Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Đức Dân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Đức Dân. Hiển thị tất cả bài đăng
17/10/22
VĂN HOÁ - VĂN HỌC VỚI NHÂN CÁCH CON NGƯỜI
NGUYỄN VĂN DÂN
Theo định nghĩa chung, nhân cách là phẩm giá và tính cách của một con người. Nhưng con người không phải là một cá nhân biệt lập, mà luôn tồn tại trong mối quan hệ xã hội phong phú và phức tạp. Vì thế, nhân cách của một con người luôn có cả đặc điểm sinh học lẫn đặc điểm xã hội. Trong nhân cách, những đặc điểm tâm - sinh lý và lý trí làm cho mỗi người sẽ làm thành một tính cách khác biệt. Có người nóng tính, có người ôn hoà, có người cởi mở, có người kín đáo, có người thích giao du, có người ưa khép kín... Tuy nhiên, những đặc điểm xã hội mới là những yếu tố làm cho nhân cách mỗi người có phẩm giá tích cực hay tiêu cực, có ý nghĩa đóng góp xây dựng hay phá hoại đối với cộng đồng và xã hội. Ở đây có vai trò giáo dục của văn hoá đối với sự phát triển nhân cách của con người.
Vai trò giáo dục nhân cách của văn hoá là không thể bàn cãi. Mới đây nhất, Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị lần thứ chín BCH trung ương Đảng khoá XI ngày 9-6-2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, cũng đã đề ra mục tiêu cụ thể đầu tiên của việc xây dựng văn hoá là “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách...” (Đảng CSVN, “Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” (Hội nghị lần thứ chín BCH trung ương Đảng khoá XI), Nhân dân điện tử: http://nhandan.com.vn/.../23477402-xay-dung-va-phat-trien..., 12-6-2014), và từ “nhân cách” đã được nhắc lại tới tám lần trong Nghị quyết.
Thậm chí ta có thể nói văn hoá còn có khả năng làm biến đổi tính cách và phát triển trí tuệ của con người, góp phần xây dựng phẩm giá và nhân cách cá nhân. Chẳng hạn như nói về trí tuệ, văn hoá và xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển các giá trị trí tuệ của con người. Ở đây ta thấy đặc điểm xã hội của nhân cách là rất quan trọng. Mỗi người có thể có tâm lý và bộ óc khác nhau, nhưng môi trường xã hội làm cho họ có những đặc điểm giống nhau. Vì thế, chúng ta vừa có thể nói đến nhân cách cá nhân, vừa có thể nói đến nhân cách tập thể của một dân tộc.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng không đồng tình hoàn toàn với quan niệm về “tấm bảng trắng” của nhà triết học người Anh John Locke (1632-1704). Trong bài viết “Tiểu luận về trí tuệ con người” (1690), Locke đã phản bác lại quan điểm duy tâm của nhà triết học người Pháp René Descartes (1596-1650) về “ý tưởng bẩm sinh”. Ông cho rằng tâm lý và ý thức con người ban đầu giống như một “tấm bảng trắng” [tiếng Latin: “tabula rasa”] để từ đó nó tiếp nhận các kiến thức thông qua kinh nghiệm thực tiễn của cuộc sống. Nhưng sự thực không đơn giản như vậy. Ở đây chúng ta phải nói đến một quá trình tương tác giữa hai bên: Đó là sự tương tác giữa “tư chất trí tuệ” với “yếu tố môi trường”. Vấn đề là, để phát triển tư chất trí tuệ thì phải có những điều kiện gì?
Người ta thường nói, môi trường có khả năng tác động đến trí tuệ, nhưng con người lại là một nhân tố quan trọng tạo ra môi trường xã hội - nhân văn. Như vậy, ở đây có một mối quan hệ tương tác. Lịch sử loài người đã cho thấy rằng, chính nền văn minh đô thị là môi trường thuận lợi để tác động đến sự phát triển trí tuệ. Trong lịch sử phương Tây, văn minh đô thị luôn tạo ra những yếu tố phản biện và kích thích sự phát triển của trí tuệ cá nhân. Trong nền văn minh này, cá nhân thoát ra từ thiên nhiên và có xu hướng quay trở lại chinh phục thiên nhiên. Điều này có thể thấy rõ trong hệ thống tôn giáo và thần thoại của phương Tây. Nhà thờ của phương Tây luôn nằm giữa cộng đồng dân cư, nó là nơi giao lưu để kích thích óc sáng tạo cá nhân. Hệ thống thần thoại thì luôn có sự phản biện và đối thoại giữa các cá thể.
Trong khi đó người phương Đông cổ xưa chủ yếu là có nền văn minh làng xã, họ không đặt mục đích chinh phục thiên nhiên mà dựa vào thiên nhiên, gửi gắm tình cảm vào thiên nhiên để tồn tại và lập ra những hương ước nặng về tình để đối nhân xử thế. Người phương Đông đề cao sức mạnh của cái thiên nhiên và cái siêu nhiên. Họ quan niệm con người phụ thuộc vào thiên nhiên và vào thế giới siêu nhiên. Đền chùa, tu viện của người phương Đông thường nằm giữa thiên nhiên, thậm chí càng xa cách cõi trần, càng xa xôi hẻo lánh và ở những nơi núi non hiểm trở càng tốt.
Người ta cho rằng con người phương Đông cổ xưa nhận thức thiên nhiên và thế giới chủ yếu bằng con đường trực giác (Alexander Spirkin, “Man and Culture” [“Con người và văn hoá”], trong “Dialectical Materialism” [“Chủ nghĩa duy vật biện chứng”], Progress Publishers, Moscow, 1983, chapter 5 [bản dịch tiếng Anh của Robert Daglish]; http://www.marxists.org/.../dialectical.../appndx02.html), tức là bằng tư duy cảm tính. Phải chăng mối quan hệ tình cảm có phần huyền bí giữa con người với thiên nhiên và với thế giới siêu nhiên là lý do chính tạo ra kiểu tư duy này? Y thuật, số thuật và chiêm tinh thuật của phương Đông thể hiện rõ ràng quan điểm này. Từ đó xuất hiện quan điểm tôn trọng gốc gác và là nguồn gốc của đạo đức học phương Đông tồn tại cho đến ngày nay. Người phương Đông đi xa vẫn khó quên gốc gác của mình. Người Do Thái, người Arập, người Hoa sống ở nước ngoài vẫn giữ gần như nguyên vẹn bản tính dân tộc. Ở những nước văn minh canh nông phương Đông (ngoại trừ văn minh canh nông du mục), việc hình thành nhiều quốc gia từ một nguồn gốc dân tộc không phải là điều phổ biến.
Cái tư tưởng tôn trọng gốc gác nơi đất mẹ thiên nhiên nói trên của người phương Đông đã dẫn đến một ý thức thuần phục gần như tuyệt đối đối với một tôn ti trật tự đã được thiết lập trong tôn giáo. Đạo Phật của phương Đông về cơ bản là nhất quán, thông suốt, hầu như không có những “kẻ phản nghịch”. Trong khi đó ở phương Tây, đạo Cơ Đốc luôn được sửa đổi, cải cách, thậm chí ly giáo. Ngay từ khi Cơ Đốc giáo mới ra đời, Chúa Jesus đã có kẻ tông đồ thứ 13 là Juda, được mệnh danh là kẻ “phản nghịch” đầu tiên. Trong lịch sử Cơ Đốc giáo, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ ly giáo: vụ ly giáo Đông - Tây năm 867 giữa giáo trưởng thành Constantinople Photius với giáo hoàng Nicolas I ở Roma; vụ ly giáo Đông - Tây năm 1054 giữa giáo trưởng thành Constantinople Kerularios với giáo hoàng Leo IX; và đặc biệt là vụ ly giáo lớn ở châu Âu diễn ra từ 1378 đến 1417 giữa ba chế độ giáo hoàng: chế độ giáo hoàng ở Roma, chế độ giáo hoàng ở Avignon (Pháp) và chế độ giáo hoàng ở Pisa (Italia). Và đặc biệt là cuộc cải cách đạo Cơ Đốc của nhà thần học người Đức Martin Luther đầu thế kỷ XVI, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành. Tư tưởng phản nghịch thể hiện phổ biến trong Cơ Đốc giáo đến nỗi Nhà Thờ đã phải lập ra một toà án để xử tội dị giáo, gọi là Toà án Dị giáo.
Có thể cái tư tưởng “phản nghịch” của người phương Tây là có xuất xứ từ truyền thống văn hoá thần thoại xa xưa. Hệ thống thần thoại Hy Lạp là một hệ thống tranh giành quyền lực. Thần Cronos sẵn sàng giết cha là thần Uranos để lên nối ngôi. Đến lượt mình, thần Dớt [Zeus] lại làm một cuộc “cách mạng” lật đổ cha mình để nắm quyền trị vì thế giới. Trong một loạt những cuộc giao tranh tiếp theo giữa các phe phái trong các vị thần, như giữa các vị thần ở núi Olympos với các vị thần khổng lồ Gigantes, thì con người, đại diện là dũng sỹ Heracles, cũng tham gia giúp các vị thần Olympos đánh lại các vị thần Gigantes. Trong thần thoại Hy Lạp, điển hình của thần thoại văn minh đô thị, thần thánh và người trần sống lẫn với nhau, yêu nhau, kết hôn với nhau và cạnh tranh lẫn nhau, hầu như không có sự phân biệt và không có một tôn ti trật tự tuyệt đối. Nhiều người trần sẵn sàng đấu võ và thi tài với thần linh: Tráng sỹ Heracles giết chết nhiều thần khổng lồ Gigantes, trong đó có thần Antaios nổi tiếng [tức thần “Ăngtê” gọi theo tiếng Pháp]; tráng sỹ Diomedes đánh bị thương thần chiến tranh Ares; cô thợ dệt Arakhne dám thi tài dệt vải với nữ thần Athena; cô gái Acalanthis và chàng trai Thamyras dám thi hát với các nữ thần nghệ thuật Musa; nàng Casiope xinh đẹp và tự tin dám thi sắc đẹp với các nữ thần biển Neraydes, v.v... Trong khi đó trong thần thoại phương Đông, thế lực thần thánh được phát huy tuyệt đối quyền hành, tôn ti trật tự được tuân thủ nghiêm ngặt. Kẻ phản nghịch duy nhất là Tôn Ngộ Không thì chỉ múa may trong thế giới quỷ sứ chứ không đụng chạm được đến quyền lực thánh thần.
Trong giáo dục, người phương Đông đề cao tư tưởng “tôn sư trọng đạo”. Người thầy có một vị thế quan trọng đến mức thiêng liêng. Người ta chỉ có thể lập ra một tư tưởng, một lý thuyết mới, chứ ít khi cải cách lý thuyết của thầy. Trong khi đó ở phương Tây, khái niệm người thầy không có ý nghĩa “thần thánh” như ở phương Đông. Ngay từ thời xa xưa, Socrate đã không dạy học trò bằng cách áp đặt quan điểm của mình, mà ông đưa ra các câu hỏi để học sinh chủ động trả lời. Aristote, bằng các công trình học thuật của mình, đã dám phản bác lại quan điểm duy tâm của thầy học của mình là Platon. Đến thời cận - hiện đại, K. Jung, học trò của Freud, đã cải cách lý thuyết tâm phân học của thầy mình, dẫn đến hai người không còn muốn nhìn mặt nhau. Các Mác, thời trẻ là học trò của Hegel, đã kiên quyết “lật ngược” phép biện chứng duy tâm của ông này để lập ra một học thuyết mới. Lênin cũng sửa đổi học thuyết Mác về cách mạng vô sản để thực hiện cuộc Cách mạng Tháng 10 vĩ đại. (Mác chủ trương rằng cách mạng vô sản chỉ có thể thành công khi nó diễn ra trên toàn thế giới. Lênin sửa lại rằng nó có thể thành công trong khâu yếu nhất của hệ thống tư bản chủ nghĩa.)
Có thể thấy, bên cạnh yếu tố tích cực về mặt đề cao tình nghĩa thầy - trò, thì tư tưởng tôn sư trọng đạo của phương Đông nhiều khi dẫn đến thái độ thuần phục mang tính mô phạm giáo điều, kìm hãm tư duy sáng tạo. Trong khi đó ở phương Tây, chính cái quan niệm bình đẳng thầy - trò là một trong những động lực làm nảy sinh nhiều tư tưởng và lý thuyết mới. Vậy mà cái tư tưởng mô phạm giáo điều đó vẫn còn tồn tại dai dẳng ở phương Đông cho đến ngày nay, đôi khi thể hiện thành sự bắt chước một cách máy móc các lý thuyết của nước ngoài, đặc biệt là trong khoa học xã hội. Ví dụ như trong khi ở nước ngoài đang có nhiều lý thuyết khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về một chủ đề, thì ở nước ta, nhiều người đã không tiếp thu được một cách có hệ thống, mà chỉ tiếp thu một vài quan điểm nào đó, và người khác lại tiếp thu một vài quan điểm khác mâu thuẫn với các quan điểm kia, thế là dẫn đến việc cùng một chủ đề, nhưng mỗi người ở nước ta lại hiểu theo một cách khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Đó chính là căn bệnh cảm tính, thiếu tư duy lôgic triết học mà có nhà khoa học đang cảnh báo. Căn bệnh thiếu tư duy lôgic cũng đang thể hiện trong cả cuộc sống hàng ngày, khi mà người ta không hề cảm thấy phi lý khi cứ phát ngôn một cách hồn nhiên: “tỷ giá hối đoái giữa ‘Việt Nam đồng’ với ‘đôla Mỹ’”. (Tất cả các đồng tiền của nước ngoài đều được đọc xuôi theo ngữ pháp tiếng Việt, riêng đồng Việt Nam thì được đọc ngược theo ngữ pháp tiếng Anh!) Và có lẽ đó cũng là biểu hiện của truyền thống tư duy cảm tính của người phương Đông chăng?
Thế nhưng, xu hướng đề cao tính cộng đồng và trở về với thiên nhiên của phương Đông lại là một nhân tố kìm hãm sự phát triển của cái cá nhân. Chùa chiền thường là nơi ẩn dật, xa lánh xã hội. Hệ thống thần thoại thì được thiết lập theo một tôn ti trật tự chặt chẽ với những thiết chế tuân thủ nghiêm ngặt, cấp dưới chỉ biết tuân theo cấp trên, không tạo thành những điều kiện để kích thích óc phản biện và sáng tạo của cá nhân.
Như vậy, muốn kích thích óc sáng tạo cá nhân và phát triển trí tuệ, con người cần tạo ra một môi trường có sự giao lưu, va đập và đối thoại để kích hoạt tư chất trí tuệ. Có như thế mới tạo ra những đột biến trong tư duy và trong hành động.
Ngày nay, trong xã hội Việt Nam, một trong những yếu tố kìm hãm mạnh nhất sự phát triển của trí tuệ chính là chủ nghĩa tuân thủ và tâm lý đám đông. Đây chính là yếu tố làm trì trệ con người. Việc hành động theo đám đông sẽ làm con người trở nên thụ động, lười suy nghĩ, thiếu tự tin và biến thành những cỗ máy vận hành theo sự bắt chước. Có người sẽ phản biện rằng bắt chước là một cách đi tắt để phát triển. Tuy nhiên, bắt chước khác với học hỏi. Chính học hỏi mới là quy luật của sáng tạo và phát triển. Chỉ có học hỏi một cách máy móc và không phân biệt đúng sai thì mới được gọi là bắt chước. Hiện nay hiện tượng bắt chước diễn ra rất phổ biến ở Việt Nam, người ta bắt chước cả cái đúng lẫn cái sai của nước ngoài. Một người bắt chước kéo theo cả một cộng đồng, thậm chí cả xã hội bắt chước. Đặc biệt là trong xã hội thông tin ngày nay, một sự bắt chước được đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng, thì lập tức nó lan toả ra toàn xã hội như một phản ứng dây chuyền. Thói bắt chước những cách diễn đạt phi lý diễn ra rất phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng. Và một trong những biểu hiện cụ thể của sự bắt chước chính là hiện tượng đạo văn, một hiện tượng đang trở nên nhức nhối ở nước ta hiện nay. Thói bắt chước như thế sẽ vĩnh viễn chôn vùi trí tuệ trong sự trì trệ.
Cho nên, theo tôi, điều mấu chốt là phải tạo điều kiện để kích thích óc phản biện của mỗi cá nhân, khuyến khích việc xem xét lại mọi chân lý, khuyến khích tư duy lôgic để phát hiện cái phi lôgic, khuyến khích giao lưu đối thoại để phát hiện cái mới, từ đó kích thích sự phát triển của trí tuệ và từ trí tuệ quay trở về cải tạo thực tiễn. Đó chính là cái vòng tròn tương tác giữa tư chất trí tuệ với môi trường xã hội.
Trí tuệ, theo cách nhìn đó, sẽ không phải là một yếu tố huyền bí, siêu hình, mà là đối tượng hoàn toàn có thể cải tạo và phát triển của nhân cách.
Tình cảm cũng là một đặc điểm quan trọng của nhân cách cá nhân và nhân cách dân tộc. Và tình cảm cũng là một đối tượng giáo dục của văn hoá. Văn hoá - văn học truyền thống của dân tộc chứa đựng vô vàn những điều răn dạy về lòng thương người, về tình yêu cha mẹ, tình làng nghĩa xóm, tình thương đồng bào, tình yêu đất nước... Tình yêu - đó là chủ đề muôn thuở của văn học, là yếu tố hun đúc nên nhân cách con người cá nhân và nhân cách của cả dân tộc.
Có thể nói, lịch sử cho thấy văn học đã đề xuất nhiều cách xây dựng nhân cách: Cách thanh lọc tâm hồn của Aristote, cách chế nhạo của Rabelais đối với các chính sách ngu dân của thế lực thần quyền trong bộ tiểu thuyết “Gargantua và Pantagruel”, cách học hỏi nhân gian của Cervantes qua chàng Đôn Kihôtê, cách tu luyện trí tuệ và tâm hồn của Dostoievki, cách đề cao “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” của Nguyễn Du, cách đấu tranh chống lại cái phi lý của Camus, cách sống cao thượng và nhân đạo của một dân tộc trải qua bao đau thương mất mát của nhà văn Cheshnya Kanta Ibragimov trong “Cuộc chiến đi qua” (giải thưởng quốc gia Nga năm 2003), cách đề cao tự do cá nhân của văn học lãng mạn Việt Nam, cách đấu tranh cho quyền con người của văn học cách mạng, và trên hết là cách đấu tranh chống lại cái ác / cái xấu và nêu cao tư tưởng nhân văn của văn học chân chính mọi thời đại, mọi dân tộc.
Tuy nhiên, cuộc sống là một thế giới phức tạp. Cái tốt cái xấu luôn tồn tại khắp nơi. Cuộc sống càng hiện đại thì cái ác / cái xấu càng tinh vi, tai hại. Cái ác / cái xấu không chỉ bộc lộ công khai, mà nguy hiểm hơn, nó còn ẩn núp sau những cái mặt nạ muôn hình vạn trạng. Trong những cái mặt nạ đó, có cái mặt nạ mang khuôn mặt của người lương thiện – một khuôn mặt sạch. Lại có cái mặt nạ mang khuôn mặt của người nắm quyền – đó là những kẻ nằm trong số “một bộ phận không nhỏ cán bộ” đang bị thoái hoá biến chất. Đó là sự giả dối đã đi đến chỗ tột cùng mà văn học cần phải dũng cảm chỉ ra nguyên nhân. Vì thế, văn học đấu tranh chống cái ác / cái xấu luôn khó hơn nhiều so với văn học đề cao và xây dựng cái tốt.
Nhân cách con người còn được thể hiện qua trách nhiệm xã hội của mỗi cá nhân. Quyền hạn luôn đi đôi với trách nhiệm. Hiện tại người ta đang nói nhiều đến quyền con người, nhưng đừng quên trách nhiệm con người, trách nhiệm công dân. Con người có nhiều quyền cần được tôn trọng, nhưng nó cũng phải có trách nhiệm đối với cộng đồng, với xã hội. Trách nhiệm này khác nhau tuỳ thuộc vào địa vị xã hội của mỗi người. Nhưng cho dù ở địa vị nào thì mỗi cá nhân đều phải có ý thức cao đối với trách nhiệm của mình. Văn học cũng góp phần nêu cao trách nhiệm đó. Ta có thể lấy cuốn tiểu thuyết “Lời hứa” (1958) của nhà văn hiện đại người Thuỵ Sĩ nói tiếng Đức Friedrich Durrenmatt làm ví dụ điển hình.
“Lời hứa” (tiếng Đức: Das Versprechen, bản dịch tiếng Anh: “The Pledge”) kể về trách nhiệm nghề nghiệp của một người lính cảnh sát đối với việc điều tra một vụ án chống lại một kẻ tội phạm mắc một căn bệnh xã hội thật phi lý là bắt cóc các bé gái, hãm hiếp rồi sau đó giết chết. Để nhử kẻ tội phạm, anh đã nuôi một bé gái làm con mồi. Nhưng đến khi sắp sửa bắt được thủ phạm thì hắn ta bị tai nạn ôtô giết chết trên đường đến địa điểm gây án, mà điều này thì bọn anh không biết. Thế là cuộc phục kích không thành. Đồng đội không còn tin vào kế hoạch của anh. Nhưng anh thì không từ bỏ quyết tâm vì anh đã hứa với cha mẹ nạn nhân là phải bắt bằng được thủ phạm. Vì lời hứa này mà anh phải rời bỏ ngành cảnh sát, từ bỏ mọi quyền lợi riêng, dùng tiền riêng mở một trạm bán xăng và vẫn để em bé gái sống với mình, với hy vọng là đến một ngày kia kẻ tội phạm sẽ bị mắc bẫy. Một năm trôi qua, nỗi ám ảnh của vụ án đã biến anh thành một kẻ mất trí. Cho đến khi tình cờ có người biết được chuyện tai nạn ôtô của kẻ tội phạm đến nói cho anh rõ để khuyên anh từ bỏ ý đồ nhử mồi thì lúc đó anh đã hoàn toàn biến thành một người ngớ ngẩn. Thật xúc động khi tác giả mô tả cái cảnh trước đó anh cảnh sát ra sân bay để đi công tác nước ngoài, nhưng khi nhìn thấy đám trẻ con nô đùa một cách ngây thơ trong trắng thì anh quyết định xin ở lại để tiếp tục tự mình điều tra vụ án, cho dù việc này sau đó đã khiến anh phải từ bỏ ngành cảnh sát. Cái độc đáo và vô cùng xúc động của tác phẩm là nhân vật chính đã bị ám ảnh bởi trách nhiệm công việc tới mức trở thành một con người vĩnh viễn mất trí! Mất trí nhưng nhân cách của anh không mất. Đó là nhân cách của một con người có trách nhiệm quyết tâm chống lại cái ác / cái xấu.
Như vậy, văn học góp phần xây dựng nhân cách con người không chỉ đơn thuần bằng việc nêu gương người tốt việc tốt, mà quan trọng hơn, và cũng khó khăn hơn, nó phải lột mặt nạ được cái ác / cái xấu, chỉ ra được căn nguyên của cái ác / cái xấu. Và, bởi vì cái ác / cái xấu giống như là “mầm dịch hạch” không bao giờ chết như nhà văn Pháp Camus đã nói trong tiểu thuyết “Dịch hạch”, thậm chí ông còn mượn lời nhân vật Tarrou tuyên bố rằng “Tôi biết chắc chắn rằng mỗi chúng ta đều mang mầm dịch hạch trong người, bởi vì không có một ai trên thế gian này vô sự thoát khỏi được nó”, cho nên, đấu tranh chống cái ác / cái xấu còn là đấu tranh với chính mình. Chống cái ác / cái xấu là thiên chức, là trách nhiệm tối cao và muôn thuở của nhà văn chân chính mọi thời đại và mọi dân tộc. Đó cũng là nhân cách của nhà văn và là nhiệm vụ xây dựng nhân cách con người của văn học.
(Tham luận Hội thảo tháng 10-2015. In trong: NVD, "Văn hoá - văn học dưới góc nhìn liên không gian", 2020).
25/5/15
Tiếng Việt đang “dài” ra
GS.TS. Nguyễn Đức Dân
Thói quen nói năng đúng giáo điều mà không cần hiểu thấu đáo dẫn tới hệ lụy là hình thành thói quen chấp nhận, tư duy thụ động, không muốn lật lại nghĩa lý của câu chữ, khái niệm và lập luận khi tiếp nhận văn bản. Đây là nguyên nhân chính dẫn tới những lối nói dư thừa.
14/4/15
Ngôn ngữ, logic và những nụ cười
Nguyễn Đức Dân
Nói tới văn học trào phúng là nói tới tiếng cười. Người ta thường nhắc tới những giai thoại văn học, những truyện cười, những câu đố gây cười, những hài kịch hay thơ trào phúng… nhưng dường như người ta bỏ quên một loại hình trào phúng: Bằng dăm ba dòng hóm hỉnh, các mục “nụ cười”, “vui vui”, “vui cười”… có thể làm độc giả bật ra những tiếng cười thoải mái, sảng khoái, nghịch ngợm, đậm màu sắc phê phán, châm biếm nhẹ nhàng những thói hư, tật xấu, cái rởm …còn rớt lại trong xã hội. Tôi muốn nói tới nghệ thuật gây cười này. Khác với tranh châm biếm có hình vẽ là phương tiện chủ yếu để gây cười, công cụ duy nhất của những “nụ cười” là ngôn từ trong dăm ba câu thật ngắn gọn:
3/4/15
Những người đẹp lập luận
Nguyễn Đức Dân
Có một quan niệm đã đi vào ca dao:
Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
Quan niệm trên không hẳn đúng. Chúng ta dẫn vài “chiêu” – phương thức – nói năng, lý lẽ sắc bén khi phụ nữ lập luận để bảo vệ mình và gia đình.
2/4/15
Tản mạn về lập luận
Bài viết đã lâu của Nguyễn Đức Dân, nhan đề:
Nhân cuộc tranh luận tại Quốc hội, tản mạn về lập luận.
Cop về mọi người đọc chơi, biết thêm / ôn lại mấy điều thường thức về lập luận
Nhân cuộc tranh luận tại Quốc hội, tản mạn về lập luận.
Cop về mọi người đọc chơi, biết thêm / ôn lại mấy điều thường thức về lập luận
Một nguyên lý sư phạm cho nền giáo dục tiên tiến: cấp cần câu chứ không cho cá. Cái cần câu cấp cho người học là phương pháp độc lập tư duy, đánh giá, phát hiện và giải quyết vấn đề. Trước hết, đó là phương pháp tư duy phản biện (critical thinking) mà cốt lõi là lý thuyết lập luận (argumentation). Khi có thói quen tư duy phản biện, hiện tượng được nhìn nhận, đào sâu tới gốc rễ của nó. Hơn ai hết giới nghị sĩ phải rèn luyện về lập luận.
Hầu như trong chương trình của các nền giáo dục tiên tiến đều có môn này. Nhờ nó mà xã hội phát triển theo đúng quy luật. Đừng thấy từ phản biện mà hốt hoảng. Ai có chân lý, người đó không sợ tư duy phản biện.
Hầu như trong chương trình của các nền giáo dục tiên tiến đều có môn này. Nhờ nó mà xã hội phát triển theo đúng quy luật. Đừng thấy từ phản biện mà hốt hoảng. Ai có chân lý, người đó không sợ tư duy phản biện.
1/4/15
Triết lý tiếng Việt trong "Thượng cẳng chân hạ cẳng tay"
Nguyễn Đức Dân
1. Tôi thường nghe nhiều lời bình (và cả một số bài viết) về những hiện tượng “phi lý”, “thiếu lôgic” ở tiếng Việt. Trong số này có thành ngữ “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”. Chân thấp tay cao, sao lại thượng cẳng chân?
Có giáo sư giải thích chân đá hất lên cao, tay đập xuống nên mới nói vậy. Và cũng có bài viết theo như thế. Bạn có thể hỏi cắc cớ thế chân đạp, tay thụi có phải là thượng cẳng chân, hạ cẳng tay không? Cái “phi lý” của thành ngữ này mạnh đến nỗi hai nhà nghiên cứu văn học dân gian N.L. và L.V.Đ. trong quyển từ điển Thành ngữ tiếng Việt (1978, nxb KHXH) được đánh giá cao, khi trích dẫn thành ngữ này cũng sửa lại cho “lôgic” hơn (?): “Bà cai Hách không dám hé răng nửa lời, vì cai Hách là kẻ phàm phu, chỉ biết có thượng cẳng tay, hạ cẳng chân (Vũ Trọng Phụng, Giông tố)”. Quyển Từ điển thành ngữ VN (1993, nxb VH) của một nhóm tác giả thuộc Viện NNH cũng dựa theo lời trích dẫn đã bị sửa lại này. Thật ra nhà văn họ Vũ viết “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” (Giông tố, chương 27).
Tôi tâm đắc câu cái gì hợp lý thì tồn tại của triết gia người Đức G.W. Leibniz và đi tìm cái lý cho những cách nói có vẻ “phi lý” nhưng vẫn được dùng rất bình thường này.
Có giáo sư giải thích chân đá hất lên cao, tay đập xuống nên mới nói vậy. Và cũng có bài viết theo như thế. Bạn có thể hỏi cắc cớ thế chân đạp, tay thụi có phải là thượng cẳng chân, hạ cẳng tay không? Cái “phi lý” của thành ngữ này mạnh đến nỗi hai nhà nghiên cứu văn học dân gian N.L. và L.V.Đ. trong quyển từ điển Thành ngữ tiếng Việt (1978, nxb KHXH) được đánh giá cao, khi trích dẫn thành ngữ này cũng sửa lại cho “lôgic” hơn (?): “Bà cai Hách không dám hé răng nửa lời, vì cai Hách là kẻ phàm phu, chỉ biết có thượng cẳng tay, hạ cẳng chân (Vũ Trọng Phụng, Giông tố)”. Quyển Từ điển thành ngữ VN (1993, nxb VH) của một nhóm tác giả thuộc Viện NNH cũng dựa theo lời trích dẫn đã bị sửa lại này. Thật ra nhà văn họ Vũ viết “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” (Giông tố, chương 27).
Tôi tâm đắc câu cái gì hợp lý thì tồn tại của triết gia người Đức G.W. Leibniz và đi tìm cái lý cho những cách nói có vẻ “phi lý” nhưng vẫn được dùng rất bình thường này.
31/3/15
Tiếng Việt trong sách giáo khoa và sách giáo khoa tiếng Việt
Nguyễn Đức Dân
1. Gần đây, từ vụ bài thơ ‘Thương ông’ của Tú Mỡ khi đưa vào SGK lớp 2 đã bị sửa chữa, cắt xén người ta nêu ra hàng loạt thơ văn của Đỗ Trung Quân, Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa, Vũ Đình Minh, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Phủ Ngọc Tường… cũng gặp những hiện tượng sai lệch tương tự khi đưa vào SGK.
Chọn lựa đưa vào SGK truyện ngắn, bài thơ của tác giả này hay tác giả khác cho phù hợp với mục đích dạy tiếng Việt ở nhà trường là thẩm quyền của người biên soạn. Nhưng tác giả có tác phẩm được lựa chọn cũng có tác quyền mà người tuyển chọn phải tôn trọng.
Học sinh chẳng những cần được dạy những gì chuẩn mực về kiến thức mà còn cần mẫu mực về tính khoa học khi dùng một văn bản. Ngay từ tiểu học các em cần được hình thành thói quen nghiêm ngặt phân biệt nguyên tác và bản được biên tập lại. Người soạn SGK cũng cần theo đúng thao tác tối thiểu của một người làm khoa học: a) Khi tác phẩm được đưa vào SGK thì cuối tác phẩm cần chua tên tác giả và tác phẩm đứng trong ngoặc đơn. b) Khi cắt bớt một phần văn bản thì phần đó được thay bằng dấu ba chấm đứng trong ngoặc đơn: (…). c) Khi tóm lược một văn bản hay một đoạn văn, hoặc khi sửa chữa, thêm bớt câu chữ (tức là “biên tập” lại văn bản) của một tác giả ABC thì phần cuối đứng trong ngoặc cần ghi: (theo ABC).
30/3/15
Để lâu câu sai hoá… dúng

Nhà ngôn ngữ học người Pháp gốc Thuỵ Sĩ Charles Bally viết: “Ngôn ngữ ngày mai được chuẩn bị trong một loạt những cái sai của ngôn ngữ ngày hôm nay”. Điều này có nghĩa là những cách nói sai hiện nay nếu không phê phán, quyết liệt ngăn cấm kịp thời thì sẽ trở thành những cách nói đúng trong tương lai!
16/3/15
Triết lý tiếng Việt: chất vấn để bác bỏ

1. Ví dụ
(1) Ớt nào là ớt chẳng cay?
Đây là một câu hỏi nhưng mọi người đều biết ý của câu này là ớt thì cay. Vì sao? Câu này là lời chất vấn sự tồn tại của loại ớt chẳng cay. Nhưng chất vấn để bác bỏ: không tồn tại, không có loại ớt nào chẳng cay. Vậy hành vi hỏi trên đây gián tiếp thành một hành vi bác bỏ: ớt thì cay.
2. Cứ liệu
Chúng ta xét một loạt câu khác:
(2) Sao mà tin được lời bọn họ?
Với từ sao, câu này chất vấn khả năng “sao tin lời được” nên dẫn tới bác bỏ khả năng “không có khả năng tin lời được”. Hàm ý của câu 2 là không tin lời bọn họ được.
(3) “Dời đi đâu? Tiền đâu mà dời?”
Với từ đâu, câu này chất vấn khả năng tìm nơi đâu ra tiền, dẫn tới bác bỏ khả năng tìm ra tiền. Hàm ý của câu 3 là không có tiền để dời nơi ở.
(4) Ông là người có học, lẽ nào ông quên câu nói đó.
“Lẽ nào” là lời chất vấn về lý do dẫn tới bác bỏ lý do “không lẽ nào ông quên”. Hàm ý của câu này là ông không quên câu nói đó.
(5) Tôi nói điều đó làm gì kia chứ?
“Làm gì” là lời chất vấn về mục đích của hành động để bác bỏ hành động. Kết cục là bác bỏ sự kiện. Câu 5 có hàm ý tôi không nói điều đó.
(6) Tỉnh người ta thiếu gì?
Lời chất vấn “thiếu gì” dẫn tới bác bỏ khả năng thiếu. Và hàm ý của câu 6 là tỉnh người ta không thiếu.
(7) Nó giúp tôi bao giờ?
“Bao giờ” là lời chất vấn về thời gian giúp, dẫn tới bác bỏ về thời gian xảy ra sự giúp đỡ, tức là không xảy ra sự giúp tôi. Kết quả câu này có hàm ý nó chưa bao giờ giúp tôi.
(8) Ai dám lên tiếng mời những ông cốp về hưu?
“Ai dám” là lời chất vấn về khả năng có người dám mời, dẫn tới bác bỏ khả năng đó. Kết quả là câu 8 có hàm ý không ai dám yêu cầu những ông cốp (người có quyền chức to) về hưu.
3. Khái quát
Trong tiếng Việt có loại câu chất vấn để bác bỏ. Những câu trong bài thuộc loại chất vấn yếu tố phiếm định để tạo ra sự bác bỏ tuyệt đối. Những bạn rành các ngoại ngữ Anh, Pháp, Nga, Ba Lan... liệu có thể dịch các câu 1-8 sang những ngôn ngữ đó theo phương thức hỏi các từ phiếm định “ớt nào?”, “sao mà...”, “tiền đâu...”, “lẽ nào”, “làm gì”, “thiếu gì”, “bao giờ”, “ai dám”... mà vẫn thể hiện được nội dung bác bỏ? Chất vấn để bác bỏ là một đặc thù của tiếng Việt, thể hiện cách tư duy độc đáo của người Việt.
2. Cứ liệu
Chúng ta xét một loạt câu khác:
(2) Sao mà tin được lời bọn họ?
Với từ sao, câu này chất vấn khả năng “sao tin lời được” nên dẫn tới bác bỏ khả năng “không có khả năng tin lời được”. Hàm ý của câu 2 là không tin lời bọn họ được.
(3) “Dời đi đâu? Tiền đâu mà dời?”
Với từ đâu, câu này chất vấn khả năng tìm nơi đâu ra tiền, dẫn tới bác bỏ khả năng tìm ra tiền. Hàm ý của câu 3 là không có tiền để dời nơi ở.
(4) Ông là người có học, lẽ nào ông quên câu nói đó.
“Lẽ nào” là lời chất vấn về lý do dẫn tới bác bỏ lý do “không lẽ nào ông quên”. Hàm ý của câu này là ông không quên câu nói đó.
(5) Tôi nói điều đó làm gì kia chứ?
“Làm gì” là lời chất vấn về mục đích của hành động để bác bỏ hành động. Kết cục là bác bỏ sự kiện. Câu 5 có hàm ý tôi không nói điều đó.
(6) Tỉnh người ta thiếu gì?
Lời chất vấn “thiếu gì” dẫn tới bác bỏ khả năng thiếu. Và hàm ý của câu 6 là tỉnh người ta không thiếu.
(7) Nó giúp tôi bao giờ?
“Bao giờ” là lời chất vấn về thời gian giúp, dẫn tới bác bỏ về thời gian xảy ra sự giúp đỡ, tức là không xảy ra sự giúp tôi. Kết quả câu này có hàm ý nó chưa bao giờ giúp tôi.
(8) Ai dám lên tiếng mời những ông cốp về hưu?
“Ai dám” là lời chất vấn về khả năng có người dám mời, dẫn tới bác bỏ khả năng đó. Kết quả là câu 8 có hàm ý không ai dám yêu cầu những ông cốp (người có quyền chức to) về hưu.
3. Khái quát
Trong tiếng Việt có loại câu chất vấn để bác bỏ. Những câu trong bài thuộc loại chất vấn yếu tố phiếm định để tạo ra sự bác bỏ tuyệt đối. Những bạn rành các ngoại ngữ Anh, Pháp, Nga, Ba Lan... liệu có thể dịch các câu 1-8 sang những ngôn ngữ đó theo phương thức hỏi các từ phiếm định “ớt nào?”, “sao mà...”, “tiền đâu...”, “lẽ nào”, “làm gì”, “thiếu gì”, “bao giờ”, “ai dám”... mà vẫn thể hiện được nội dung bác bỏ? Chất vấn để bác bỏ là một đặc thù của tiếng Việt, thể hiện cách tư duy độc đáo của người Việt.
NGUYỄN ĐỨC DÂN
Nguồn: tuoitre 27/11/2010
Hình: trên mạng
9/2/15
Tiếng Việt theo dòng thời gian
1. Có những nhà văn, nhà báo Việt Nam đầu tiên đặc biệt coi trọng vai trò của tiếng Việt. Nguyễn Văn Vĩnh từng nói “Nước Nam ta mai sau này, hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”. Suốt đời ông mong sao chữ quốc ngữ có một tương tai rực rỡ. Phạm Quỳnh cũng có một câu bất hủ: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn.”
Chúng ta đề cập tới dòng chảy tiếng Việt từ khi dùng chữ quốc ngữ viết báo. Mở đầu bằng Gia Định báo (GĐB,1865) ở Nam Bộ và Đông Dương tạp chí (ĐDTC, 1913) , Nam Phong tạp chí (1917) ở Bắc Bộ.
Tiếng nói một dân tộc luôn luôn thay đổi ở cả 3 mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, nhanh chậm, nhiều ít khác nhau tùy lúc tùy nơi. Thay đổi về ngữ âm rất chậm, hầu như không thấy. Thay đổi ngữ pháp diễn ra nhanh hơn nhưng vẫn rất chậm và ít. Nhưng biến đổi từ vựng thì nhanh hơn và thường xuyên hơn.
2. Chữ quốc ngữ
Chữ quốc ngữ là một hệ chữ La Tinh viết theo cách ghi âm. Rất đơn giản và dễ học. Truyền bá được chữ quốc ngữ là người Việt có cơ hội tiếp xúc những nền văn minh Tây phương rất quan trọng dùng chữ La Tinh. Ngay năm đầu tiên của Đông Dương tạp chí, năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch đăng bài thơ ngụ ngôn của Lafontaine "Con Kiến và con Ve sầu" và nhanh chóng được đông đảo bạn đọc yêu thích.
GS Hoàng Xuân Hãn đặt ra danh từ khoa học, nhờ đó tiếng Việt dùng được để dạy ở trung học và đặc biệt là ở đại học. Trước đó GĐB gặp nhiều khó khăn khi diễn đạt các thuật ngữ khoa học: “Mạch nước nóng, nước ngũ kim”, “nước thán khí” chứ chưa gọi là nước khoáng, nước có gas. Thực tế cho thấy tiếng Việt có thể diễn giải chính xác bất kỳ khái niệm nào. Mọi ngôn ngữ đều có những hiện tượng mơ hồ, nhập nhằng. Trong dịch máy hiện nay, làm mất mơ hồ, vẫn là bài toán khó khăn nhất.
Chữ viết là quy ước nên chuẩn mực chính tả cũng là quy ước. Chính tả do con người đặt ra. Như mọi hệ thống chữ viết khác, không tránh khỏi một số bất hợp lý trong chữ quốc ngữ. Cho nên, đôi lúc đó đây lại có những đề nghị “cải tiến” chữ quốc ngữ và chính tả.
Về chính tả, khi viết tên riêng nước ngoài thì phiên âm hay giữ nguyên dạng. Khuynh hướng để nguyên dạng có ngay từ GĐB, ngày càng được nhiều người dùng. Từng có người dùng chữ z thay cho d~ và gi~; f thay cho ph~…Từng có thời, có báo dùng gạch nối ở từ ghép. Sau thấy tốn giấy, tốn công sắp chữ nên bỏ. Cũng có báo thử viết liền. Viết liền lại tạo ra những mơ hồ tiềm năng. Phụ âm cuối của tiếng này có thể thành phụ âm đầu của tiếng liền sau. Biết hiểu quỳnhanh là quỳnh anh hay quỳ nhanh, còn cưngơi là cư ngơi hay cưng ơi?
Chữ quốc ngữ uyển chuyển. Từ nhu cầu thực tiễn chúng ta đã thêm các ký tự F, J, W, Z vào bộ chữ cái để viết các từ ngoại lai và không gặp trở ngại gì. Có điều không cần những văn bản “pháp quy” đưa 4 ký tự trên vào bảng chữ cái chữ quốc ngữ.
Không ai lường trước các khả năng có thể, nên luôn luôn xảy ra những ngoại lệ chính tả vượt khỏi cái lô gích thông thường. Chẳng có lô gích nào giải thích được cách dùng các phụ âm đầu r~/d~/gi~ khi viết con dâu nhưng lại viết con rể, trong khi viết bờ giậu thì lại viết bờ rào. Vậy chính tả là võ đoán. Có điều một khi đưa ra những quy tắc không hợp lý thì người ta sẽ “vượt rào”. Quy định (QĐ) chính tả cho âm vị có hai cách viết i/y rơi vào trường hợp này. Ngày 30.11.1980 Bộ Giáo Dục ra QĐ: “…trường hợp các âm tiết có nguyên âm i ở cuối thì viết thống nhất bằng i , trừ uy…”.
QĐ trên không chú ý tới một quy tắc bất thành văn về tính thẩm mỹ trong chữ quốc ngữ: hình chữ phải đẹp, trong đó có sự cân đối về độ cao giữa các con chữ khi viết.
Cân đối nghĩa là ghép những phụ âm cùng độ cao với /i/ thì có khuynh hướng dùng i: Ví dụ: viết vi phạm, vì vậy, vị trí, si mê, mị dân … mà không viết vy phạm, vỳ vậy, vỵ trí, sy mê; mỵ dân.
Cân đối còn được hiểu là trong một từ nếu một ký tự có phần nhô cao lên thì ta viết y nhằm tạo ra sự hài hòa trên dưới. Viết lý thì phần trên và phần dưới chữ này cân đối với nhau, còn viết lí thì phần dưới chữ này hơi bị hụt. Trong GĐB và Nông Cổ Mín Đàm (NCMĐ) đều viết như vậy: chánh lý, có lý lắm, ký tên, thơ ký, trong kỳ 15 ngày, xem kỹ…
Kích thước con chữ cũng là một lý do thẩm mỹ: Chữ i có kích thước ngắn hơn chữ y, tạo ra ấn tượng là một đối tượng nhỏ. Vậy nên có khuynh hướng dùng i ngắn cho những đối tượng tạo ra ý niệm nhỏ: li ti, tỉ mỉ, vi tính, chi li, chi tiết, chơi bi, sân si, lí nhí … Hình như không ai viết chơi by, tỷ mỷ; chy ly, chy tiết, vy tính…
Có những thói quen ngôn ngữ không tìm được lí lẽ của nó. Mĩ là đẹp (mĩ mãn), nhưng mọi người quen viết nước Mỹ, châu Mỹ. Những biến thể chính tả như vậy gặp rất nhiều.
3. Tiếng Việt trên báo chí thời xưa
Báo chí xuất hiện ở Nam Bộ sớm hơn ở Bắc Bộ. Có những ngộ nhận về ngôn ngữ báo chí Nam Bộ.
Vũ Ngọc Phan, đã bình luận về NCMĐ và Đại Việt Tân Báo như sau: “là những báo chí không có tính cách văn học, chỉ đăng rặt những tin vặt, những thông cáo của chính phủ , những bài diễn văn của người đương thời…” (Nhà văn hiện đại, quyển nhất, nxb Vĩnh Thịnh, Hà Nội, 1951). Những tài liệu nghiên cứu văn học sử và báo chí sau đó đã theo ý kiến này mà cho rằng Đông Dương tạp chí , Nam phong tạp chí mới là hai tờ báo đầu tiên góp phần xây dựng nền văn học hiện đại. Nói vậy là bỏ qua những đóng góp của báo chí Nam Bộ trong việc hình thành một thứ phong cách ngôn ngữ văn xuôi giản dị gần với khẩu ngữ của những Lê Hoằng Mưu, Trương Duy Toản, Tân Dân Tử, Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh,…nhất là của Trương Vĩnh Ký.
Huỳnh Văn Tòng cũng viết : “Trước Đông Dương tạp chí có những tờ báo khác như Gia Định Báo , Lục Tỉnh Tân Văn … Nhưng những tờ báo này thực ra chỉ có tính chất thông tin , văn chương còn luộm thuộm và hết sức đơn sơ.” (HVT, 2000,123).
Trong khi ở Bắc Bộ Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương ngôn ngữ báo chí là thứ ngôn ngữ gọt giũa, văn chương thì Trương Vĩnh Ký, ngay từ 1869 đã khuyến khích và huấn luyện “các thầy thông ngôn, ký lục, giáo tập” làm thông tín viên báo chí, cung cấp bài vở cho phần “Tạp vụ” của tờ GĐB dùng một thứ “tiếng Việt trơn tru như lời nói”, thứ ngôn ngữ phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc.
Đối tượng của GĐB là người Nam Bộ và là những người bình dân thì ngôn ngữ cũng phải là phương ngữ Nam Bộ. Có vậy độc giả Nam Bộ mới tiếp nhận được. Viết trơn tru như lời nói theo phương ngữ Nam Bộ thực sự trở thành phong cách ngôn ngữ của GĐB. Có điều, phương tiện giao thông chuyên chở báo lúc đó chỉ là những “xe tờ” ngựa kéo. Mãi năm 1922 mới có xe hơi đi từ Sài Gòn đến lục tỉnh. Bởi vậy, lúc mới ra đời, ảnh hưởng của GĐB nói riêng và báo chí Nam Bộ nói chung chưa vượt ra khỏi vùng đất Nam Bộ. Điều này cũng giải thích vì sao vai trò của ĐDTC và NPTC được nhấn mạnh hơn.
Nếu như Nguyễn Văn Vĩnh là người có biệt tài về dịch tiểu thuyết, ông chịu khó tìm trong kho thành ngữ, tục ngữ của ta những câu diễn đạt ý tưởng mới của Âu Tây khiến văn dịch của ông tưởng như những nguyên tác tiếng Việt, thì ngôn ngữ trong GĐB cũng trơn tru như lời nói rất gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày kể cả ở văn dịch. Số báo ngày đầu tháng chạp năm Tân Tỵ cách nay 130 năm, tức 20.01.1882, có một chuyện hài hước Tên Arabe đói, như sau:
“Có một tên Arabe kia, lạc bậy ở giữa đồng cát đói khát đà hai ngày rồi, biết mình chẳng kíp thì chầy không khỏi chết. Lúc đi qua gần một cái giếng, chợt thấy trên cát một cái bị nhỏ bằng da, nó vội vã lượm lấy cái bị ấy, tưởng là bị chà là. Lòng mầng lật đật mở ra. Mắt vừa ngó thấy đồ trong ấy thì vùng la khan lên rằng : “Thảm thay! Tinh những là ngọc mà thôi!”
Ở bài trên, thay vài từ ngữ của phương ngữ Nam Bộ và sửa những lỗi chính tả về dấu hỏi, ngã… chúng ta sẽ có một bài báo theo ngôn ngữ toàn dân hiện nay:
“Có một người Arabe lạc ở giữa đồng cát, đói khát đã hai ngày rồi, biết mình chẳng chóng thì chầy không (tránh) khỏi chết. Lúc đi qua gần một cái giếng, chợt thấy trên cát một cái bị nhỏ bằng da, người đó vội vã lượm cái bị ấy lên, tưởng là bị chà là. Lòng mừng lật đật mở ra. Mắt vừa nhìn thấy đồ trong ấy thì vùng kêu lên rằng: “Thảm thay! Toàn là những ngọc mà thôi!”
Văn dịch từ 130 năm trước của GĐB là thế đấy, như là ngôn ngữ hiện nay!
Một điều trùng hợp đáng chú ý là chính chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về cách viết báo cũng từng nhiều lần nhấn mạnh rằng cần “viết thế nào cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc.” ( Hồ Chí Minh về vấn đề báo chí, tr. 191).
4. Dấu ấn báo chí Nam Bộ
Nhiều hiện tượng của phương ngữ Nam Bộ đã trở thành ngôn ngữ toàn dân, thậm chí đã đi vào tác phẩm văn học. Trong truyện Mẹ và con, nhà văn Hà Nội Ma Văn Kháng cho một người Hà Nội sau 1975 nói: ‘Chị mà dận săm-pô, quần loe, đánh phấn, tô mắt vào nữa thì… hết sảy!’ . “Hãy … rồi gọi điện thoại lên trung tâm xe buýt mắng vốn” “Bao nhiêu tiền làm ra đốt vào những xị đế.” (TT, 26/8/08). Những từ đặc Nam Bộ hết sảy, mắng vốn, xị đế đã trở thành những từ toàn dân.
Về từ ngữ, đáng chú ý nhất là GĐB dùng rất ít từ Hán –Việt. Có vậy giới bình dân Nam Bộ còn chưa thông thạo chữ quốc ngữ mới dễ đọc, dễ hiểu.
Về ngữ pháp và phong cách, những câu viết trên báo cứ như là những lời kể chuyện thật tự nhiên. Không thấy những câu bị động. Lúc đó văn viết (bút ngữ) trên báo rất gần với lời nói (khẩu ngữ). Sự việc xảy ra thế nào cứ tuần tự hiện ra trong ngôn ngữ như thế khiến câu tiếng Việt nhiều động từ, ít danh từ . Và ít giới từ hơn hẳn so với các bản tiếng Pháp tương tự.
Người Nam Bộ trước đây rất sáng tạo khi nhập từ nước ngoài vào tiếng Việt. Trong khi người Bắc Bộ vay mượn chủ yếu theo cách phiên âm thì người Nam Bộ thời xưa trong nhiều trường hợp đã nhận thức bản chất của sự kiện để sáng tạo ra những từ ngữ mới. Khi chiếc xe đạp đưa vào Việt Nam, tất cả các bộ phận đều chưa có từ để gọi, ấy thế là người miền Bắc phải mượn các từ tiếng Pháp frein, enveloppe, chambre à air, garde-boue,… rồi phiên âm ra tiếng Việt: phanh, lốp, săm, gác-đờ-bu (mãi sau mới chuyển thành cái chắn bùn)… Nhưng người Nam Bộ không thế, đã dùng những từ có sẵn đặt tên cho chúng: thắng, vỏ, ruột, vè…
Báo chí Nam Bộ thời nay dẫn đầu khuynh hướng “Anh hóa” các từ vay mượn, kể cả nhiều từ vay mượn đã được phiên âm, như album, solo, show, live show, stop, dancing…Trước đây chúng ta đã từng phiên âm chúng: “-Anh ngồi đây, xem quyển an-bom này mà chờ tôi” (VTP, Số đỏ); “Vẫn múa, em tham gia hầu hết các điệu múa và nhiều tiết mục em chọn sôlô hoặc đuy-ô từng đoạn” (NDCN, 04/10/1990), “Bỗng Maika la lên: -Xì-tốp! Dừng, mình lại xem trên cây cầu này có chuyện gì mà con người bu đông như con kiến” (TT Cười, 6/1991) và “Cái hồ ấy, khi đã thành đất phẳng,/Tôi sẽ xin dựng một trường “Cao đẳng đăng-xinh”. (Tú Mỡ, Giòng nước ngược)
Thậm chí “Anh hóa” cả các từ vay mượn đã được Việt hóa: rất nhiều cửa hàng ghi sale, on sale, sale off chứ không ghi bán xôn, bán xon (PNNB, vay mượn từ tiếng Pháp solde). Có báo dùng “bị shock” chứ không nói “(bị/gây) sốc” (mượn từ tiếng Pháp choc)
5. Tiếng Việt đang dài ra
Anh dân quân đánh vần chưa thạo chữ quốc ngữ trong Đôi mắt của Nam Cao đã nói thuộc lòng một bài 3 giai đoạn kháng chiến phòng ngự, cầm cự, tổng phản công … ‘dài đến năm trang giấy’. Những người này cứ nói ra ‘là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân, phát xít, phản động, xã hội chủ nghĩa, dân chủ với cả tân dân chủ nữa…’ (trích Đôi mắt, 1948). Cách nay gần 65 năm đã xuất hiện trên cửa miệng người dân bình thường những khái niệm cao xa mấy ai hiểu hết ý nghĩa này. Thời đó người dân tin theo Đảng nên đã nói đúng theo đường lối, theo chỉ thị, nghị quyết. Sáu bảy thập kỷ là khoảng thời gian tạo ra hai thế hệ, đủ dài để hình thành những thói quen ngôn từ nói năng đúng giáo điều mà không cần hiểu thấu đáo. Điều này dẫn tới hệ lụy là xã hội hình thành thói quen chấp nhận, tư duy thụ động, không muốn lật lại nghĩa lý của từ ngữ, câu chữ, khái niệm và lập luận khi tiếp nhận văn bản. Vả lại, nếu ai đó có suy nghĩ độc lập, muốn phản biện, muốn bình luận sẽ tạo ra những lời nghịch nhĩ và trở thành “người có vấn đề”. Kết quả là người ta lo nói năng an toàn, cầm giấy phát biểu theo những giáo điều, dần dần hình thành thói quen kết luận mà không chú ý tới lý lẽ thuyết phục. Nhiều người nghèo đi về ngôn từ và tư duy, nhưng vẫn cần thể hiện mình. Vậy là sinh ra lối nói sang trọng với nhiều từ Hán-Việt nhưng lại không hiểu thấu đáo và những câu hùng hồn dài dòng rỗng nghĩa, dư thừa. Một thói quen quan cách nói những câu nghe rổn rảng nhưng dông dài chữ nghĩa, còn nội dung rỗng tuếch, sẵn sàng lặp lại những điều đã biết, đã từng nói.
Biến tướng của lối nói dư thừa là lối nói “chuẩn” nhưng không có trích dẫn, một tối kỵ với những người làm khoa học. Trải qua nhiều cuộc học tập nghị quyết, rèn luyện lập trường quan điểm, nâng cao ý thức chính trị nên đã hình thành thói quen tư duy thụ động và “nghệ thuật” nói năng an toàn: quan trọng nhất là phát biểu theo đúng quan điểm, đường lối mà không cần trích dẫn trực tiếp xuất xứ, hình thành thói quen phi khoa học là coi nhẹ việc nói có sách mách có chứng.
6. Những bất biến: triết lý trong tiếng Việt
Tiếng Việt thể hiện triết lý và cái hồn người Việt, qua lời nói thường ngày và qua kho tàng tục ngữ (TN) thành ngữ (ThN). Có những cách nói năng hiếm thấy ở những thứ tiếng khác và mới nghe thấy lạ, tưởng như mâu thuẫn, thiếu lô gích.
Có những dân tộc nào dùng từ nước để chỉ lãnh thổ như người Việt? Nước Việt Nam gắn với huyền sử Việt, số con của bà Âu Cơ nửa lên núi, nửa xuống biển nên non nước, đất nước cũng là nước, là quốc gia.
Có những dân tộc nào dùng bụng và những bộ phận của cái bụng lòng, dạ, gan, ruột,…làm biểu tượng cho phạm trù tinh thần, biểu hiện tư duy, tâm lí, tình cảm, ý chí, sức chịu đựng? Nghĩ bụng, ghi lòng tạc dạ, gan cóc tia, phổi bò, ruột để ngoài da…
Chúng ta dễ dàng giải thích được những cách nói tưởng như mâu thuẫn: Thành ngữ “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” phản ánh triết lý người Việt lấy hai cực trỏ tổng thể. Toàn bộ câu chuyện được gói trong “đầu đuôi câu chuyện”. Nói “bán anh em xa, mua láng giềng gần” để nhấn mạnh phạm trù khoảng cách quan trọng hơn phạm trù họ hàng, còn “một giọt máu đào hơn ao nước lã” lại là phạm trù họ hàng quan trọng hơn phạm trù số lượng.
Chất vấn để bác bỏ thể hiện cách tư duy độc đáo của người Việt. Có vậy chúng ta mới giải thích được vì sao “ớt nào chẳng cay?” là “ớt nào cũng cay”, “tôi nói điều đó bao giờ?” là “tôi chưa bao giờ nói điều đó”, “sao không nói điều đó” là “lẽ ra nên nói điều đó”.
Có hàng loạt ẩn dụ, hoán dụ trong tiếng Việt cũng không thấy ở nhiều thứ tiếng khác.
Nhiều cách nói có vẻ mâu thuẫn nhau chỉ là mâu thuẫn hình thức. Về bản chất, chúng phản ánh những qui luật nào đó của tiếng Việt liên quan đến triết lý người Việt.
*
Thư gửi Ban biên tập Tia Sáng
Thph HCM, ngày 08.3.2012
Kính gửi: Ban biên tập tạp chí Tia sáng
Trước hết, xin cảm ơn Ban biên tập đã dùng bài của tôi.
Sau đây tôi có vài lời về cách biên tập lại tiêu đề bài viết của tôi. Bài tôi gửi có tiêu đề “Tiếng Việt theo dòng thời gian”. Tít này được Tia Sáng sửa lại là: "Nhìn lại một chặng đường phát triển chữ Quốc ngữ".
Sửa như vậy mắc hai lỗi cơ bản:
1) Bài tôi viết về tiếng Việt chứ không phải về chữ quốc ngữ. Không thể lẫn lộn hai khái niệm khác nhau này.
2) Tít mà báo đặt, lặp theo khuôn sáo đã mòn nghĩa của một báo cáo tổng kết biểu dương thành tích: Nhìn lại (một) chặng đường [X năm] phát triển [của phong trào /của ngành /của xí nghiệp …Y]. Bài tôi viết mang đặc điểm của một tùy bút ngôn ngữ học với 3 điểm nhấn về thời gian: a) 130 năm trước, Trương Vĩnh Ký đã có công xây dựng một thứ ngôn ngữ báo chí rất đơn giản. b) Thời gian sẽ đào thải những quyết định trái quy luật (về quy luật chính tả i/y ). c) Dùng luôn ví dụ từ Đôi mắt của Nam Cao như là một ẩn dụ: Thời gian đã làm nhiều người Việt tư duy, nói năng theo đúng giáo điều (để tồn tại?) nhưng lại dông dài, vô nghĩa và nhất là mất cái nhìn phản biện. Chính vì vậy tôi mới đặt tít: Tiếng Việt theo dòng thời gian
Tôi có đôi lời như vậy và mong Ban biên tập quý báo rút kinh nghiệm.
GS TS Nguyễn Đức Dân
Ghi chú: Bài này đã đăng trên tạp chí Tia Sáng, ngày 05.3. 2012, với tít được sửa lại là: Nhìn lại một chặng đường phát triển chữ Quốc ngữ. Tôi thấy cần có đôi lời về tít này, nên ngày 08.3 đã viết một thư tới Tòa soạn Tia Sáng. Thư kèm vào cuối bài này. NĐD
Chúng ta đề cập tới dòng chảy tiếng Việt từ khi dùng chữ quốc ngữ viết báo. Mở đầu bằng Gia Định báo (GĐB,1865) ở Nam Bộ và Đông Dương tạp chí (ĐDTC, 1913) , Nam Phong tạp chí (1917) ở Bắc Bộ.
Tiếng nói một dân tộc luôn luôn thay đổi ở cả 3 mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, nhanh chậm, nhiều ít khác nhau tùy lúc tùy nơi. Thay đổi về ngữ âm rất chậm, hầu như không thấy. Thay đổi ngữ pháp diễn ra nhanh hơn nhưng vẫn rất chậm và ít. Nhưng biến đổi từ vựng thì nhanh hơn và thường xuyên hơn.
2. Chữ quốc ngữ
Chữ quốc ngữ là một hệ chữ La Tinh viết theo cách ghi âm. Rất đơn giản và dễ học. Truyền bá được chữ quốc ngữ là người Việt có cơ hội tiếp xúc những nền văn minh Tây phương rất quan trọng dùng chữ La Tinh. Ngay năm đầu tiên của Đông Dương tạp chí, năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch đăng bài thơ ngụ ngôn của Lafontaine "Con Kiến và con Ve sầu" và nhanh chóng được đông đảo bạn đọc yêu thích.
GS Hoàng Xuân Hãn đặt ra danh từ khoa học, nhờ đó tiếng Việt dùng được để dạy ở trung học và đặc biệt là ở đại học. Trước đó GĐB gặp nhiều khó khăn khi diễn đạt các thuật ngữ khoa học: “Mạch nước nóng, nước ngũ kim”, “nước thán khí” chứ chưa gọi là nước khoáng, nước có gas. Thực tế cho thấy tiếng Việt có thể diễn giải chính xác bất kỳ khái niệm nào. Mọi ngôn ngữ đều có những hiện tượng mơ hồ, nhập nhằng. Trong dịch máy hiện nay, làm mất mơ hồ, vẫn là bài toán khó khăn nhất.
Chữ viết là quy ước nên chuẩn mực chính tả cũng là quy ước. Chính tả do con người đặt ra. Như mọi hệ thống chữ viết khác, không tránh khỏi một số bất hợp lý trong chữ quốc ngữ. Cho nên, đôi lúc đó đây lại có những đề nghị “cải tiến” chữ quốc ngữ và chính tả.
Về chính tả, khi viết tên riêng nước ngoài thì phiên âm hay giữ nguyên dạng. Khuynh hướng để nguyên dạng có ngay từ GĐB, ngày càng được nhiều người dùng. Từng có người dùng chữ z thay cho d~ và gi~; f thay cho ph~…Từng có thời, có báo dùng gạch nối ở từ ghép. Sau thấy tốn giấy, tốn công sắp chữ nên bỏ. Cũng có báo thử viết liền. Viết liền lại tạo ra những mơ hồ tiềm năng. Phụ âm cuối của tiếng này có thể thành phụ âm đầu của tiếng liền sau. Biết hiểu quỳnhanh là quỳnh anh hay quỳ nhanh, còn cưngơi là cư ngơi hay cưng ơi?
Chữ quốc ngữ uyển chuyển. Từ nhu cầu thực tiễn chúng ta đã thêm các ký tự F, J, W, Z vào bộ chữ cái để viết các từ ngoại lai và không gặp trở ngại gì. Có điều không cần những văn bản “pháp quy” đưa 4 ký tự trên vào bảng chữ cái chữ quốc ngữ.
Không ai lường trước các khả năng có thể, nên luôn luôn xảy ra những ngoại lệ chính tả vượt khỏi cái lô gích thông thường. Chẳng có lô gích nào giải thích được cách dùng các phụ âm đầu r~/d~/gi~ khi viết con dâu nhưng lại viết con rể, trong khi viết bờ giậu thì lại viết bờ rào. Vậy chính tả là võ đoán. Có điều một khi đưa ra những quy tắc không hợp lý thì người ta sẽ “vượt rào”. Quy định (QĐ) chính tả cho âm vị có hai cách viết i/y rơi vào trường hợp này. Ngày 30.11.1980 Bộ Giáo Dục ra QĐ: “…trường hợp các âm tiết có nguyên âm i ở cuối thì viết thống nhất bằng i , trừ uy…”.
QĐ trên không chú ý tới một quy tắc bất thành văn về tính thẩm mỹ trong chữ quốc ngữ: hình chữ phải đẹp, trong đó có sự cân đối về độ cao giữa các con chữ khi viết.
Cân đối nghĩa là ghép những phụ âm cùng độ cao với /i/ thì có khuynh hướng dùng i: Ví dụ: viết vi phạm, vì vậy, vị trí, si mê, mị dân … mà không viết vy phạm, vỳ vậy, vỵ trí, sy mê; mỵ dân.
Cân đối còn được hiểu là trong một từ nếu một ký tự có phần nhô cao lên thì ta viết y nhằm tạo ra sự hài hòa trên dưới. Viết lý thì phần trên và phần dưới chữ này cân đối với nhau, còn viết lí thì phần dưới chữ này hơi bị hụt. Trong GĐB và Nông Cổ Mín Đàm (NCMĐ) đều viết như vậy: chánh lý, có lý lắm, ký tên, thơ ký, trong kỳ 15 ngày, xem kỹ…
Kích thước con chữ cũng là một lý do thẩm mỹ: Chữ i có kích thước ngắn hơn chữ y, tạo ra ấn tượng là một đối tượng nhỏ. Vậy nên có khuynh hướng dùng i ngắn cho những đối tượng tạo ra ý niệm nhỏ: li ti, tỉ mỉ, vi tính, chi li, chi tiết, chơi bi, sân si, lí nhí … Hình như không ai viết chơi by, tỷ mỷ; chy ly, chy tiết, vy tính…
Có những thói quen ngôn ngữ không tìm được lí lẽ của nó. Mĩ là đẹp (mĩ mãn), nhưng mọi người quen viết nước Mỹ, châu Mỹ. Những biến thể chính tả như vậy gặp rất nhiều.
3. Tiếng Việt trên báo chí thời xưa
Báo chí xuất hiện ở Nam Bộ sớm hơn ở Bắc Bộ. Có những ngộ nhận về ngôn ngữ báo chí Nam Bộ.
Vũ Ngọc Phan, đã bình luận về NCMĐ và Đại Việt Tân Báo như sau: “là những báo chí không có tính cách văn học, chỉ đăng rặt những tin vặt, những thông cáo của chính phủ , những bài diễn văn của người đương thời…” (Nhà văn hiện đại, quyển nhất, nxb Vĩnh Thịnh, Hà Nội, 1951). Những tài liệu nghiên cứu văn học sử và báo chí sau đó đã theo ý kiến này mà cho rằng Đông Dương tạp chí , Nam phong tạp chí mới là hai tờ báo đầu tiên góp phần xây dựng nền văn học hiện đại. Nói vậy là bỏ qua những đóng góp của báo chí Nam Bộ trong việc hình thành một thứ phong cách ngôn ngữ văn xuôi giản dị gần với khẩu ngữ của những Lê Hoằng Mưu, Trương Duy Toản, Tân Dân Tử, Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh,…nhất là của Trương Vĩnh Ký.
Huỳnh Văn Tòng cũng viết : “Trước Đông Dương tạp chí có những tờ báo khác như Gia Định Báo , Lục Tỉnh Tân Văn … Nhưng những tờ báo này thực ra chỉ có tính chất thông tin , văn chương còn luộm thuộm và hết sức đơn sơ.” (HVT, 2000,123).
Trong khi ở Bắc Bộ Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương ngôn ngữ báo chí là thứ ngôn ngữ gọt giũa, văn chương thì Trương Vĩnh Ký, ngay từ 1869 đã khuyến khích và huấn luyện “các thầy thông ngôn, ký lục, giáo tập” làm thông tín viên báo chí, cung cấp bài vở cho phần “Tạp vụ” của tờ GĐB dùng một thứ “tiếng Việt trơn tru như lời nói”, thứ ngôn ngữ phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc.
Đối tượng của GĐB là người Nam Bộ và là những người bình dân thì ngôn ngữ cũng phải là phương ngữ Nam Bộ. Có vậy độc giả Nam Bộ mới tiếp nhận được. Viết trơn tru như lời nói theo phương ngữ Nam Bộ thực sự trở thành phong cách ngôn ngữ của GĐB. Có điều, phương tiện giao thông chuyên chở báo lúc đó chỉ là những “xe tờ” ngựa kéo. Mãi năm 1922 mới có xe hơi đi từ Sài Gòn đến lục tỉnh. Bởi vậy, lúc mới ra đời, ảnh hưởng của GĐB nói riêng và báo chí Nam Bộ nói chung chưa vượt ra khỏi vùng đất Nam Bộ. Điều này cũng giải thích vì sao vai trò của ĐDTC và NPTC được nhấn mạnh hơn.
Nếu như Nguyễn Văn Vĩnh là người có biệt tài về dịch tiểu thuyết, ông chịu khó tìm trong kho thành ngữ, tục ngữ của ta những câu diễn đạt ý tưởng mới của Âu Tây khiến văn dịch của ông tưởng như những nguyên tác tiếng Việt, thì ngôn ngữ trong GĐB cũng trơn tru như lời nói rất gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày kể cả ở văn dịch. Số báo ngày đầu tháng chạp năm Tân Tỵ cách nay 130 năm, tức 20.01.1882, có một chuyện hài hước Tên Arabe đói, như sau:
“Có một tên Arabe kia, lạc bậy ở giữa đồng cát đói khát đà hai ngày rồi, biết mình chẳng kíp thì chầy không khỏi chết. Lúc đi qua gần một cái giếng, chợt thấy trên cát một cái bị nhỏ bằng da, nó vội vã lượm lấy cái bị ấy, tưởng là bị chà là. Lòng mầng lật đật mở ra. Mắt vừa ngó thấy đồ trong ấy thì vùng la khan lên rằng : “Thảm thay! Tinh những là ngọc mà thôi!”
Ở bài trên, thay vài từ ngữ của phương ngữ Nam Bộ và sửa những lỗi chính tả về dấu hỏi, ngã… chúng ta sẽ có một bài báo theo ngôn ngữ toàn dân hiện nay:
“Có một người Arabe lạc ở giữa đồng cát, đói khát đã hai ngày rồi, biết mình chẳng chóng thì chầy không (tránh) khỏi chết. Lúc đi qua gần một cái giếng, chợt thấy trên cát một cái bị nhỏ bằng da, người đó vội vã lượm cái bị ấy lên, tưởng là bị chà là. Lòng mừng lật đật mở ra. Mắt vừa nhìn thấy đồ trong ấy thì vùng kêu lên rằng: “Thảm thay! Toàn là những ngọc mà thôi!”
Văn dịch từ 130 năm trước của GĐB là thế đấy, như là ngôn ngữ hiện nay!
Một điều trùng hợp đáng chú ý là chính chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về cách viết báo cũng từng nhiều lần nhấn mạnh rằng cần “viết thế nào cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc.” ( Hồ Chí Minh về vấn đề báo chí, tr. 191).
4. Dấu ấn báo chí Nam Bộ
Nhiều hiện tượng của phương ngữ Nam Bộ đã trở thành ngôn ngữ toàn dân, thậm chí đã đi vào tác phẩm văn học. Trong truyện Mẹ và con, nhà văn Hà Nội Ma Văn Kháng cho một người Hà Nội sau 1975 nói: ‘Chị mà dận săm-pô, quần loe, đánh phấn, tô mắt vào nữa thì… hết sảy!’ . “Hãy … rồi gọi điện thoại lên trung tâm xe buýt mắng vốn” “Bao nhiêu tiền làm ra đốt vào những xị đế.” (TT, 26/8/08). Những từ đặc Nam Bộ hết sảy, mắng vốn, xị đế đã trở thành những từ toàn dân.
Về từ ngữ, đáng chú ý nhất là GĐB dùng rất ít từ Hán –Việt. Có vậy giới bình dân Nam Bộ còn chưa thông thạo chữ quốc ngữ mới dễ đọc, dễ hiểu.
Về ngữ pháp và phong cách, những câu viết trên báo cứ như là những lời kể chuyện thật tự nhiên. Không thấy những câu bị động. Lúc đó văn viết (bút ngữ) trên báo rất gần với lời nói (khẩu ngữ). Sự việc xảy ra thế nào cứ tuần tự hiện ra trong ngôn ngữ như thế khiến câu tiếng Việt nhiều động từ, ít danh từ . Và ít giới từ hơn hẳn so với các bản tiếng Pháp tương tự.
Người Nam Bộ trước đây rất sáng tạo khi nhập từ nước ngoài vào tiếng Việt. Trong khi người Bắc Bộ vay mượn chủ yếu theo cách phiên âm thì người Nam Bộ thời xưa trong nhiều trường hợp đã nhận thức bản chất của sự kiện để sáng tạo ra những từ ngữ mới. Khi chiếc xe đạp đưa vào Việt Nam, tất cả các bộ phận đều chưa có từ để gọi, ấy thế là người miền Bắc phải mượn các từ tiếng Pháp frein, enveloppe, chambre à air, garde-boue,… rồi phiên âm ra tiếng Việt: phanh, lốp, săm, gác-đờ-bu (mãi sau mới chuyển thành cái chắn bùn)… Nhưng người Nam Bộ không thế, đã dùng những từ có sẵn đặt tên cho chúng: thắng, vỏ, ruột, vè…
Báo chí Nam Bộ thời nay dẫn đầu khuynh hướng “Anh hóa” các từ vay mượn, kể cả nhiều từ vay mượn đã được phiên âm, như album, solo, show, live show, stop, dancing…Trước đây chúng ta đã từng phiên âm chúng: “-Anh ngồi đây, xem quyển an-bom này mà chờ tôi” (VTP, Số đỏ); “Vẫn múa, em tham gia hầu hết các điệu múa và nhiều tiết mục em chọn sôlô hoặc đuy-ô từng đoạn” (NDCN, 04/10/1990), “Bỗng Maika la lên: -Xì-tốp! Dừng, mình lại xem trên cây cầu này có chuyện gì mà con người bu đông như con kiến” (TT Cười, 6/1991) và “Cái hồ ấy, khi đã thành đất phẳng,/Tôi sẽ xin dựng một trường “Cao đẳng đăng-xinh”. (Tú Mỡ, Giòng nước ngược)
Thậm chí “Anh hóa” cả các từ vay mượn đã được Việt hóa: rất nhiều cửa hàng ghi sale, on sale, sale off chứ không ghi bán xôn, bán xon (PNNB, vay mượn từ tiếng Pháp solde). Có báo dùng “bị shock” chứ không nói “(bị/gây) sốc” (mượn từ tiếng Pháp choc)
5. Tiếng Việt đang dài ra
Anh dân quân đánh vần chưa thạo chữ quốc ngữ trong Đôi mắt của Nam Cao đã nói thuộc lòng một bài 3 giai đoạn kháng chiến phòng ngự, cầm cự, tổng phản công … ‘dài đến năm trang giấy’. Những người này cứ nói ra ‘là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân, phát xít, phản động, xã hội chủ nghĩa, dân chủ với cả tân dân chủ nữa…’ (trích Đôi mắt, 1948). Cách nay gần 65 năm đã xuất hiện trên cửa miệng người dân bình thường những khái niệm cao xa mấy ai hiểu hết ý nghĩa này. Thời đó người dân tin theo Đảng nên đã nói đúng theo đường lối, theo chỉ thị, nghị quyết. Sáu bảy thập kỷ là khoảng thời gian tạo ra hai thế hệ, đủ dài để hình thành những thói quen ngôn từ nói năng đúng giáo điều mà không cần hiểu thấu đáo. Điều này dẫn tới hệ lụy là xã hội hình thành thói quen chấp nhận, tư duy thụ động, không muốn lật lại nghĩa lý của từ ngữ, câu chữ, khái niệm và lập luận khi tiếp nhận văn bản. Vả lại, nếu ai đó có suy nghĩ độc lập, muốn phản biện, muốn bình luận sẽ tạo ra những lời nghịch nhĩ và trở thành “người có vấn đề”. Kết quả là người ta lo nói năng an toàn, cầm giấy phát biểu theo những giáo điều, dần dần hình thành thói quen kết luận mà không chú ý tới lý lẽ thuyết phục. Nhiều người nghèo đi về ngôn từ và tư duy, nhưng vẫn cần thể hiện mình. Vậy là sinh ra lối nói sang trọng với nhiều từ Hán-Việt nhưng lại không hiểu thấu đáo và những câu hùng hồn dài dòng rỗng nghĩa, dư thừa. Một thói quen quan cách nói những câu nghe rổn rảng nhưng dông dài chữ nghĩa, còn nội dung rỗng tuếch, sẵn sàng lặp lại những điều đã biết, đã từng nói.
Biến tướng của lối nói dư thừa là lối nói “chuẩn” nhưng không có trích dẫn, một tối kỵ với những người làm khoa học. Trải qua nhiều cuộc học tập nghị quyết, rèn luyện lập trường quan điểm, nâng cao ý thức chính trị nên đã hình thành thói quen tư duy thụ động và “nghệ thuật” nói năng an toàn: quan trọng nhất là phát biểu theo đúng quan điểm, đường lối mà không cần trích dẫn trực tiếp xuất xứ, hình thành thói quen phi khoa học là coi nhẹ việc nói có sách mách có chứng.
6. Những bất biến: triết lý trong tiếng Việt
Tiếng Việt thể hiện triết lý và cái hồn người Việt, qua lời nói thường ngày và qua kho tàng tục ngữ (TN) thành ngữ (ThN). Có những cách nói năng hiếm thấy ở những thứ tiếng khác và mới nghe thấy lạ, tưởng như mâu thuẫn, thiếu lô gích.
Có những dân tộc nào dùng từ nước để chỉ lãnh thổ như người Việt? Nước Việt Nam gắn với huyền sử Việt, số con của bà Âu Cơ nửa lên núi, nửa xuống biển nên non nước, đất nước cũng là nước, là quốc gia.
Có những dân tộc nào dùng bụng và những bộ phận của cái bụng lòng, dạ, gan, ruột,…làm biểu tượng cho phạm trù tinh thần, biểu hiện tư duy, tâm lí, tình cảm, ý chí, sức chịu đựng? Nghĩ bụng, ghi lòng tạc dạ, gan cóc tia, phổi bò, ruột để ngoài da…
Chúng ta dễ dàng giải thích được những cách nói tưởng như mâu thuẫn: Thành ngữ “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” phản ánh triết lý người Việt lấy hai cực trỏ tổng thể. Toàn bộ câu chuyện được gói trong “đầu đuôi câu chuyện”. Nói “bán anh em xa, mua láng giềng gần” để nhấn mạnh phạm trù khoảng cách quan trọng hơn phạm trù họ hàng, còn “một giọt máu đào hơn ao nước lã” lại là phạm trù họ hàng quan trọng hơn phạm trù số lượng.
Chất vấn để bác bỏ thể hiện cách tư duy độc đáo của người Việt. Có vậy chúng ta mới giải thích được vì sao “ớt nào chẳng cay?” là “ớt nào cũng cay”, “tôi nói điều đó bao giờ?” là “tôi chưa bao giờ nói điều đó”, “sao không nói điều đó” là “lẽ ra nên nói điều đó”.
Có hàng loạt ẩn dụ, hoán dụ trong tiếng Việt cũng không thấy ở nhiều thứ tiếng khác.
Nhiều cách nói có vẻ mâu thuẫn nhau chỉ là mâu thuẫn hình thức. Về bản chất, chúng phản ánh những qui luật nào đó của tiếng Việt liên quan đến triết lý người Việt.
*
Thư gửi Ban biên tập Tia Sáng
Thph HCM, ngày 08.3.2012
Kính gửi: Ban biên tập tạp chí Tia sáng
Trước hết, xin cảm ơn Ban biên tập đã dùng bài của tôi.
Sau đây tôi có vài lời về cách biên tập lại tiêu đề bài viết của tôi. Bài tôi gửi có tiêu đề “Tiếng Việt theo dòng thời gian”. Tít này được Tia Sáng sửa lại là: "Nhìn lại một chặng đường phát triển chữ Quốc ngữ".
Sửa như vậy mắc hai lỗi cơ bản:
1) Bài tôi viết về tiếng Việt chứ không phải về chữ quốc ngữ. Không thể lẫn lộn hai khái niệm khác nhau này.
2) Tít mà báo đặt, lặp theo khuôn sáo đã mòn nghĩa của một báo cáo tổng kết biểu dương thành tích: Nhìn lại (một) chặng đường [X năm] phát triển [của phong trào /của ngành /của xí nghiệp …Y]. Bài tôi viết mang đặc điểm của một tùy bút ngôn ngữ học với 3 điểm nhấn về thời gian: a) 130 năm trước, Trương Vĩnh Ký đã có công xây dựng một thứ ngôn ngữ báo chí rất đơn giản. b) Thời gian sẽ đào thải những quyết định trái quy luật (về quy luật chính tả i/y ). c) Dùng luôn ví dụ từ Đôi mắt của Nam Cao như là một ẩn dụ: Thời gian đã làm nhiều người Việt tư duy, nói năng theo đúng giáo điều (để tồn tại?) nhưng lại dông dài, vô nghĩa và nhất là mất cái nhìn phản biện. Chính vì vậy tôi mới đặt tít: Tiếng Việt theo dòng thời gian
Tôi có đôi lời như vậy và mong Ban biên tập quý báo rút kinh nghiệm.
GS TS Nguyễn Đức Dân
Ghi chú: Bài này đã đăng trên tạp chí Tia Sáng, ngày 05.3. 2012, với tít được sửa lại là: Nhìn lại một chặng đường phát triển chữ Quốc ngữ. Tôi thấy cần có đôi lời về tít này, nên ngày 08.3 đã viết một thư tới Tòa soạn Tia Sáng. Thư kèm vào cuối bài này. NĐD
Nguồn: khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
![]() |
| Soi gương . lụa của Nguyễn Phan Chánh |
30/1/15
Dấu phẩy giá bao nhiêu
Nghe album A Day Without Rain của Enya
và đọc bài viết của GS Nguyễn Đức Dân nói về tầm quan trọng của dấu phẩy
và đọc bài viết của GS Nguyễn Đức Dân nói về tầm quan trọng của dấu phẩy
19/1/15
Cớ sao "áo ấm" là "áo lạnh"?
Mạng vẫn còn tệ, nhưng nghe nhạc mp3 được.
Nghe Paul Mauriat chơi đàn và đọc bài viết của Nguyễn Đức Dân về một số hiện tượng có vẻ vô lí, mâu thuẫn trong tiếng Việt
Nghe Paul Mauriat chơi đàn và đọc bài viết của Nguyễn Đức Dân về một số hiện tượng có vẻ vô lí, mâu thuẫn trong tiếng Việt
17/1/15
Ăn, một từ kì thú
1. “Ăn” là một từ cơ bản và có trong ngôn ngữ của mọi dân tộc. Từ ăn trong tiếng Việt cực kì lí thú, phản ánh quá trình nhận thức đặc biệt của người Việt về hiện tượng “ăn”. GS Hoàng Tuệ có một bài viết rất hay trên Tác phẩm mới (1973) liên quan đến từ ăn. Đây là một gợi ý quan trọng để tôi viết bài này.
Thuở hồng hoang, tiếng nói của chúng ta có rất ít từ. Trong quá trình phát triển có nhiều từ mới được thêm vào hoặc dùng từ cũ với nghĩa mới. Ăn là một từ điển hình có nghĩa được mở rộng. Khởi thủy, “ăn” là một hành động của con người. Nghĩa của từ “ăn” được mở rộng dần dần theo cách lấy khuôn mẫu con người để nhận thức vũ trụ.
2. Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai trí tiến đức định nghĩa:
(1) ăn là cắn, gậm, bỏ vào miệng nhai rồi nuốt đi.
Loài vật cũng có hành động “ăn”. Có điều con rắn chỉ có nuốt con mồi. Con cóc, con thằn lằn chỉ tợp một cái là con mồi vào bụng chứ không “cắn, gặm, nhai”. Vậy cần hiểu lại từ ăn khái quát hơn cho phù hợp với cả loài vật. Từ điển tiếng Việt (1992) của Viện ngôn ngữ học định nghĩa:
(1) ® (2) ăn là tự cho vào cơ thể thức nuôi sống
Trong câu “Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, thợ bồ ăn nan, thợ hàn ăn thiếc”(TN), có thể hiểu “ăn giẻ, ăn hồ…” để nuôi sống. Nhưng người Việt còn có tục ăn trầu. Không ai nuốt trầu như Bill Gates khi tới thăm vùng quê quan họ, mà là nhai rồi nhả bã trầu…Vậy thì trầu không phải là thức nuôi sống. Ca dao có câu cá không ăn muối cá ươn. Cá nào có tự cho muối vào cơ thể. Nó bị con người rắc muối lên ướp để khỏi ươn, để tồn tại. Lại nữa, đồ vật cũng “ăn”: “Con tàu neo ở cảng ăn hàng”; “Chiếc mô tô này chạy 100 cây số ăn hết 2 lít xăng.” Động cơ xe máy, tàu thủy, máy bay, … phải ăn xăng, ăn than mới chạy được, mới tồn tại được. Khái quát tiếp:
(2) ® (3) ăn là tiếp nhận chất để tồn tại.
Thậm chí trong khái niệm “ăn”, người Việt không chú ý tới ăn chất gì. Thi hào Nguyễn Du lại cho ăn chất trừu tượng: “Nói lời rồi lại ăn lời như không.” Cũng chả ai nghĩ cho ăn đòn, ăn roi là để tồn tại. Chúng ta đi tới một khái quát cực kì quan trọng:
(3) ® (4): ăn là sự tiếp nhận.
Chết là tiếp nhận đất. Vậy nên ăn đất là ẩn dụ của cái chết.
3. Nghĩa của từ càng khái quát càng dễ dùng cho nhiều tình huống khác nhau. Ăn là tiếp nhận, và có dăm bảy đường tiếp nhận: chủ động, bị động, đồng thuận hoặc theo tục luật.
Chủ động tiếp nhận với ý nghĩa không chính đáng, xấu xa là ăn bám, ăn chực, ăn hại, ăn ghẹ, ăn ké, ăn báo cô; ăn bớt, ăn bòn, ăn vụng, ăn hoang, ăn không, ăn dỗ (trẻ em), ăn quẩn, ăn quèo, “khôn ngoan thì kiếm ăn người, mạt đời thì kiếm ăn quanh” (TN)… Không ít hạng người có thủ đoạn ăn lưu manh, phi nghĩa: ăn cắp, ăn trộm, ăn gian, ăn lường, ăn lận, ăn quịt, ăn hớt, ăn bửa, ăn chằng, ăn thông lưng (trong cờ bạc). Những tên đạo chích và gái đứng đường thì ăn sương. Tục ngữ có câu “Kiếp trâu ăn cỏ, kiếp chó ăn của dơ”. Những hạng kỳ hào, lý dịch, quan chức ăn chặn, ăn chẹt, ăn cướp cơm chim, ăn tiền, ăn đút lót, ăn hối lộ (xưa gọi lịch sự là ăn lễ), được gọi chung bằng từ ăn bẩn. Từ đây, có cách chửi mắng là bảo một người “ăn cái nọ, ăn cái kia (ô uế, xấu xa)”.
Sự tiếp nhận bị động là nước da ăn ảnh, ăn phấn, ăn đèn, ăn nắng, ăn gió. Có người “mặc đồ đen lại ăn hơn đồ trắng”. Giấy sản xuất thời bao cấp rất xấu, thường bị ăn mực.
Tiếp nhận theo qui luật, theo luật chơi, theo tục lệ là sự tiếp nhận hợp lí. Đó là ăn bổng, ăn lộc, ăn hương hỏa, ăn thừa tự, ăn bát họ, ăn cái; làm công ăn lương; làm ở hợp tác xã ăn công điểm. Trong cá cược nói “đặt một ăn ba”. Trong buôn bán, nói “hàng này đã ăn giá 300 ngàn”. Người làm trái tục lệ liền bị làng xóm kéo đến ăn vạ (ngả lợn gà ra ăn). Ăn vạ còn nhằm bắt đền, tức tiếp nhận sự đền bù của người khác.
Tiếp nhận từ cả hai phía thường mang nghĩa hài hòa: Tủ này ăn mộng. Những người ăn cánh thường nói ăn khớp nhau. Đội bóng này chơi cực kì ăn giơ (jeu); chưa thấy hai tiền đạo nào chơi ăn ý nhau như vậy. Dàn đồng ca này hát bè không ăn nhịp lắm…
4. Để ăn được một đối tượng khác thì phải mạnh hơn. Từ đây ăn có ý nghĩa là vượt trội, là thắng, là làm tiêu hao đối tượng. Đó là ăn tôm, ăn lèo, ăn chắn trong bài bạc, ăn xe, ăn pháo trong đánh cờ, đánh bài. Rồi “Cờ bạc ăn nhau về sáng” (TN), “Anh ta thì ăn giải gì, có mà giải rút”, “Về đầu óc, đứa em ăn đứt thằng anh”; “Đấu với nó sao được, nó sẽ ăn gỏi cậu”… Từ đây thêm một dòng nghĩa mới: ăn là tiêu hao đối tượng. Đó là nước ăn chân; gấu ăn trăng (hiện tượng nguyệt thực); acid ăn mòn kim loại; vải này ăn màu; buôn bán ế ẩm, bị ăn cụt vốn; biển đã ăn vào 100 mét; đường kẻ này ăn sang trái; “Sơn ăn tùy mặt ma bắt tùy người”(TN)…
5. Từ “ăn” thường trực trong tâm thức người Việt. Và tiếng Việt có nhiều từ ghép “ăn + X”, ở đó:
- Có X nói về duyên cớ ăn: Ăn Tết, ăn tân gia, ăn hỏi, ăn mừng, ăn khao, ăn giỗ, ăn cơm khách, “Ăn có mời làm có khiến.” (TN); “Mồng ba cá đi ăn thề, mồng bốn cá về cá vượt vũ môn” (cd)…
- Có X nói về tính chất, phương thức ăn: ăn già, ăn non, ăn vặt, ăn vay, ăn đong…; ăn xó mó niêu, ăn xin, ăn mày cửa Phật; “ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối” (TN); “Những người ăn xổi ở thì / Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày” (Truyện Kiều)…
- Khi ghép “ăn” với một động từ X khác, như ăn học, ăn tiêu, ăn mặc, ăn ngủ, ăn nói, ăn nhậu, ăn chia, ăn ngồi… vai trò của ăn và X như nhau, những tổ hợp này còn có thể nói về một điều X khái quát: Ăn chơi nói về chuyện chơi bời, ăn ở nói về cách ứng xử trong cuộc sống, còn ăn nằm chủ yếu nói về chuyện hai người có quan hệ … “nằm” với nhau.
Con đường phát triển nghĩa của từ ăn phong phú là như vậy. Mong bạn hãy liên hệ với từ “ăn” trong ngoại ngữ mình biết và hãy thử dịch những ví dụ gặp trong bài này xem bao nhiêu trường hợp có thể dùng eat (Anh), manger (Pháp), est’ (Nga) để dịch từ ăn của chúng ta. Một điều đáng suy ngẫm: nhiều cách nói đặc sắc về từ ăn đang mất dần đi trong xã hội hiện đại.
Thuở hồng hoang, tiếng nói của chúng ta có rất ít từ. Trong quá trình phát triển có nhiều từ mới được thêm vào hoặc dùng từ cũ với nghĩa mới. Ăn là một từ điển hình có nghĩa được mở rộng. Khởi thủy, “ăn” là một hành động của con người. Nghĩa của từ “ăn” được mở rộng dần dần theo cách lấy khuôn mẫu con người để nhận thức vũ trụ.
2. Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai trí tiến đức định nghĩa:
(1) ăn là cắn, gậm, bỏ vào miệng nhai rồi nuốt đi.
Loài vật cũng có hành động “ăn”. Có điều con rắn chỉ có nuốt con mồi. Con cóc, con thằn lằn chỉ tợp một cái là con mồi vào bụng chứ không “cắn, gặm, nhai”. Vậy cần hiểu lại từ ăn khái quát hơn cho phù hợp với cả loài vật. Từ điển tiếng Việt (1992) của Viện ngôn ngữ học định nghĩa:
(1) ® (2) ăn là tự cho vào cơ thể thức nuôi sống
Trong câu “Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, thợ bồ ăn nan, thợ hàn ăn thiếc”(TN), có thể hiểu “ăn giẻ, ăn hồ…” để nuôi sống. Nhưng người Việt còn có tục ăn trầu. Không ai nuốt trầu như Bill Gates khi tới thăm vùng quê quan họ, mà là nhai rồi nhả bã trầu…Vậy thì trầu không phải là thức nuôi sống. Ca dao có câu cá không ăn muối cá ươn. Cá nào có tự cho muối vào cơ thể. Nó bị con người rắc muối lên ướp để khỏi ươn, để tồn tại. Lại nữa, đồ vật cũng “ăn”: “Con tàu neo ở cảng ăn hàng”; “Chiếc mô tô này chạy 100 cây số ăn hết 2 lít xăng.” Động cơ xe máy, tàu thủy, máy bay, … phải ăn xăng, ăn than mới chạy được, mới tồn tại được. Khái quát tiếp:
(2) ® (3) ăn là tiếp nhận chất để tồn tại.
Thậm chí trong khái niệm “ăn”, người Việt không chú ý tới ăn chất gì. Thi hào Nguyễn Du lại cho ăn chất trừu tượng: “Nói lời rồi lại ăn lời như không.” Cũng chả ai nghĩ cho ăn đòn, ăn roi là để tồn tại. Chúng ta đi tới một khái quát cực kì quan trọng:
(3) ® (4): ăn là sự tiếp nhận.
Chết là tiếp nhận đất. Vậy nên ăn đất là ẩn dụ của cái chết.
3. Nghĩa của từ càng khái quát càng dễ dùng cho nhiều tình huống khác nhau. Ăn là tiếp nhận, và có dăm bảy đường tiếp nhận: chủ động, bị động, đồng thuận hoặc theo tục luật.
Chủ động tiếp nhận với ý nghĩa không chính đáng, xấu xa là ăn bám, ăn chực, ăn hại, ăn ghẹ, ăn ké, ăn báo cô; ăn bớt, ăn bòn, ăn vụng, ăn hoang, ăn không, ăn dỗ (trẻ em), ăn quẩn, ăn quèo, “khôn ngoan thì kiếm ăn người, mạt đời thì kiếm ăn quanh” (TN)… Không ít hạng người có thủ đoạn ăn lưu manh, phi nghĩa: ăn cắp, ăn trộm, ăn gian, ăn lường, ăn lận, ăn quịt, ăn hớt, ăn bửa, ăn chằng, ăn thông lưng (trong cờ bạc). Những tên đạo chích và gái đứng đường thì ăn sương. Tục ngữ có câu “Kiếp trâu ăn cỏ, kiếp chó ăn của dơ”. Những hạng kỳ hào, lý dịch, quan chức ăn chặn, ăn chẹt, ăn cướp cơm chim, ăn tiền, ăn đút lót, ăn hối lộ (xưa gọi lịch sự là ăn lễ), được gọi chung bằng từ ăn bẩn. Từ đây, có cách chửi mắng là bảo một người “ăn cái nọ, ăn cái kia (ô uế, xấu xa)”.
Sự tiếp nhận bị động là nước da ăn ảnh, ăn phấn, ăn đèn, ăn nắng, ăn gió. Có người “mặc đồ đen lại ăn hơn đồ trắng”. Giấy sản xuất thời bao cấp rất xấu, thường bị ăn mực.
Tiếp nhận theo qui luật, theo luật chơi, theo tục lệ là sự tiếp nhận hợp lí. Đó là ăn bổng, ăn lộc, ăn hương hỏa, ăn thừa tự, ăn bát họ, ăn cái; làm công ăn lương; làm ở hợp tác xã ăn công điểm. Trong cá cược nói “đặt một ăn ba”. Trong buôn bán, nói “hàng này đã ăn giá 300 ngàn”. Người làm trái tục lệ liền bị làng xóm kéo đến ăn vạ (ngả lợn gà ra ăn). Ăn vạ còn nhằm bắt đền, tức tiếp nhận sự đền bù của người khác.
Tiếp nhận từ cả hai phía thường mang nghĩa hài hòa: Tủ này ăn mộng. Những người ăn cánh thường nói ăn khớp nhau. Đội bóng này chơi cực kì ăn giơ (jeu); chưa thấy hai tiền đạo nào chơi ăn ý nhau như vậy. Dàn đồng ca này hát bè không ăn nhịp lắm…
4. Để ăn được một đối tượng khác thì phải mạnh hơn. Từ đây ăn có ý nghĩa là vượt trội, là thắng, là làm tiêu hao đối tượng. Đó là ăn tôm, ăn lèo, ăn chắn trong bài bạc, ăn xe, ăn pháo trong đánh cờ, đánh bài. Rồi “Cờ bạc ăn nhau về sáng” (TN), “Anh ta thì ăn giải gì, có mà giải rút”, “Về đầu óc, đứa em ăn đứt thằng anh”; “Đấu với nó sao được, nó sẽ ăn gỏi cậu”… Từ đây thêm một dòng nghĩa mới: ăn là tiêu hao đối tượng. Đó là nước ăn chân; gấu ăn trăng (hiện tượng nguyệt thực); acid ăn mòn kim loại; vải này ăn màu; buôn bán ế ẩm, bị ăn cụt vốn; biển đã ăn vào 100 mét; đường kẻ này ăn sang trái; “Sơn ăn tùy mặt ma bắt tùy người”(TN)…
5. Từ “ăn” thường trực trong tâm thức người Việt. Và tiếng Việt có nhiều từ ghép “ăn + X”, ở đó:
- Có X nói về duyên cớ ăn: Ăn Tết, ăn tân gia, ăn hỏi, ăn mừng, ăn khao, ăn giỗ, ăn cơm khách, “Ăn có mời làm có khiến.” (TN); “Mồng ba cá đi ăn thề, mồng bốn cá về cá vượt vũ môn” (cd)…
- Có X nói về tính chất, phương thức ăn: ăn già, ăn non, ăn vặt, ăn vay, ăn đong…; ăn xó mó niêu, ăn xin, ăn mày cửa Phật; “ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối” (TN); “Những người ăn xổi ở thì / Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày” (Truyện Kiều)…
- Khi ghép “ăn” với một động từ X khác, như ăn học, ăn tiêu, ăn mặc, ăn ngủ, ăn nói, ăn nhậu, ăn chia, ăn ngồi… vai trò của ăn và X như nhau, những tổ hợp này còn có thể nói về một điều X khái quát: Ăn chơi nói về chuyện chơi bời, ăn ở nói về cách ứng xử trong cuộc sống, còn ăn nằm chủ yếu nói về chuyện hai người có quan hệ … “nằm” với nhau.
Con đường phát triển nghĩa của từ ăn phong phú là như vậy. Mong bạn hãy liên hệ với từ “ăn” trong ngoại ngữ mình biết và hãy thử dịch những ví dụ gặp trong bài này xem bao nhiêu trường hợp có thể dùng eat (Anh), manger (Pháp), est’ (Nga) để dịch từ ăn của chúng ta. Một điều đáng suy ngẫm: nhiều cách nói đặc sắc về từ ăn đang mất dần đi trong xã hội hiện đại.
Nguyễn Đức Dân
Nguồn khoavanhoc-ngonngu
13/1/15
Phong ba bão táp có bằng ngữ pháp VN?
Nghe đồn cá mập thôi cắn, cáp quang nối lại rồi.
Thế nhưng ở đây mạng vẫn còn khá chập chờn.
Nghe Lê Dung ca và đọc bài viết về ngôn ngữ của Nguyễn Đức Dân cho vui vậy.
Thế nhưng ở đây mạng vẫn còn khá chập chờn.
Nghe Lê Dung ca và đọc bài viết về ngôn ngữ của Nguyễn Đức Dân cho vui vậy.
12/1/15
10/1/15
Triết lý tiếng Việt trong "vào Nam ra Bắc"
1. RA, VÀO là hai từ chỉ vận động định hướng trong không gian
Tại sao nói ‘vào Nam ra Bắc’ nhưng không thể nói ‘*vào Bắc ra Nam’? Tại sao một em bé mới sinh được gọi là ‘mới ra đời’ còn những sinh viên tốt nghiệp và rời trường thì được gọi là ‘bước vào đời’? Những câu hỏi này liên quan tới hiện tượng chuyển nghĩa rất thú vị của các từ ra, vào.
Ra, vào là những vận động định hướng. Về ý nghĩa chúng có liên hệ chặt chẽ với hai từ trỏ vị trí trong, ngoài: ‘Người xấu duyên lặn vào trong/ Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài. (ca dao)
Từ thời xa xưa tổ tiên chúng ta nhận ra trong hang thì hẹp và ngoài hang thì rộng. Nói ‘đi ra ngoài hang, đi vào trong hang’ rồi khái quát thành: đi ra là đi từ một không gian hẹp tới một không gian rộng hơn, như em bé từ bụng mẹ ra đời; còn đi vào là đi từ một không gian rộng tới một không gian hẹp hơn. Từ trong ứng với không gian hẹp, từ ngoài ứng với không gian rộng. Nhưng không gian nào rộng, không gian nào hẹp? Quan hệ trong-ngoài, hẹp-rộng chỉ là tương đối có trong tâm thức người Việt và được sắp xếp theo quy ước. Chẳng hạn: buồng hẹp hơn nhà , nhà hẹp hơn sân, sân hẹp hơn vườn, vườn hẹp hơn ngõ …
Vậy nên chỉ cần nghe “đi ra sân” là chúng ta biết ai đó từ buồng, từ bếp, từ nhà đi ra sân. Còn khi nghe “đi vào sân” là hiểu ngay ai đó từ vườn, từ ngõ… đi vào sân.
2. Cách nói theo điểm nhìn trong tiếng Việt
Có một ông ngồi trong phòng khách. Tiếng Việt và tiếng Anh có cách nói giống nhau về vị trí của người này so với phòng khách: “Ông ấy đang đợi ở phòng khách” và “He is waiting in the living room”.
Người Việt còn có cách nói theo điểm nhìn rất đặc sắc. Đó là lấy vị trí của mình so với vị trí của người đàn ông để nói. Đang ở trên lầu cao thì nói ‘Ông ấy đang đợi dưới phòng khách’. Nếu ở dưới bếp thì nói ‘Ông ấy đang đợi trên phòng khách’. Còn như đang ở trong buồng thì phải nói ‘Ông ấy đang đợi ngoài phòng khách’. Và ‘Ông ấy đang đợi trong phòng khách’ là cách nói của những ai đang ở ngoài sân, ngoài vườn.
3. Mở rộng nghĩa I: Dùng khuôn mẫu của quan hệ không gian hình học cho những quan hệ khác
Đội bóng, trường học, xí nghiệp, hội đồng quản trị, ban chấp hành, đoàn thể, quân đội, công sở, làng xóm, tuần lễ, tháng, năm học… đều là những tập hợp. Chúng tạo thành những không gian xã hội trừu tượng được nhận thức như những không gian hình học. Ấy thế là có cách dùng vào, ra, trong, ngoài y như trong không gian hình học: cũng có quan hệ trong-ngoài (bao chứa, thuộc về – không thuộc về ), ra khỏi và đi vào:
Chạy được một chân trong ban chấp hành; trong (dịp) Tết giá tăng chóng mặt; nói trong khoảng 5 phút; thi vào đại học; được gọi vào đội tuyển; đường vào làng; xung phong vào bộ đội; vào tuần sau mới có kết quả; vào mùa mưa; đã ra khỏi đảng ủy; lễ ra quân chiến dịch mùa hè xanh; cô ấy ra trường đã 3 năm; bị chấn thương, cầu thủ A đã ra (khỏi) sân… Con người chuyển động trong không gian cũng là chuyển động trong thời gian. Kết thúc một năm – kết thúc một tập hợp – chúng ta ra khỏi tập hợp đó. Vậy nên có lối nói ra giêng (ngày rộng tháng dài); ngoài giêng; ngoài giám đốc và kế toán trưởng không ai được biết quỹ riêng của công ty…
4. Mở rộng nghĩa II: Nhận thức về thuộc tính của quan hệ không gian
Hàng loạt nghĩa mới của hai từ ra, vào được hình thành liên quan đến nhận thức: a) Trong-ngoài là quan hệ hẹp-rộng, khép-mở, chúng tạo ra những quan hệ về thuộc tính, và b) Hướng chuyển động chuyển thành thuộc tính. Đi vào là đi tới nơi hẹp, nơi bị khép lại, còn đi ra là đi tới nơi rộng mở.
Quan hệ hẹp – rộng chuyển thành quan hệ kín – rõ. Mà kín là bí mật, là không thấy được. Ấy vậy nên, từ vào để chỉ những sự việc hoặc hành động bí mật, không thấy được: Đảng rút vào hoạt động bí mật; Tên gian đã lẩn vào đám đông; vấn đề đi vào ngõ cụt. Từ ra để chỉ những sự việc hoặc hành động thấy được; công khai: tiến ra sân khấu, cầu thủ A đã được đưa ra sân thay thế cho cầu thủ B.
Chuyển động ‘ra’ là chuyển động từ không gian khép sang không gian mở, là chuyển động theo hướng ly tâm như: giang tay ra, duỗi chân ra, mở gói ra, cởi áo ra, bàn ra, tháo ra, thuyền ra khơi xa… Khái quát lên là từ thu hẹp sang phát triển. Khái quát nữa là sự vật chuyển thuộc tính từ tiêu cực (âm) sang tích cực (dương). Điều này được thấy trong các lối nói trắng ra , béo ra, trẻ ra, khỏe ra, đẹp ra, tươi ra, đỏ đắn ra, xinh ra, tỉnh ra, ăn nên làm ra…
Ngược lại, từ vào dùng cho những hoạt động hướng tâm: co tay vào, nhìn thẳng vào sự thật, nhảy vào cuộc, nói vun vào, lãnh đạo cần gương mẫu để cho quần chúng còn nhìn vào…
Quan hệ không thấy được – thấy được chuyển thành quan hệ chưa biết – biết, phát hiện; giữ kín – bộc lộ. Từ ra để chỉ những gì ta biết, ta phát hiện: tìm ra đáp số; tìm ra thủ phạm; chỉ ra những chỗ sai; nhận ra người quen; nổ ra cuộc tranh luận. Từ ra còn trỏ những gì được bộc lộ: hiện ra, bày ra, làm rõ ra... Trong cờ tướng, “ra xe” là quân xe chuyển tới một vị trí mở (bộc lộ) rất rộng đường đi. Ý nghĩa “bộc lộ , phát hiện” của từ ra được xuất hiện trong hầu hết các quán ngữ, thành ngữ có từ ra: té ra, hoá ra, thì ra là, thế ra, ra bộ, ra mặt, ra tay, ra cái điều, ra đầu ra đũa, ra môn ra khoai… Từ vào để chỉ những gì chưa biết. Nói tên lửa bay lên vũ trụ vì vũ trụ là không gian cao trên đầu chúng ta; nhưng cũng nói tên lửa bay vào vũ trụ vì trước đây chúng ta hầu như chưa biết gì về vũ trụ. Chúng ta nói những sinh viên tốt nghiệp đại học và đi làm, nhưng chưa biết gì về cuộc sống, là những sinh viên mới vào đời.
Tới đây, chúng ta giải thích được lối nói ra Bắc vào Nam: Trong quá trình phát triển, dân tộc Việt Nam đi từ phía Bắc xuống phía Nam. Chúng ta sinh sống ở phía Bắc. Nơi ta sống là nơi ta biết. Đi tới phía Bắc trên đất nước ta là đi tới nơi ta biết nên mới nói ra Bắc. Ông cha ta đi khai khẩn, khám phá phía Nam là nơi chưa từng sinh sống nên chưa biết. Đi tới phía Nam là đi tới nơi ta chưa biết nên mới nói vào Nam. Mặt khác, tiến về phương Nam chủ yếu là tiến về nơi rừng núi rậm rạp cũng là chưa biết. Thế là hình thành lối nói “vào Nam ra Bắc”.
Ra, vào là những vận động định hướng. Về ý nghĩa chúng có liên hệ chặt chẽ với hai từ trỏ vị trí trong, ngoài: ‘Người xấu duyên lặn vào trong/ Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài. (ca dao)
Từ thời xa xưa tổ tiên chúng ta nhận ra trong hang thì hẹp và ngoài hang thì rộng. Nói ‘đi ra ngoài hang, đi vào trong hang’ rồi khái quát thành: đi ra là đi từ một không gian hẹp tới một không gian rộng hơn, như em bé từ bụng mẹ ra đời; còn đi vào là đi từ một không gian rộng tới một không gian hẹp hơn. Từ trong ứng với không gian hẹp, từ ngoài ứng với không gian rộng. Nhưng không gian nào rộng, không gian nào hẹp? Quan hệ trong-ngoài, hẹp-rộng chỉ là tương đối có trong tâm thức người Việt và được sắp xếp theo quy ước. Chẳng hạn: buồng hẹp hơn nhà , nhà hẹp hơn sân, sân hẹp hơn vườn, vườn hẹp hơn ngõ …
Vậy nên chỉ cần nghe “đi ra sân” là chúng ta biết ai đó từ buồng, từ bếp, từ nhà đi ra sân. Còn khi nghe “đi vào sân” là hiểu ngay ai đó từ vườn, từ ngõ… đi vào sân.
2. Cách nói theo điểm nhìn trong tiếng Việt
Có một ông ngồi trong phòng khách. Tiếng Việt và tiếng Anh có cách nói giống nhau về vị trí của người này so với phòng khách: “Ông ấy đang đợi ở phòng khách” và “He is waiting in the living room”.
Người Việt còn có cách nói theo điểm nhìn rất đặc sắc. Đó là lấy vị trí của mình so với vị trí của người đàn ông để nói. Đang ở trên lầu cao thì nói ‘Ông ấy đang đợi dưới phòng khách’. Nếu ở dưới bếp thì nói ‘Ông ấy đang đợi trên phòng khách’. Còn như đang ở trong buồng thì phải nói ‘Ông ấy đang đợi ngoài phòng khách’. Và ‘Ông ấy đang đợi trong phòng khách’ là cách nói của những ai đang ở ngoài sân, ngoài vườn.
3. Mở rộng nghĩa I: Dùng khuôn mẫu của quan hệ không gian hình học cho những quan hệ khác
Đội bóng, trường học, xí nghiệp, hội đồng quản trị, ban chấp hành, đoàn thể, quân đội, công sở, làng xóm, tuần lễ, tháng, năm học… đều là những tập hợp. Chúng tạo thành những không gian xã hội trừu tượng được nhận thức như những không gian hình học. Ấy thế là có cách dùng vào, ra, trong, ngoài y như trong không gian hình học: cũng có quan hệ trong-ngoài (bao chứa, thuộc về – không thuộc về ), ra khỏi và đi vào:
Chạy được một chân trong ban chấp hành; trong (dịp) Tết giá tăng chóng mặt; nói trong khoảng 5 phút; thi vào đại học; được gọi vào đội tuyển; đường vào làng; xung phong vào bộ đội; vào tuần sau mới có kết quả; vào mùa mưa; đã ra khỏi đảng ủy; lễ ra quân chiến dịch mùa hè xanh; cô ấy ra trường đã 3 năm; bị chấn thương, cầu thủ A đã ra (khỏi) sân… Con người chuyển động trong không gian cũng là chuyển động trong thời gian. Kết thúc một năm – kết thúc một tập hợp – chúng ta ra khỏi tập hợp đó. Vậy nên có lối nói ra giêng (ngày rộng tháng dài); ngoài giêng; ngoài giám đốc và kế toán trưởng không ai được biết quỹ riêng của công ty…
4. Mở rộng nghĩa II: Nhận thức về thuộc tính của quan hệ không gian
Hàng loạt nghĩa mới của hai từ ra, vào được hình thành liên quan đến nhận thức: a) Trong-ngoài là quan hệ hẹp-rộng, khép-mở, chúng tạo ra những quan hệ về thuộc tính, và b) Hướng chuyển động chuyển thành thuộc tính. Đi vào là đi tới nơi hẹp, nơi bị khép lại, còn đi ra là đi tới nơi rộng mở.
Quan hệ hẹp – rộng chuyển thành quan hệ kín – rõ. Mà kín là bí mật, là không thấy được. Ấy vậy nên, từ vào để chỉ những sự việc hoặc hành động bí mật, không thấy được: Đảng rút vào hoạt động bí mật; Tên gian đã lẩn vào đám đông; vấn đề đi vào ngõ cụt. Từ ra để chỉ những sự việc hoặc hành động thấy được; công khai: tiến ra sân khấu, cầu thủ A đã được đưa ra sân thay thế cho cầu thủ B.
Chuyển động ‘ra’ là chuyển động từ không gian khép sang không gian mở, là chuyển động theo hướng ly tâm như: giang tay ra, duỗi chân ra, mở gói ra, cởi áo ra, bàn ra, tháo ra, thuyền ra khơi xa… Khái quát lên là từ thu hẹp sang phát triển. Khái quát nữa là sự vật chuyển thuộc tính từ tiêu cực (âm) sang tích cực (dương). Điều này được thấy trong các lối nói trắng ra , béo ra, trẻ ra, khỏe ra, đẹp ra, tươi ra, đỏ đắn ra, xinh ra, tỉnh ra, ăn nên làm ra…
Ngược lại, từ vào dùng cho những hoạt động hướng tâm: co tay vào, nhìn thẳng vào sự thật, nhảy vào cuộc, nói vun vào, lãnh đạo cần gương mẫu để cho quần chúng còn nhìn vào…
Quan hệ không thấy được – thấy được chuyển thành quan hệ chưa biết – biết, phát hiện; giữ kín – bộc lộ. Từ ra để chỉ những gì ta biết, ta phát hiện: tìm ra đáp số; tìm ra thủ phạm; chỉ ra những chỗ sai; nhận ra người quen; nổ ra cuộc tranh luận. Từ ra còn trỏ những gì được bộc lộ: hiện ra, bày ra, làm rõ ra... Trong cờ tướng, “ra xe” là quân xe chuyển tới một vị trí mở (bộc lộ) rất rộng đường đi. Ý nghĩa “bộc lộ , phát hiện” của từ ra được xuất hiện trong hầu hết các quán ngữ, thành ngữ có từ ra: té ra, hoá ra, thì ra là, thế ra, ra bộ, ra mặt, ra tay, ra cái điều, ra đầu ra đũa, ra môn ra khoai… Từ vào để chỉ những gì chưa biết. Nói tên lửa bay lên vũ trụ vì vũ trụ là không gian cao trên đầu chúng ta; nhưng cũng nói tên lửa bay vào vũ trụ vì trước đây chúng ta hầu như chưa biết gì về vũ trụ. Chúng ta nói những sinh viên tốt nghiệp đại học và đi làm, nhưng chưa biết gì về cuộc sống, là những sinh viên mới vào đời.
Tới đây, chúng ta giải thích được lối nói ra Bắc vào Nam: Trong quá trình phát triển, dân tộc Việt Nam đi từ phía Bắc xuống phía Nam. Chúng ta sinh sống ở phía Bắc. Nơi ta sống là nơi ta biết. Đi tới phía Bắc trên đất nước ta là đi tới nơi ta biết nên mới nói ra Bắc. Ông cha ta đi khai khẩn, khám phá phía Nam là nơi chưa từng sinh sống nên chưa biết. Đi tới phía Nam là đi tới nơi ta chưa biết nên mới nói vào Nam. Mặt khác, tiến về phương Nam chủ yếu là tiến về nơi rừng núi rậm rạp cũng là chưa biết. Thế là hình thành lối nói “vào Nam ra Bắc”.
Nguyễn Đức Dân
nguồn: khoavanhoc-ngonngu
8/1/15
Cái bụng chứa... tinh thần
Đường truyền tệ, nhưng nghe mp3 cũng tạm.
Nghe Kenny G. thổi kèn và đọc bài viết của Nguyễn Đức Dân cho vui
Nghe Kenny G. thổi kèn và đọc bài viết của Nguyễn Đức Dân cho vui
7/1/15
Làm trai cứ nước hai mà nói
1/12/14
Logic và cú pháp của thành ngữ, tục ngữ
Có nhiều câu thành ngữ, tục ngữ ngẫm thấy kì kì. Ví dụ
Mẹ tròn con vuông
Thượng cẳng chân, hạ cẳng tay
Mẹ tròn còn có thể hiểu được. Đấy là mẹ thời gian bầu bì sinh đẻ ăn nhiều mà lười tập thể dục nên pếu. Nhưng con vuông là con ra làm sao ? Chân sao lại thượng, tay sao lại hạ ? Ví dụ khác
Anh em là ruột là rà,
Vợ chồng như áo cởi ra là rồi
so sánh với
Vợ chồng là ruột là rà
Anh em thì có cửa nhà anh em
Hai câu hình như đang đá nhau ?
Mời nghe GS Nguyễn Đức Dân lý giải những điều nghe có vẻ phi logic trên đây. Bài nguyên đăng trên báo Tiền Phong hồi 2001, sau in trong tập Nỗi oan thì, là, mà. File audio do Ngọc Hân đọc, lấy từ sachnoi.com.
24/11/14
Khi gặp những tục ngữ trái ngược nhau . Nguyễn Đức Dân
Khi gặp những tục ngữ thoạt nghe như trái ngược nhau, ví dụ Lời nói gió bay vs Lời nói đọi máu, Một giọt máu đào hơn ao nước lã vs Bán anh em xa mua láng giềng gân, .. chúng ta nên hiểu như thế nào ? Mời nghe ý kiến của GS Nguyễn Đức Dân, theo một bài được đăng trên Kiến Thức Ngày Nay số 116 (năm 1993), được in lại trong cuốn Nỗi oan thì, là, mà qua giọng đọc Ngọc Hân.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







