà còn vì tài nghệ xuất chúng và cung cách phong nhã khác thường.
23/8/16
Trời xanh thẳm
Nghe lại bài hát Trời Xanh Thăm của Dương Thiệu Tước được Quỳnh Giao giới thiệu trong chương trình Suối Nguồn Tân Nhạc hôm trước với giọng ca Thanh Lan.
Đây là một trong những tác phẩm thời kì đầu của nền tân nhạc VN. Xem Phạm Duy phân tích một chút về nhạc thuật tác phẩm này.
17/1/16
Thuyền mơ . Dương Thiệu Tước
![]() |
| Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1915 - 1995) |
Dương Thiệu Tước được xem là một trong những người khai sinh nền tân nhạc Việt Nam. Từ những năm 193x, ông đã cùng Thẩm Oánh, Lê Yên .. lập nhóm Myosotis, cùng nhau sáng tác nhạc. Từ 1954 ông di cư vào sống ở Saigon, làm chủ sự phòng văn nghệ Đài phát thanh Saigon, dạy guitar tại trường Quốc gia âm nhạc. Sau 1975 ông ở lại Saigon, dù vợ và các con đều đi định cư ở nước ngoài. Ông mất ngày 1/8/1995 tại Saigon.
Chiều chủ nhật xem bộ phim ca nhạc Thuyền Mơ do ảng Phim Trẻ sản xuất từ 1995 cho vui, nghe lại một số ca khúc để đời của ông Bóng Chiều Xưa, Thuyền Mơ, Ngọc Lan, Khúc Nhạc Dưới Trăng, Kiếp Hoa, Chiều, Đêm Tàn Bến Ngự, Bến Xuân Xanh, Tiếng Xưa qua các giọng ca Hồng Hạnh, Thùy Dương, Thu Hà, Thanh Thúy, Tịnh Quyên, Khắc Triệu, Ánh Tuyết, Thanh Phương, Ngọc Yến
29/4/15
Dương Thiệu Tước và Ngọc Lan
Quỳnh Giao
Nếu Dương Thiệu Tước là người viết ca khúc khêu gợi nhất từ thời “tiền chiến”, thời phôi thai của tân nhạc cải cách, thì ông cũng là tác giả của một ca khúc lãng mạn thanh quý nhất.
Trước “Cỏ Hồng” của Phạm Duy dễ mấy thập niên, bài “Dưới Ánh Trăng” của Dương Thiệu Tước là ca khúc mang rất nhiều ẩn dụ âm dương.
Anh như ánh trăng thanh
Em như hoa trên cành
Trăng lồng hương sắc thắm
Âu yếm cho mộng tàn canh.
Ánh trăng mà ái ân với nụ hoa đầu cành, không là nghệ sĩ giàu trí tưởng tượng thì ít ai nghĩ ra! Chữ “lồng” của ông trong đoạn mở đầu quả là đắt! Đông phương thời xưa vốn không nghèo ý lạ thì cũng phải chịu chữ này là hay. Là động từ hay hình dung từ vậy, mà ánh trăng lại lồng cho hương sắc thắm?
Người ta thường nói Dương Thiệu Tước kết tinh tài hoa của đất Bắc ngàn năm văn vật vào một thể loại mới là nhạc cải cách, mà ông cũng là một trong mấy tác giả tiên phong. Ông sinh năm 1915 tại làng Vân Đình tỉnh Hà Đông, là cháu nội cụ Dương Khuê của văn học sử. Những bậc cao niên ngày nay vẫn còn nhắc đến Dương Thiệu Tước tại Hà Nội của sáu mươi năm về trước, môi đỏ tựa son, da trắng hồng, tóc đen nhánh, gợn sóng như một công tử tài hoa đất Hà Thành.
Ông thuộc loại nhạc sĩ quán triệt nhạc thuật Tây phương lẫn văn hoá Đông phương nên mới cho “trăng lồng hương sắc thắm” trong ca khúc thuộc loại đầu đời của tân nhạc cải cách.
Sau ông, nhiều nhạc sĩ khác cũng nổi danh trong trường phái tân nhạc cao sang về lời từ và quý phái trong giai điệu. Họ không nhiều đâu. Đó là Vũ Thành, Nguyễn Văn Quỳ và Cung Tiến. Họ viết nhạc trên giai điệu Tây phương, rất gần với thể loại về sau chúng ta gọi là “bán cổ điển”.
Nhưng, khác ba nhạc sĩ trên, Dương Thiệu Tước cũng là tác giả của nhiều ca khúc vẫn đậm nét Á Đông, trên giai điệu ngũ cung: đó là “Đêm Tàn Bến Ngự” vô cùng Huế,
hay “Tiếng Xưa”, hết sức Nam kỳ. Nói “Tiếng Xưa” là giai điệu miền Nam thì nhiều người hoài nghi, nhưng xin nghe lại mà xem. Những người sành cổ nhạc Nam phần như Nguyễn Hữu Ba hay Việt Hùng thì không còn ở với chúng ta để xác nhận điều ấy, cho nên mình phải nghe lại, ngẫm lại!...
Dương Thiệu Tước để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm trang nhã của loại bán cổ điển, như “Áng Mây Chiều”, “Buồn Xa Vắng”, “Mơ Tiên”, “Bến Xuân Xanh” hay “Thuyền Mơ”.... Bài nào cũng là viên ngọc quý trong kho tàng nhạc Việt. Riêng một bài thì rõ là một đoá hoa quý: “Ngọc Lan” tiếp nối ẩn dụ của “Dưới Ánh Trăng” đã nói ở đầu. Nhưng thanh thoát bội phần.
Một số người ưa chuyện hậu trường thì cho rằng Ngọc Lan được Dương Thiệu Tước sáng tác cho Minh Trang (thân mẫu của người viết bài này!) Đấy là tiểu tiết hay tiểu truyện không cần nói trong tác phẩm. Đúng sai thì xin để lại cho những người trong cuộc. Dương thiệu Tước viết bài này tại đất Thần Kinh năm 1953, khi cùng thân mẫu của người viết về Huế thăm đại gia đình đã xa lâu rồi.
Nếu “Dưới Ánh Trăng” là ca khúc tả cảnh để tả tình, để ánh trăng ân ái với đóa hoa, thì “Ngọc Lan” tả đóa hoa mà để nói về tình yêu thanh khiết.
Những người không hiểu lời, ngoại quốc chẳng hạn, hoặc nếu chỉ nghe phần nhạc có hoà âm công phu, thì vẫn cảm nhận được nét đẹp lả lướt mà không lả lơi, phóng khoáng mà không phóng túng và nhất là giai điệu rất trang trọng, quý phái. Trước vẻ đẹp của hoa, người nghệ sĩ chỉ có thể trầm trồ như vậy!
Viết trên cung Mi giáng Trưởng, dìu dặt khoan thai theo tiết điệu ¾ của một bài luân vũ chậm, ca khúc Ngọc Lan có ba nhạc đề.
Phần đầu tha thiết dịu dàng mở ra như một đóa hoa ngọc lan mới nở và phả ra hương thơm ngoài hiên nắng. Từ cánh hoa trắng muốt như bạch ngọc, nhạc sĩ chuyển qua phần hai, ngợi ca cả thanh lẫn sắc. Hóa ra hoa chỉ là người. Mà phải là người rất đẹp. Qua đến nhạc đề thứ ba, tác giả chuyển từ cung Mi giáng Trưởng sang Si giáng Trưởng rồi qua Sol thứ trước khi trở lại Si giáng trưởng để chuyển về nhạc đề đầu tiên. Nhạc đề này diễn tả sự hôn mê rung động của người ngắm hoa. Tác giả khiến ta nghĩ rằng trước vẻ đẹp tinh khiết của hoa, người nghệ sĩ phải lùi lại, ngậm ngùi nhìn nét đẹp như hương thơm, cứ thoảng dần trong gió và để lại nơi đây, trong cõi đời này, biết bao thương nhớ.
Nhạc thuật gợi lên nào thanh, nào sắc nào hương và nỗi tình si của người không dám sỗ sàng bước tới, mà chỉ chìm dần trong làn hương thắm do đóa hoa vương lại.
Về cách diễn tả thì khi trở về nhạc đề thứ nhất, người ca sĩ sẽ hát cho đến cuối nhạc đề hai bằng hai câu kết tuyệt vời, một trên cung Trưởng, một trên cung Thứ và đáp lại bằng Mi giáng Trưởng lâng lâng, đầy thương nhớ. Ngày xưa, trong các đài phát thanh của Sàigon, khi hát câu cuối, người ca sĩ phải lên đến nốt Sol cao ngất, ở ngoài dòng kẻ. Nhưng đó là chuyện ngày xưa!
Ngọc Lan là ca khúc kén người hát lẫn người nghe. Muốn hay thì trước hết phải có hoà âm ra hồn, mà về hoà âm không phải nhạc sĩ nào cũng diễn tả được nét thanh quý của tác phẩm. Không chỉ là một bài hát, Ngọc Lan là một bài thơ, một bức hoạ và một đoá thơm lãng mạn. Ca khúc này được nhiều người trình bày, nam lẫn nữ, nhưng có lẽ thích hợp với giọng nữ hơn là nam. Điều này hơi lạ vì nội dung gợi ý về bậc nam tử thấy người ngọc trong “giấc xuân yêu kiều” bỗng mê đắm mà... lùi lại để tơ vương trong tâm tưởng. Ngợi ca đoá hoa như vậy thì phải là nam tử chứ?
Về nhạc thì vậy, về lời từ thì thật đáng thương cho Dương Thiệu Tước, cháu nội cụ Dương Khuê.
Ông viết nhạc đã hay mà dùng chữ rất tài cho một hậu thế lại coi thường chữ nghĩa và nỗi dụng công của ông. Khi viết “ngón tơ mềm, chờ phím ngân trùng, mạch tương lai láng”, ông dồn hết thi họa và nhạc vào một câu làm người ứa lệ trước cái đẹp. “Mạch tương lai láng” là một điển cố nói về giọt lệ. Nhưng đời sau lại hát ra “mạch tương lai sáng”. Dẫu có buồn thì cũng chưa đáng khóc bằng “mạch tuôn” hay “mạch tuông lai láng”!
Dễ hiểu hơn đấy, nhưng khiến tác giả không hiểu gì nữa… Thương cho một đoá ngọc lan.
Trước “Cỏ Hồng” của Phạm Duy dễ mấy thập niên, bài “Dưới Ánh Trăng” của Dương Thiệu Tước là ca khúc mang rất nhiều ẩn dụ âm dương.
Anh như ánh trăng thanh
Em như hoa trên cành
Trăng lồng hương sắc thắm
Âu yếm cho mộng tàn canh.
Ánh trăng mà ái ân với nụ hoa đầu cành, không là nghệ sĩ giàu trí tưởng tượng thì ít ai nghĩ ra! Chữ “lồng” của ông trong đoạn mở đầu quả là đắt! Đông phương thời xưa vốn không nghèo ý lạ thì cũng phải chịu chữ này là hay. Là động từ hay hình dung từ vậy, mà ánh trăng lại lồng cho hương sắc thắm?
Người ta thường nói Dương Thiệu Tước kết tinh tài hoa của đất Bắc ngàn năm văn vật vào một thể loại mới là nhạc cải cách, mà ông cũng là một trong mấy tác giả tiên phong. Ông sinh năm 1915 tại làng Vân Đình tỉnh Hà Đông, là cháu nội cụ Dương Khuê của văn học sử. Những bậc cao niên ngày nay vẫn còn nhắc đến Dương Thiệu Tước tại Hà Nội của sáu mươi năm về trước, môi đỏ tựa son, da trắng hồng, tóc đen nhánh, gợn sóng như một công tử tài hoa đất Hà Thành.Ông thuộc loại nhạc sĩ quán triệt nhạc thuật Tây phương lẫn văn hoá Đông phương nên mới cho “trăng lồng hương sắc thắm” trong ca khúc thuộc loại đầu đời của tân nhạc cải cách.
Sau ông, nhiều nhạc sĩ khác cũng nổi danh trong trường phái tân nhạc cao sang về lời từ và quý phái trong giai điệu. Họ không nhiều đâu. Đó là Vũ Thành, Nguyễn Văn Quỳ và Cung Tiến. Họ viết nhạc trên giai điệu Tây phương, rất gần với thể loại về sau chúng ta gọi là “bán cổ điển”.
Nhưng, khác ba nhạc sĩ trên, Dương Thiệu Tước cũng là tác giả của nhiều ca khúc vẫn đậm nét Á Đông, trên giai điệu ngũ cung: đó là “Đêm Tàn Bến Ngự” vô cùng Huế,
hay “Tiếng Xưa”, hết sức Nam kỳ. Nói “Tiếng Xưa” là giai điệu miền Nam thì nhiều người hoài nghi, nhưng xin nghe lại mà xem. Những người sành cổ nhạc Nam phần như Nguyễn Hữu Ba hay Việt Hùng thì không còn ở với chúng ta để xác nhận điều ấy, cho nên mình phải nghe lại, ngẫm lại!...
Dương Thiệu Tước để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm trang nhã của loại bán cổ điển, như “Áng Mây Chiều”, “Buồn Xa Vắng”, “Mơ Tiên”, “Bến Xuân Xanh” hay “Thuyền Mơ”.... Bài nào cũng là viên ngọc quý trong kho tàng nhạc Việt. Riêng một bài thì rõ là một đoá hoa quý: “Ngọc Lan” tiếp nối ẩn dụ của “Dưới Ánh Trăng” đã nói ở đầu. Nhưng thanh thoát bội phần.
Một số người ưa chuyện hậu trường thì cho rằng Ngọc Lan được Dương Thiệu Tước sáng tác cho Minh Trang (thân mẫu của người viết bài này!) Đấy là tiểu tiết hay tiểu truyện không cần nói trong tác phẩm. Đúng sai thì xin để lại cho những người trong cuộc. Dương thiệu Tước viết bài này tại đất Thần Kinh năm 1953, khi cùng thân mẫu của người viết về Huế thăm đại gia đình đã xa lâu rồi.
Nếu “Dưới Ánh Trăng” là ca khúc tả cảnh để tả tình, để ánh trăng ân ái với đóa hoa, thì “Ngọc Lan” tả đóa hoa mà để nói về tình yêu thanh khiết.
Những người không hiểu lời, ngoại quốc chẳng hạn, hoặc nếu chỉ nghe phần nhạc có hoà âm công phu, thì vẫn cảm nhận được nét đẹp lả lướt mà không lả lơi, phóng khoáng mà không phóng túng và nhất là giai điệu rất trang trọng, quý phái. Trước vẻ đẹp của hoa, người nghệ sĩ chỉ có thể trầm trồ như vậy!
Viết trên cung Mi giáng Trưởng, dìu dặt khoan thai theo tiết điệu ¾ của một bài luân vũ chậm, ca khúc Ngọc Lan có ba nhạc đề.
Phần đầu tha thiết dịu dàng mở ra như một đóa hoa ngọc lan mới nở và phả ra hương thơm ngoài hiên nắng. Từ cánh hoa trắng muốt như bạch ngọc, nhạc sĩ chuyển qua phần hai, ngợi ca cả thanh lẫn sắc. Hóa ra hoa chỉ là người. Mà phải là người rất đẹp. Qua đến nhạc đề thứ ba, tác giả chuyển từ cung Mi giáng Trưởng sang Si giáng Trưởng rồi qua Sol thứ trước khi trở lại Si giáng trưởng để chuyển về nhạc đề đầu tiên. Nhạc đề này diễn tả sự hôn mê rung động của người ngắm hoa. Tác giả khiến ta nghĩ rằng trước vẻ đẹp tinh khiết của hoa, người nghệ sĩ phải lùi lại, ngậm ngùi nhìn nét đẹp như hương thơm, cứ thoảng dần trong gió và để lại nơi đây, trong cõi đời này, biết bao thương nhớ.
Nhạc thuật gợi lên nào thanh, nào sắc nào hương và nỗi tình si của người không dám sỗ sàng bước tới, mà chỉ chìm dần trong làn hương thắm do đóa hoa vương lại.
Về cách diễn tả thì khi trở về nhạc đề thứ nhất, người ca sĩ sẽ hát cho đến cuối nhạc đề hai bằng hai câu kết tuyệt vời, một trên cung Trưởng, một trên cung Thứ và đáp lại bằng Mi giáng Trưởng lâng lâng, đầy thương nhớ. Ngày xưa, trong các đài phát thanh của Sàigon, khi hát câu cuối, người ca sĩ phải lên đến nốt Sol cao ngất, ở ngoài dòng kẻ. Nhưng đó là chuyện ngày xưa!
Ngọc Lan là ca khúc kén người hát lẫn người nghe. Muốn hay thì trước hết phải có hoà âm ra hồn, mà về hoà âm không phải nhạc sĩ nào cũng diễn tả được nét thanh quý của tác phẩm. Không chỉ là một bài hát, Ngọc Lan là một bài thơ, một bức hoạ và một đoá thơm lãng mạn. Ca khúc này được nhiều người trình bày, nam lẫn nữ, nhưng có lẽ thích hợp với giọng nữ hơn là nam. Điều này hơi lạ vì nội dung gợi ý về bậc nam tử thấy người ngọc trong “giấc xuân yêu kiều” bỗng mê đắm mà... lùi lại để tơ vương trong tâm tưởng. Ngợi ca đoá hoa như vậy thì phải là nam tử chứ?
Về nhạc thì vậy, về lời từ thì thật đáng thương cho Dương Thiệu Tước, cháu nội cụ Dương Khuê.
Ông viết nhạc đã hay mà dùng chữ rất tài cho một hậu thế lại coi thường chữ nghĩa và nỗi dụng công của ông. Khi viết “ngón tơ mềm, chờ phím ngân trùng, mạch tương lai láng”, ông dồn hết thi họa và nhạc vào một câu làm người ứa lệ trước cái đẹp. “Mạch tương lai láng” là một điển cố nói về giọt lệ. Nhưng đời sau lại hát ra “mạch tương lai sáng”. Dẫu có buồn thì cũng chưa đáng khóc bằng “mạch tuôn” hay “mạch tuông lai láng”!
Dễ hiểu hơn đấy, nhưng khiến tác giả không hiểu gì nữa… Thương cho một đoá ngọc lan.
nguồn: nguoiviet.com
19/4/15
Nhớ về Dương Thiệu Tước
Giòng nhạc lả lướt với lời tình ca tuyệt vời, Thu Hà đang gởi đến quý thính giả bài “Ngọc Lan”. Nhạc bản này thì chắc quý vị cao niên và trung niên đều biết là của Dương Thiệu Tước…
Bài “Ngọc Lan” nhiều người cho là ông viết riêng tặng Minh Trang, người đã đi chung con đường nghệ thuật cũng như đường đời với ông. Tên tuổi của Minh Trang thì quý vị hẳn cũng chưa quên là một trong các nữ ca sĩ đầu đàn của làng âm nhạc Việt Nam, tức là vào cuối thập niên 1940.
Nhân ngày giỗ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước vào mùng 1 tháng Tám tới đây, Thy Nga đã điện thoại hỏi thăm bà, hiện cư ngụ tại vùng Quận Cam, Nam California. Hàn huyên một lúc rồi Thy Nga hỏi bà về bài “Ngọc Lan”.
Minh Trang ríu rít kể lại kỷ niệm xưa. Với bà, chắc những ngày ấy dường như mới hôm qua. Gần đến ngày giỗ nhạc sĩ Dương Thiệu Tước nhưng chúng tôi đồng ý với nhau là chỉ nhớ về những gì vui mà thôi. Minh Trang hiện sống gần với con cháu, và giọng nói như quý vị nghe đấy, vẫn nhanh vẫn tươi.
Trước đó, Thy Nga đã gửi đến quý thính giả nhạc bản “Tiếng xưa” do Kim Tước trình bày. Bài này, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước viết cho miền Nam. Về miền Bắc thì có bài “Thề non nước” phổ thơ Tản Đà, và riêng cho miền Trung là bài “Đêm tàn bến ngự” viết vào khoảng năm 1951.
Đến đây, Thy Nga xin phát một khúc trong bài “Đêm tàn bến ngự” do Minh Trang trình bày trên đài Pháp Á vào các năm 1950. Hẳn nhiên là âm thanh không được tốt vì thâu đã cả nửa thế kỷ rồi mà!
“Đêm tàn bến ngự” Minh Trang hát
Dương Thiệu Tước từ trần vào ngày 1 tháng 8 năm 1995 tại Saigon để lại cho đời nhiều nhạc phẩm bất hủ.
Hồi cuối thập niên 1930, chính Dương Thiệu Tước là một trong các nhạc sĩ mở đường hướng mới cho nền âm nhạc Việt Nam.
Trong khi giới thanh niên đua nhau hát các ca khúc tiếng Pháp thì ông chuyển sang viết nhạc bản bằng tiếng Việt.
Các bài đầu tiên là “Tâm hồn anh tìm em”, “Kỷ niệm một buổi chiều” và “Thuyền mơ” mời quý vị thưởng thức qua giọng hát Thùy Dương.
Ông tìm cảm hứng để soạn nhạc bản này như thế nào? Minh Trang cho biết tiếp.
Nhịp Valse của bài này, cũng như các điệu nhạc Tây phương mà Dương Thiệu Tước đưa vào sáng tác, đã làm cho giới yêu nhạc thời đó thích thú. Và “Myosotis” (Hoa lưu ly) là ban nhạc đầu tiên trình bày nhạc bản do người Việt sáng tác. Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước là hai thành viên chính trong ban. Phần guitare và guitare Hawaienne do Dương Thiệu Tước đảm trách.
“Bạn cùng tôi” …
“Bạn cùng tôi” quý vị đang nghe Duy Trác và Quỳnh Giao song ca. Quỳnh Giao, một trong các ca sĩ hàng đầu, hát nhạc thính phòng là ái nữ của bà Minh Trang.
Nhạc Dương Thiệu Tước mang âm hưởng Tây phương, nghe sang trọng quý phái tuy nhiên, vẫn chứa chất tình tự dân tộc Việt.
Với tinh thần này, ông đã tổ chức các chương trình “Cổ kim hòa điệu” trên làn sóng đài phát thanh Saigon, phối hợp tiếng đàn cổ truyền Việt Nam với âm thanh nhạc cụ phương Tây.
Một đời cống hiến cho âm nhạc, Dương Thiệu Tước ngoài viết nhạc, từng mở tiệm bán đàn tại Hà Nội; và dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Saigon, đào tạo được một số nhạc sĩ guitare cổ điển, có tiếng sau này như Võ Tá Hân chẳng hạn.
“Chiều” là ca khúc rất phổ biến, Dương Thiệu Tước phổ từ ý thơ Hồ Dzếnh. Khắc Dũng đang hát đến quý thính giả …
Ra đi vĩnh viễn, Dương Thiệu Tước để lại khoảng 200 nhạc bản gồm nhiều tuyệt tác. Ngoài những bài nói lên tình yêu con người; miêu tả thiên nhiên bằng âm thanh, hình ảnh, màu sắc và cả mùi vị nữa như trong bài “Ngọc Lan” còn có các bài với tiết tấu nhanh vui như “Dưới nắng hồng”, “Khúc nhạc dưới trăng”; vài bài hùng ca; các bài với nội dung dạy dỗ con trẻ như “Uống nước nhớ nguồn” viết với Hùng Lân, và bài “Ơn nghĩa sinh thành” được hát nhiều vào mỗi dịp Vu Lan.
Thy Nga xin kết thúc chương trình về nhạc sĩ Dương Thiệu Tước với bài “Trời xanh thẳm” qua giọng hát Quỳnh Giao. Chào tạm biệt quý thính giả.
Bài “Ngọc Lan” nhiều người cho là ông viết riêng tặng Minh Trang, người đã đi chung con đường nghệ thuật cũng như đường đời với ông. Tên tuổi của Minh Trang thì quý vị hẳn cũng chưa quên là một trong các nữ ca sĩ đầu đàn của làng âm nhạc Việt Nam, tức là vào cuối thập niên 1940.
Nhân ngày giỗ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước vào mùng 1 tháng Tám tới đây, Thy Nga đã điện thoại hỏi thăm bà, hiện cư ngụ tại vùng Quận Cam, Nam California. Hàn huyên một lúc rồi Thy Nga hỏi bà về bài “Ngọc Lan”.
Minh Trang ríu rít kể lại kỷ niệm xưa. Với bà, chắc những ngày ấy dường như mới hôm qua. Gần đến ngày giỗ nhạc sĩ Dương Thiệu Tước nhưng chúng tôi đồng ý với nhau là chỉ nhớ về những gì vui mà thôi. Minh Trang hiện sống gần với con cháu, và giọng nói như quý vị nghe đấy, vẫn nhanh vẫn tươi.
Trước đó, Thy Nga đã gửi đến quý thính giả nhạc bản “Tiếng xưa” do Kim Tước trình bày. Bài này, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước viết cho miền Nam. Về miền Bắc thì có bài “Thề non nước” phổ thơ Tản Đà, và riêng cho miền Trung là bài “Đêm tàn bến ngự” viết vào khoảng năm 1951.
Đến đây, Thy Nga xin phát một khúc trong bài “Đêm tàn bến ngự” do Minh Trang trình bày trên đài Pháp Á vào các năm 1950. Hẳn nhiên là âm thanh không được tốt vì thâu đã cả nửa thế kỷ rồi mà!
“Đêm tàn bến ngự” Minh Trang hát
Dương Thiệu Tước từ trần vào ngày 1 tháng 8 năm 1995 tại Saigon để lại cho đời nhiều nhạc phẩm bất hủ.
Hồi cuối thập niên 1930, chính Dương Thiệu Tước là một trong các nhạc sĩ mở đường hướng mới cho nền âm nhạc Việt Nam.
Trong khi giới thanh niên đua nhau hát các ca khúc tiếng Pháp thì ông chuyển sang viết nhạc bản bằng tiếng Việt.
Các bài đầu tiên là “Tâm hồn anh tìm em”, “Kỷ niệm một buổi chiều” và “Thuyền mơ” mời quý vị thưởng thức qua giọng hát Thùy Dương.
Ông tìm cảm hứng để soạn nhạc bản này như thế nào? Minh Trang cho biết tiếp.
Nhịp Valse của bài này, cũng như các điệu nhạc Tây phương mà Dương Thiệu Tước đưa vào sáng tác, đã làm cho giới yêu nhạc thời đó thích thú. Và “Myosotis” (Hoa lưu ly) là ban nhạc đầu tiên trình bày nhạc bản do người Việt sáng tác. Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước là hai thành viên chính trong ban. Phần guitare và guitare Hawaienne do Dương Thiệu Tước đảm trách.
“Bạn cùng tôi” …
“Bạn cùng tôi” quý vị đang nghe Duy Trác và Quỳnh Giao song ca. Quỳnh Giao, một trong các ca sĩ hàng đầu, hát nhạc thính phòng là ái nữ của bà Minh Trang.
Nhạc Dương Thiệu Tước mang âm hưởng Tây phương, nghe sang trọng quý phái tuy nhiên, vẫn chứa chất tình tự dân tộc Việt.
Với tinh thần này, ông đã tổ chức các chương trình “Cổ kim hòa điệu” trên làn sóng đài phát thanh Saigon, phối hợp tiếng đàn cổ truyền Việt Nam với âm thanh nhạc cụ phương Tây.
Một đời cống hiến cho âm nhạc, Dương Thiệu Tước ngoài viết nhạc, từng mở tiệm bán đàn tại Hà Nội; và dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Saigon, đào tạo được một số nhạc sĩ guitare cổ điển, có tiếng sau này như Võ Tá Hân chẳng hạn.
“Chiều” là ca khúc rất phổ biến, Dương Thiệu Tước phổ từ ý thơ Hồ Dzếnh. Khắc Dũng đang hát đến quý thính giả …
Ra đi vĩnh viễn, Dương Thiệu Tước để lại khoảng 200 nhạc bản gồm nhiều tuyệt tác. Ngoài những bài nói lên tình yêu con người; miêu tả thiên nhiên bằng âm thanh, hình ảnh, màu sắc và cả mùi vị nữa như trong bài “Ngọc Lan” còn có các bài với tiết tấu nhanh vui như “Dưới nắng hồng”, “Khúc nhạc dưới trăng”; vài bài hùng ca; các bài với nội dung dạy dỗ con trẻ như “Uống nước nhớ nguồn” viết với Hùng Lân, và bài “Ơn nghĩa sinh thành” được hát nhiều vào mỗi dịp Vu Lan.
Thy Nga xin kết thúc chương trình về nhạc sĩ Dương Thiệu Tước với bài “Trời xanh thẳm” qua giọng hát Quỳnh Giao. Chào tạm biệt quý thính giả.
nguồn: RFA
18/4/15
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Mạnh Đan
![]() |
| Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Mạnh Đan (1925 - ) |
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Mạnh Đan sinh năm 1925 tại Nam Định, đến với nhiếp ảnh năm 18 tuổi. Năm 1950 ông vào Saigon làm phóng viên ảnh cho tờ Indochine Sud-Est Asiatique. Đến 1954 ông đưa vợ con vào theo. Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam, ông mở hiệu ảnh ở Saigon kiếm sống. Ông đã tham dự nhiều cuộc thi, triển lãm. Tính riêng trong khoảng 1959-1963 ông đã giành được 70 huy chương quốc tế các loại. Ông cũng đã thực hiện được 5 tập sách ảnh: Việt Nam khói lửa (1969), Hình ảnh kinh tế Việt Nam (1974), Quê hương Việt Nam (1996), Hình ảnh Việt Nam (2003), Non sông nước Việt (2012).
15/4/15
Đêm tàn bến ngự
Ai về Bến Ngự cho ta nhắn cùng
Nhớ chăng non nước Huơng Bình
Có những ngày xanh
Lưu luyến bao tình,
Vương mối tơ mành ..
Đàn bầu
Sáo trúc
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


