Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ Đường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ Đường. Hiển thị tất cả bài đăng

30/9/25

Độ Tang càn

渡桑乾

客舍並州已十霜,

歸心日夜憶咸陽。

無端更渡桑乾水,

卻望並州是故鄉。

Âm Hán Việt

Khách xá Tịnh Châu dĩ thập sương,

Quy tâm nhật dạ ức Hàm Dương

Vô đoan cánh độ Tang Càn thủy,

Khước vọng Tịnh Châu thị cố hương

Chú giải

桑乾 Tang Càn: tên sông. Nay là thượng lưu sông Vĩnh Định. Tương truyền mỗi năm khi dâu chín thì nước sông cạn khô, nên có tên như vậy. 

客 Khách xá: ở làm khách. 舍 vốn có nghĩa là quán trọ, ở đây dùng như động từ, có nghĩa là ở trọ. 客 trong cụm từ này là danh từ làm trạng ngữ chỉ cách thức cho động từ 舍

並州 (danh từ riêng): Tịnh Châu

已十霜 dĩ thập sương: đã mười sương, ở đây có nghĩa là đã 10 năm

歸心 quy tâm: lòng muốn về nhà

咸陽 Hàm Dương: quê nhà tác giả. Nay ở Thiểm Tây, xưa là kinh đô nhà Tần. 

無端 vô đoan: nghĩa ban đầu là không có điểm khởi đầu hoặc không có điểm kết thúc, mở rộng ra chỉ vô cớ, không lý do gì cả. 

更渡 cánh độ: lại lần nữa đi qua

桑乾水 Tang Càn thủy: sông Tang Càn. 水 ở đây có nghĩa là sông

卻望 khước vọng: quay đầu nhìn lại.

Nhan đề: Có bản ghi nhan đề là 旅次朔方 Lữ Thứ Sóc Phương: Trọ lại ở Sóc Phương

Tác giả: đa số các nhà chú giải cho rằng bài thơ này là tác phẩm của Giả Đảo, nhà thơ nổi tiếng "thôi xao" thời Trung Đường. Nhưng một số tác giả cho rằng bài thơ này là của nhà thơ Lưu Táo sống vào thời Thịnh Đường. 

Giản thể

渡桑干

客舍并州已十霜,

归心日夜忆咸阳。

无端更渡桑干水,

却望并州是故乡。

Nghĩa

Làm khách trọ ở Tịnh Châu đã mười năm

Lòng quê ngày đêm nhớ về Hàm Dương

Không dưng lại qua sông Tang Càn

Quay nhìn Tịnh Châu thấy nay đã là quê hương

Tạm dịch

Đất khách mười năm nương tấm thân,

Lòng quê hôm sớm mãi tơ vương.

Không dưng một sớm thuyền rời bến,

Đất khách quay nhìn hóa cố hương.

*

Đọc bài thơ, nhớ câu thơ của Chế Lan Viên

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở. 

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn

24/8/25

Đăng Quán Tước lâu

Vương Chi Hoán

登鸛雀樓

白日依山盡,

黃河入海流。

欲窮千里目,

更上一層樓。

王之渙

Chú giải

Chú giải

• Nhan đề. 鸛雀樓 (Quán Tước lâu): Tên cổ là 鸛鵲樓 (Quán Thước lâu), do thường có chim quán thước đậu trên lầu nên mang tên này. Vị trí cũ của lầu nằm bên bờ sông Hoàng Hà, phía tây nam ngoại thành Phổ Châu cổ (nay thuộc địa phận thành phố Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc).

- 鸛鵲 (Quán thước): Tên loài chim, mỏ thẳng và dài, lông màu xám trắng, sống ở ven sông hồ đầm lầy, bắt cá, tôm làm thức ăn.

• 1. 白日依山盡 Bạch nhật y sơn tận: mặt trời nương theo núi biến mất

- 白日: mặt trời. 

- 依: dựa vào, men theo. 

- 盡: hết, cạn, biến mất

• 2. 黃河入海流 Hoàng Hà nhập hải lưu: Sông Hoàng Hà chảy vào biển

- 黃河: Sông Hoàng Hà, con sông lớn nhất bên Tàu. 

- 入海 vào biển, hướng vào biển. 

- 流 chảy.

• 3. 欲窮千里目 Dục cùng thiên lí mục: Muốn nhìn tận ngàn dặm 

- 欲 muốn (trợ động từ năng nguyện) 

- 窮 tận, hết. 

- 千里目 tầm mắt nhìn ngàn dặm, ám chỉ tầm nhìn bao quát mọi cảnh vật xa xôi.

• 4. 更上一層樓 Cánh thượng nhất tằng lâu: Lại lên thêm một tầng nữa. 

- 更 phó từ: lại, lần nữa. 

- 上 (đọc: thướng): leo lên. 

- 一層樓: một tầng lầu.


Bài thơ này có hai câu thể hiện thái độ sống tích cực, cực kì nổi tiếng, vẫn thường xuyên được trích dẫn.


Tác giả bài thơ là Vương Chi Hoán (688-742), tự Quý Lăng, là người Tấn Dương (nay là Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây), nhà thơ biên tái nổi tiếng thời Thịnh Đường. 


Giản thể

白日依山尽,黄河入海流。欲穷千里目,更上一层楼。


Tạm dịch

Trời đỏ men non lặn, 

Sông vàng hướng biển trôi. 

Muốn nhìn xa vạn dặm, 

Lên tiếp một tầng coi.


6/8/25

Ngày xuân, đọc lại Lương Châu từ của Vương Hàn

 


Vương Hàn (687–726) tự Tử Vũ người Tấn Dương, Tinh Châu, Sơn Tây. Năm 710 ông đậu tiến sĩ và ra làm quan. Bài từ này Vương Hàn làm năm 713 tại Lương Châu. Lương Châu ngày nay thuộc tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc. Thời Đường những đạo quân lớn thường tập trung ở đây trước khi đi về phía Tây hoặc phía Bắc để phá vỡ các lực lượng du mục hung dữ luôn đe dọa Trung Quốc.

Trương Thái Du

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

"Lương Châu từ" thuộc dòng thơ Biên Tái buổi Thịnh Đường. Tâm trạng bi nhưng không lụy của người lính chiến khắc họa thành công ước vọng hòa bình sâu sa, thê thiết, giàu nhân bản. Tạm dịch nghĩa: Rượu nho đỏ ngon rót vào chén ngọc dạ quang / Ta đã muốn uống, lại được tiếng đàn tỳ bà giục giã thôi thúc vui vẻ / Nếu có lỡ say vạ vật nơi sa trường xin người đừng cười chê / Xưa nay chinh chiến mấy ai có ngày trở về.

"Dạ quang bôi" là thứ chén ngọc thạch trắng, phát sáng khi để trong bóng tối. "Bồ đào mỹ tửu" là loại rượu nho sóng sánh màu đỏ sậm. Mạch so sánh ngầm ở câu thơ đầu khúc chiết nhưng đầy đủ đã làm nổi bật chữ "bi" chủ thể xuyên suốt bài ca. Màu trắng tang thương, trắng cả trong bóng tối, làm nền, làm bồi cảnh cho màu đỏ nơi huyết quản chinh nhân trong bức tranh thơ trác việt.

Câu thơ thứ hai xưa nay có rất nhiều cách hiểu. Đa số cho rằng người chinh nhân rất muốn uống rượu nhưng lại bị tiếng đàn tỳ bà giục giã lên đường. Nghĩa ấy sẽ rất khập khiễng khi vận vào câu tiếp theo, nếu đã uống vội uống vàng thì làm sao có thể nghiêng ngả say trên sa trường. Cũng xuất hiện khả năng "tỳ bà mã thượng" là cách ví von chùm lục lạc nhạc ngựa của đoàn chiến mã đang chồn chân. Sự nôn nao gấp ruổi nơi loài thuần thú va đập với dục năng rất người ở đây là muốn uống, muốn say, muốn tạm quên sự đời. Phần dịch nghĩa tôi không đưa khả năng này vào, xin tạm để đây như một tồn nghi, một lối hiểu cần thêm nghiền ngẫm. Ổn nhất khi giải thích "tỳ bà mã thượng" là nhóm nhạc công ngồi trên lưng ngựa giúp vui cho buổi tiệc khao quân xuất trận.

Đàn tỳ bà và rượu vang đỏ mang đặc trưng Tây Vực. Rượu truyền thống của người Trung Hoa là rượu lúa mạch, rượu gạo. Chiếc chén ngọc quý giá biết thưởng thức hơi men xa lạ, người lính viễn chinh thấu triệt kỳ thanh trong cung đàn xứ khác trưng ra khuôn mặt khó thấy của văn hóa Trung Hoa: sự khát khao làm chủ các giá trị hữu và phi vật thể từ bên ngoài.

Câu ba, từ "sa trường" có rất nhiều điều để nói. Suốt chiều dài lịch sử của mình, người Trung Hoa hằng mấy ngàn năm không ngon giấc khi nghe thoảng trong gió lạnh tiếng hí ngựa Hồ. Họa Bắc phương khiến sa mạc, những vùng cát trắng mênh mông phía Tây và Bắc Trung Nguyên đồng nghĩa với chiến trường. Người Hán hai lần mất nước bởi những đoàn quân từ phương Bắc. Họ thường nhận định quá trình Hán hóa kẻ thù ở Trung Hoa đồng nghĩa với phục quốc. Trong mối tác động tương hỗ, không thể không quan tâm tới cách họ dung nạp văn hóa ngoại lai và biến nó thành của mình.

Vương Hàn nặng lòng đặt nét màu cuối cho bức tranh: "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Chén rượu hồng bất ngờ vượt lên trên cả niềm đau chia ly, để ngời ngợi nỗi bi thống máu xương chiến địa. Ngoại ngôn trong Lương Châu Từ rất gần với vô ngôn. Nói là vô bởi ta chẳng thấy bờ biên ngôn ngữ, hơn nữa như Lão Tử viết: "Tri giả bất bác, bác giả bất tri", ôm đồm "bác giả - khối kiến thức rộng lớn của bể từ" khác gì tự biến mình thành kẻ bất tri.

Nghệ thuật của Vương Hàn nằm giữa đỉnh cao nghệ thuật Thịnh Đường thi, song tư tưởng ông gửi gắm còn cao hơn thế. Không biết tự bao giờ nó đã vươn khỏi biên giới quốc gia khai sinh ra mình. Ánh sáng nhân văn luôn lan tỏa mạnh mẽ và vĩnh viễn trường tồn. Ở Việt Nam, tư tưởng này khá nhiều lần phảng phất trong các danh tác cổ kim. Có thể kể ngay ra đây bài Màu tím hoa sim của Hữu Loan vừa gây sóng cồn về "bản quyền" trong làng văn nghệ:

Từ chiến khu ba
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê

Hoặc Hòn Vọng Phu của Lê Thương:

Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn,
Vui ca vang rồi đi tiến binh ngoài ngàn.
Người đi ngoài vạn lý quan san,
Người đứng chờ trong bóng cô đơn.
...

Vui ra đi rồi không ước hẹn ngày về,
Ai quên ghi vào gan đã bao nguyện thề.
Nhìn chân trời xanh biếc bao la,
Người mong chờ vẫn nhớ nơi xa.
Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về,
Bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề,
Người tung hoành bên núi xa xăm,
Người mong chồng còn đứng muôn năm.

Hiếm có dân tộc nào, nền văn minh nào lâu bền và vững mạnh mà không yêu chuộng hòa bình và hòa hợp. Người Trung Hoa hiểu điều đó không phải nhờ Mạnh Tử từng dạy: "Ai không thích giết người thì thống nhất được thiên hạ". Càng đối mặt với đại họa thì càng hiểu ý nghĩa của hòa bình. Khát khao hòa bình cộng với biết bao công sức và xương máu lương dân từ thời Chiến Quốc đến triều Minh để xây Trường Thành, vẫn chưa đủ để bảo vệ người Trung Hoa thoát khỏi cảnh chiến chinh. Minh Thành Tổ dời đô từ Nam Kinh đến Yên Kinh để trực tiếp chống chọi "Bắc họa" cũng chẳng xong. Mặc cho Trường Thành cao dài như bất tuyệt, mỗi lần nền quân chủ Trung Hoa đồi bại, giới quí tộc phản trắc nhũng nhiễu là nước mất, nhà tan.

Người chinh nhân trong thơ Vương Hàn là gì nếu không phải những viên gạch tạo nên bức Trường Thành trừu tượng của dân tộc Trung Hoa. Mặc dù là gốc rễ của mọi thành tựu, là tiền phương ngăn cản chiến tranh tạo dựng hòa bình, nhân dân ở đâu cũng cứ đời đời là nạn nhân của mưu toan thế sự mờ ám bất công.

Ngày xuân thanh bình, ngân nga bên xứ hoa ngàn Đà Lạt Vạn Xuân mấy câu Hán Việt Lương Châu từ. Dòng sông mây trắng miên man chảy về đông, hun hút nỗi bất tri sông nước như nỗi lòng của người thơ Vương Hàn.

Nguyên tác Hán văn:

凉州?
王 翰

??美?夜光杯,
欲?琵琶?上催。
?卧沙场君?笑,
古来征战几人回。

Bản dịch của Trần Trọng San:

Rượu bồ - đào, chén dạ quang
Muốn say, đàn đã rền vang giục rồi
Sa trường say ngủ ai cười
Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu

Bản dịch của Trương Thái Du:

Rượu ngon hồng chén dạ quang
Lòng ham, nhạc giục hoang mang tỳ bà
Đừng cười ra trận ta say
Chiến chinh máu chảy xưa nay ai về?

Thung lũng Đa Thiện,
Đà Lạt xuân 2005

link: https://vnexpress.net/ngay-xuan-doc-lai-luong-chau-tu-cua-vuong-han-1973790.html

29/7/25

Mộ giang ngâm

 暮江吟

一道殘陽水中,半江瑟瑟半江紅。
可憐九月初三夜,露似珍珠月似弓。

白居易

Chú giải

-          暮江: Hoàng hôn trên sông. “Mộ” () nghĩa là chiều tà, hoàng hôn.

-          : Ngâm vịnh. Nằm ở nhan đề thường để nhấn mạnh sự suy ngẫm hoặc cảm xúc dạt dào của thi nhân khi sáng tác.

-          一道 (nhất đạo): Một dải, một đường, một vệt.

-          殞陽 (tàn dương): Mặt trời lặn, hoàng hôn.

-          (phô): Trải ra, bày ra. Từ này diễn tả cách ánh nắng lan tỏa, phủ lên mặt nước như một tấm lụa, tạo cảm giác mềm mại, sống động.

-          水中 (thủy trung): Trong nước, trên mặt nước.

-          瑟瑟 (sắt sắt): Vốn là tên một loại đá quý có màu xanh biếc. Ở đây dùng gợi tả màu xanh của nước sông ở phần không bị ánh nắng chiếu.

-          可憐 (khả lân): 可愛, tính từ cảm thán: thật đáng yêu, đẹp làm sao.

-          九月初三 (cửu nguyệt sơ tam): Mồng ba tháng chín. Đầu mùa thu, trăng lưỡi liềm.

-          珍珠 (trân châu): Ngọc trai.


Âm


Nhất đạo tà dương phô thủy trung

Bán giang sắt sắt bán giang hồng.

Khả liên cửu nguyệt sơ tam dạ,

Lộ tự trân châu nguyệt tự cung.


Tạm dịch 

 Một dải nắng tà trải mặt sông,

Nửa dòng biêng biếc nửa dòng hồng.

Đêm ba tháng chín sao mà đẹp,

Sương tựa trân châu trăng tựa cung


Giản thể

一道残阳铺水中 ,半江瑟瑟半江红 。

可怜九月初三夜⑷,露似真珠月似弓




Bạch Cư Dị 白居易(772 - 846)tự Lạc Thiên, một trong những nhà thơ nởi tiếng nhất thời Đường.Ông là tác giả của Tì bà hành, Trường hận ca ..

Bài tuyệt cú trên đây cũng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông, được đánh giá là tuyệt phẩm về thơ tả cảnh xưa nay.
Bài thơ được cho là Bạch Cư Dị sáng tác khi đang trên đường đến Hàng Châu nhậm chức Thứ sử. Trước đó, chán nản vì những đấu tranh gay gắt giữa các phe phái trong triều, ông đã chủ động xin ra làm quan địa phương. Trên hành trình rời kinh thành, trong tâm trạng nhẹ nhõm, một hôm ông dừng chân bên dòng Dương Tử. Giữa khung cảnh thanh bình của buổi chiều tà trên sông, nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ, đồng thời kín đáo gửi gắm tâm tình của mình.

21/4/25

Tầm tư bách kế bất như nhàn

 KHIỂN HỨNG

Hàn Dũ

遊城南十六首 - 遣興
斷送一生惟有酒,尋思百計不如閑。
莫憂世事兼身事,須著人間比夢間。
韓愈                 

Âm

Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu, Tầm tư bách kế bất như nhàn.
Mạc ưu thế sự kiêm thân sự, Tu trước nhân gian tỉ mộng gian.


Nghĩa.

Để gởi gắm một đời chỉ có rượu,
Trăm điều suy tính chẳng bằng nhàn.
Chớ lo chuyện đời, chuyện mình,
Nên xem cõi đời tựa như giấc mộng.

Hai câu đầu thể hiện tình yêu của nhà thơ với rượu, xem rượu là nguồn vui, là tri kỷ. Hai câu sau khuyên con người đừng lo lắng về mọi việc, cần buông xả, xem chuyện nhân thế như giấc mộng.
Bài thơ mang giọng điệu khá chán chường, bày tỏ nỗi cô đơn sâu lắng của một người đã từng yêu lắm cuộc đời, mạnh mẽ dấn thân để cố làm nó tốt đẹp hơn.

Tạm dịch.

Sống ở trên đời duy có rượu,

Tính toan trăm kế chẳng như nhàn.

Chuyện nhà chuyện thế đừng lo nữa,

Xem cõi đời như giấc mộng hoang.

Chú:

-          遊城南十六首: 16 bài thơ viết khi đi chơi phía nam thành. Đây là nhưng bài thơ ông viết khi về già, trở lại Tuyên Thành, nơi ông sống thời niên thiếu. Khiển hứng 遣興 là một trong 16 bài ấy. 遣興 khiển hứng: hứng lên làm giải khuây.

-          斷送 đoạn tống: ở đây mang nghĩa tiêu pha, gửi gắm, phó mặc, khác với nghĩa “hủy hoại” trong tiếng Hán hiện đại. 一生 nhất sinh: một đời, một kiếp.

-          尋思 tầm tư: suy xét.  tầm: tìm.  tư: suy nghĩ. 百計 bách kế: trăm điều tính toán.
 nhàn: nghĩa gốc là hàng rào. Ở đây dùng như  nhàn = thong dong vô sự, yên ổn.

-          莫憂 mạc ưu: chớ lo. 世事 thế sự: chuyện đời. 身事 thân sự: chuyện mình, chuyện bản thân.

-          須著 tu trước: nên đem, nên xem. “Tu” là nên; “trước”, trợ từ, thường được dùng để nhấn mạnh hoặc biểu thị hành động "đem", "lấy", hoặc "xem như". 人間 cõi đời.

Tác giả

韓愈 Hàn Dũ (768 - 824), là nhà thơ thời Trung Đường. Cha mẹ mất lúc mới 2 tuổi, ở với anh trai. Thông minh học giỏi, đỗ tiến sĩ, từng làm quan đến chức thị lang bộ Lại, nhưng cũng từng bị biếm trích do dám can ngăn vua. Một lần dâng sớ can ngăn Hiến Tông “đón xá lợi Phật vào cung” qua bài Luận Phật cốt biểu, khiến “long nhan nổi giận”, suýt bị kết án tử. Nhờ triều thần ra sức cầu xin, ông mới thoát chết, nhưng bị giáng chức làm Thứ sử một châu. Ít lâu sau, ông lại dâng sớ yêu cầu giảm thuế cho vùng bị thiên tai, bị gièm pha, lại bị giáng chức làm tri huyện một huyện hẻo lánh.

Ông nổi tiếng với chủ trương Văn dĩ tải đạo. Ở nước ta thời nhà Trần, Nguyễn Thuyên viết bài văn tế để đuổi cá sấu ở sông Hồng, trừ hại cho dân là học theo ông, được vua Trần Nhân Tông khen ngợi, cho đổi họ thành Hàn Thuyên.

Cao Bá Quát trích dẫn

Hai câu đầu của bài thơ này từng được Cao Bá Quát mượn dùng trong bài hát nói "Uống rượu tiêu sầu", tuy nhiên các bản tiếng Việt (Tuyển tập thơ ca trù, Văn học, 1987; trang web wikisource; thivien . net v.v.) đều chép "trầm tư bách kế" (沉思  thay vì 尋思 tầm tư). Không biết do người sau chép lại sai, hay do Cao Bá Quát cố ý sửa đổi. (沉思 như thâm tư 深思suy nghĩ sâu sắc).

Giản thể

断送一生惟有酒,
寻思百计不如闲。
莫忧世事兼身事,
须著人间比梦间。

 

21/2/25

Há Giang lăng - tảo phát Bạch Đế thành

 

下江陵-早發白帝城
朝辭白帝彩雲間

千里江陵一日還
兩岸猿聲啼不住
輕舟已過萬重山
李白                                     

Chú.

-          下江陵 há Giang Lăng. động từ, đọc là há: đi xuống. 江陵 Giang Lăng: địa danh, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc bên Tàu. 早發 tảo phát: sớm lên đường (đi đâu). tảo, phó từ: sớm. phát: lên đường, khởi hành. 白帝城 Bạch Đế thành: tên một thành cổ, nay ở trên núi Bạch Đế, Trùng Khánh.

-          triêu: buổi sáng. từ: chia tay. 白帝 Bạch Đế: tức Bạch Đế thành. 彩雲間 thải vân gian: giữa mây trời rực rỡ. 彩雲 thải vân: mây ngũ sắc, mây rực rỡ. gian: ở giữa, trong khoảng. Thành Bạch Đế ở trên núi cao, nên từ dưới sông nhìn lên, thấy như thành nằm giữa mây.

-          千里 thiên lí: ngàn dặm, chỉ khoảng cách xa. Từ thành Bạch Đế đến Giang Lăng (nay là Kinh Châu, Hà Bắc) ước khoảng 1200 dặm, trong đó gồm cả Tam Hiệp chừng 700 dặm. 一日 nhất nhật: một ngày. hoàn: về tới.

-          兩岸 lưỡng ngạn: hai bên bờ sông. 猿聲 viên thanh: tiếng vượn. đề: kêu. 不住 bất trú: không ngừng. trú: ở lại, dừng lại. Bản khác: “” tận.

-          輕舟 khinh chu: thuyền nhẹ. 已過 dĩ quá: đã đi qua. 萬重山 vạn trùng san: núi non trùng điệp.

Bài thơ miêu tả cảnh Lý Bạch rời Bạch Đế thành vào lúc sáng sớm, xuôi dòng sông về Giang Lăng. Với tốc độ nhanh như chớp, thuyền của ông đã vượt qua ngàn dặm và muôn trùng núi non chỉ trong một ngày. Tiếng vượn kêu vang hai bên bờ sông, tạo nên một khung cảnh vừa hùng vĩ vừa lãng mạn. Bài thơ thể hiện tâm trạng phấn chấn, tự do và tình yêu thiên nhiên của tác giả.

Giản thể

朝辞白帝彩云间,千里江陵一日还。
两岸猿声啼不住,轻舟已过万重山

Âm

Triêu từ Bạch Đế thải vân gian, Thiên lí Giang Lăng nhất nhật hoàn.
Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trú, Khinh chu dĩ quá vạn trùng san.

Nghĩa. Xuống Giang Lăng - Sớm rời thành Bạch Đế.

Sáng sớm từ thành Bạch đế trong làn mây rực rỡ, đường đi Giang Lăng khoảng ngàn dăm chỉ nội một ngày là đến. Hai bên bờ vượn kêu không dứt, Chiếc thuyền nhẹ bất giác đã vượt qua bao núi non trùng điệp.

Tạm dịch

Sớm rời Bạch Đế giữa ngàn mây,

Ngàn dặm Giang Lăng mất một ngày.

Vượn hú hai bờ không dứt tiếng,

Thuyền con nhẹ vượt núi non dày.

15/2/25

Thu phố ca 14

 秋浦歌其十四 

爐火照天地,
紅星亂紫煙。

赧郎明月夜,
歌曲動寒川。

李白

Chú

-          秋浦 Thu Phố, địa danh, nay ở Tây Nam huyện Quý Trì, tỉnh An Huy, bên Tàu

-          ca: bài hát, khúc ca. Trong văn học cổ điển Tàu, "" thường dùng để chỉ một thể loại thơ ca, có thể là ngũ ngôn, thất ngôn, hoặc các hình thức khác, thường mang tính trữ tình và có thể hát được. Nội dung của "" thường ca ngợi con người, cảnh vật, hoặc thể hiện cảm xúc cá nhân. Ví dụ điển hình là các bài thơ như "秋浦歌" của Lý Bạch hay Trường hận ca của Bạch Cư Dị.

-          其十四  kì thập tứ: kì 14. Đây là bài thứ 14 trong chùm thơ gồm 17 bài của Lí Bạch viết khi ông đến chơi Thu Phố.

-          爐火 lô hỏa: lửa trong lò. 照天地 chiếu thiên địa: chiếu sáng trời đất.

-          紅星 hồng tinh: đốm lửa đỏ, ở đây chỉ những đốm lửa bay ra từ lò rèn. tinh: sao, ở đây có nghĩa là đốm sáng. 亂紫煙 loạn tử yên: xen lẫn trong khói tím. loạn: lộn xộn, trộn lẫn. tử: tím. yên: khói.

-          赧郎 noãn lang: chàng trai mặt đỏ hồng. noãn: thẹn đỏ mặt, vốn dùng chỉ đỏ mặt khi ngượng ngùng, ở đây chàng trai đỏ mặt có thể do ngọn lửa. 明月夜 minh nguyệt dạ: đêm trăng sáng. minh: sáng. nguyệt: trăng. dạ: đêm.

-          歌曲 ca khúc: bài hát. 動寒川 động hàn xuyên: Làm rung động dòng sông lạnh (ý chỉ tiếng hát vang vọng khắp nơi). động: rung động, lay động. hàn: lạnh. xuyên: sông.


Bài thơ tả cảnh lò rèn về đêm ở Thu Phố, ánh lửa bập bùng chiếu sáng trời đất, những đốm lửa bắn tung tóe như ngôi sao trong khói tía. Mặt chàng trai thợ rèn bên lò lửa mặt đỏ hồng trong đêm trăng sáng, anh chàng cất tiếng ca làm rung động cả dòng sông lạnh.

Bài thơ này từng được đưa vào giảng dạy ở chương trình TH VN

Lí Bạch (701 - 762) tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, lại có hiệu “Trích tiên nhân” (vị tiên bị đày) là nhà thơ lãng mạn thời Thịnh Đường, được đời sau tôn xưng là “Thi tiên”, cùng với Thi thánh Đỗ Phủ được gọi chung là “Lí Đỗ”.

Giản thể

炉火照天地,红星乱紫烟。赧郎明月夜,歌曲动寒川

Âm

Lô hỏa chiếu thiên địa, Hồng tinh loạn tử yên.
Noãn lang minh nguyệt dạ, Ca khúc động hàn xuyên.

Tạm dịch

Lò lửa sáng trời đất,
Sao hồng tung tóe bay.
Dưới trăng chàng đỏ mặt,
Tiếng hát rung sông dài.


10/2/25

Hồi hương ngẫu thư 1

 

回鄉偶書其一.

少小離家老大回
鄉音無改鬢毛衰
兒童相見不相識
笑問客從何處來

賀知章                               

Chú

-          回鄉 hồi hương: về quê ( hồi: trở về. hương: làng. Ở đây chỉ quê tác giả).

-          偶書 ngẫu thư: bài thơ hứng bất chợt mà viết. ( ngẫu = ngẫu nhiên, bất chợt. thư = viết).

-          首一 kì nhất: Bài 1. Đây là bài đầu trong chùm hai bài thất ngôn tứ tuyệt.

-          少小 thiếu tiểu: khi còn trẻ ( thiếu: ít, trẻ. tiểu: nhỏ).

-          離家 li gia: rời xa nhà ( li: rời xa. gia: nhà).

-          老大 lão đại: khi đã già ( lão: già. đại: lớn).

-          hồi: trở về.

-          鄉音 hương âm: giọng quê ( hương: quê hương. âm: giọng nói, âm thanh).

-          無改 vô cải: không thay đổi ( vô: không. cải: thay đổi).

-          鬢毛 mấn mao: tóc mai tóc mai ( mấn: tóc mai. mao: lông, tóc).

-          suy = lụn bại, ở đây có nghĩa bạc, rụng, xơ xác. ở đây đọc thôi hay tồi mới hợp vần. Bản khác dùng chữ tồi: bẻ gãy, làm thương tổn.

-          兒童 nhi đồng: trẻ con ( nhi: trẻ nhỏ. đồng: con nít).

-          相見 tương kiền: gặp mặt ( tương: cùng nhau. kiến: gặp).

-          不相識 bất tương thức: không biết nhau ( bất: không. tương: lẫn nhau. thức: nhận biết).

-          笑問 tiếu vấn: cười hỏi ( tiếu: cười. vấn: hỏi). Bản khác卻問” khước vấn: bèn hỏi, “借問” tá vấn: xin hỏi.

-          khách: khách lạ.

-          從何處來 tòng hà xứ lai: từ đâu đến ( tòng: từ. hà: nào, gì. xứ: nơi, chỗ. lai: đến).

賀知章 Hạ Tri Chương là nhà thơ Thịnh Đường thời kì đầu, cũng là nhà thư pháp nổi tiếng, tác phẩm phần lớn đã thất lạc, nay chỉ còn lưu lại 20 bài.

《回鄉偶書二首》 là chùm hai bài thất ngôn tứ tuyệt được sáng tác khi ông từ quan trở về quê nhà lúc đã già.

Đây là bài thứ nhất, ghi lại cảm xúc của nhà thơ khi vừa bước chân về quê. Rời nhà đi từ lúc còn tuổi trẻ, tóc còn xanh; nay trở về thì dù giọng quê không đổi, nhưng da đã mồi tóc đã bạc. Những đứa trẻ gặp tưởng khách lạ, cười hỏi là khách từ đâu đến.

Bài thơ sử dụng ngôn ngữ mộc mạc tự nhiên, nhẹ nhàng kể lại sự việc, nghe như hờ hững mà chất chứa bao nỗi niềm. Nao nức mong ước trở về quê sống nốt cuộc đời còn lại, nhưng không biết rồi đây, ông có tìm lại được cảm giác thân quen cũ. Hay lại thấy lạc lõng bơ vơ trên chính quê hương mình.

Âm

Thiếu tiểu li gia lão đại hồi,
Hương âm vô cải mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến bất tương thức,
Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.

Tạm dịch:

Tuổi trẻ ra đi, lão trở về,

Tóc râu xơ xác giọng còn quê.

Trẻ con gặp mặt nhìn không biết,

Cười hỏi khách mô tới rứa tê.