Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ chữ Hán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ chữ Hán. Hiển thị tất cả bài đăng

18/7/26

MINH NHẬT HOÀNG HOA

 

相逢不用忙歸去,
明日黃花蝶也愁。
蘇軾
Tương phùng bất dụng mang quy khứ,
Minh nhật hoàng hoa điệp dã sầu.
Tô Thức
Tạm dịch
Gặp nhau chớ vội quay về đấy,
Mai cúc tàn phai bướm cũng buồn.



5/12/25

Cúng dường

 Tuệ Sỹ


供養

奉此獄囚飯

供養最勝尊

世間長血恨

秉缽淚無言

慧士

Chú

供養 cung dưỡng: cúng dường.

奉 phụng: dâng, cung kính trao cho. 獄囚飯 ngục tù phạn: bữa cơm tù

最勝尊 Tối Thắng Tôn: tiếng tôn xưng đức Phật. 

長 trường: lâu dài, dai dẳng. 

血恨 huyết hận: chỉ sự thù hận sâu đến mức máu đổ đầu rơi.

秉缽 bỉnh bát: cầm chén, bưng bát. 淚無言 lệ vô ngôn: nước mắt chảy mà không nói chi.

慧士 Tuệ Sỹ (1943 - 2013), tu sĩ, Đệ lục Tăng Thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Trước 1975, là giảng viên ĐH Vạn Hạnh. Đã công bố nhiều tác phẩm chuyên khảo, dịch thuật kinh điển có giá trị. 

Năm 1978 ông bị tù cải tạo ba năm. Năm 1984 lại bị bắt và bị kết án tử hình, sau đó do vận động quốc tế, được giảm án xuống thành tù chung thân, rồi được thả năm 1998.

Trong thời gian bị tù, ông có làm một số bài thơ chữ Hán, sau thu thập lại một số cho in thành tập thơ Ngục trung mị ngữ. Bài trên đây trích từ tập thơ ấy.

.

Giản thể

供养

奉此狱囚饭

供养最胜尊

世间长血恨

秉钵泪无言

.

Âm

Cung dưỡng 

Phụng thử ngục tù phạn,

Cúng dường Tối Thắng Tôn.

Thế gian trường huyết hận,

Bỉnh bát lệ vô ngôn.

.

Nghĩa. Cúng dường

Xin dâng bữa cơm tù này, 

Cúng dường đức Tối Thắng Tôn.

Thế gian đang chìm trong hận thù máu lửa dài lâu,

Bưng bình bát chảy nước mắt không nói nên lời.

.

Tạm dịch.

Dâng bữa cơm tù ngục,

Cúng dường đức Thế Tôn

Đời chìm trong lửa hận,

Bưng bát lệ thầm tuôn.



Nguồn hình: https://thuvienhoasen.org/images/file/A8VOC1WO3AgQAMRg/nguc-trung-mi-ngu-tue-sy.pdf


30/9/25

Độ Tang càn

渡桑乾

客舍並州已十霜,

歸心日夜憶咸陽。

無端更渡桑乾水,

卻望並州是故鄉。

Âm Hán Việt

Khách xá Tịnh Châu dĩ thập sương,

Quy tâm nhật dạ ức Hàm Dương

Vô đoan cánh độ Tang Càn thủy,

Khước vọng Tịnh Châu thị cố hương

Chú giải

桑乾 Tang Càn: tên sông. Nay là thượng lưu sông Vĩnh Định. Tương truyền mỗi năm khi dâu chín thì nước sông cạn khô, nên có tên như vậy. 

客 Khách xá: ở làm khách. 舍 vốn có nghĩa là quán trọ, ở đây dùng như động từ, có nghĩa là ở trọ. 客 trong cụm từ này là danh từ làm trạng ngữ chỉ cách thức cho động từ 舍

並州 (danh từ riêng): Tịnh Châu

已十霜 dĩ thập sương: đã mười sương, ở đây có nghĩa là đã 10 năm

歸心 quy tâm: lòng muốn về nhà

咸陽 Hàm Dương: quê nhà tác giả. Nay ở Thiểm Tây, xưa là kinh đô nhà Tần. 

無端 vô đoan: nghĩa ban đầu là không có điểm khởi đầu hoặc không có điểm kết thúc, mở rộng ra chỉ vô cớ, không lý do gì cả. 

更渡 cánh độ: lại lần nữa đi qua

桑乾水 Tang Càn thủy: sông Tang Càn. 水 ở đây có nghĩa là sông

卻望 khước vọng: quay đầu nhìn lại.

Nhan đề: Có bản ghi nhan đề là 旅次朔方 Lữ Thứ Sóc Phương: Trọ lại ở Sóc Phương

Tác giả: đa số các nhà chú giải cho rằng bài thơ này là tác phẩm của Giả Đảo, nhà thơ nổi tiếng "thôi xao" thời Trung Đường. Nhưng một số tác giả cho rằng bài thơ này là của nhà thơ Lưu Táo sống vào thời Thịnh Đường. 

Giản thể

渡桑干

客舍并州已十霜,

归心日夜忆咸阳。

无端更渡桑干水,

却望并州是故乡。

Nghĩa

Làm khách trọ ở Tịnh Châu đã mười năm

Lòng quê ngày đêm nhớ về Hàm Dương

Không dưng lại qua sông Tang Càn

Quay nhìn Tịnh Châu thấy nay đã là quê hương

Tạm dịch

Đất khách mười năm nương tấm thân,

Lòng quê hôm sớm mãi tơ vương.

Không dưng một sớm thuyền rời bến,

Đất khách quay nhìn hóa cố hương.

*

Đọc bài thơ, nhớ câu thơ của Chế Lan Viên

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở. 

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn

24/8/25

Đăng Quán Tước lâu

Vương Chi Hoán

登鸛雀樓

白日依山盡,

黃河入海流。

欲窮千里目,

更上一層樓。

王之渙

Chú giải

Chú giải

• Nhan đề. 鸛雀樓 (Quán Tước lâu): Tên cổ là 鸛鵲樓 (Quán Thước lâu), do thường có chim quán thước đậu trên lầu nên mang tên này. Vị trí cũ của lầu nằm bên bờ sông Hoàng Hà, phía tây nam ngoại thành Phổ Châu cổ (nay thuộc địa phận thành phố Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc).

- 鸛鵲 (Quán thước): Tên loài chim, mỏ thẳng và dài, lông màu xám trắng, sống ở ven sông hồ đầm lầy, bắt cá, tôm làm thức ăn.

• 1. 白日依山盡 Bạch nhật y sơn tận: mặt trời nương theo núi biến mất

- 白日: mặt trời. 

- 依: dựa vào, men theo. 

- 盡: hết, cạn, biến mất

• 2. 黃河入海流 Hoàng Hà nhập hải lưu: Sông Hoàng Hà chảy vào biển

- 黃河: Sông Hoàng Hà, con sông lớn nhất bên Tàu. 

- 入海 vào biển, hướng vào biển. 

- 流 chảy.

• 3. 欲窮千里目 Dục cùng thiên lí mục: Muốn nhìn tận ngàn dặm 

- 欲 muốn (trợ động từ năng nguyện) 

- 窮 tận, hết. 

- 千里目 tầm mắt nhìn ngàn dặm, ám chỉ tầm nhìn bao quát mọi cảnh vật xa xôi.

• 4. 更上一層樓 Cánh thượng nhất tằng lâu: Lại lên thêm một tầng nữa. 

- 更 phó từ: lại, lần nữa. 

- 上 (đọc: thướng): leo lên. 

- 一層樓: một tầng lầu.


Bài thơ này có hai câu thể hiện thái độ sống tích cực, cực kì nổi tiếng, vẫn thường xuyên được trích dẫn.


Tác giả bài thơ là Vương Chi Hoán (688-742), tự Quý Lăng, là người Tấn Dương (nay là Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây), nhà thơ biên tái nổi tiếng thời Thịnh Đường. 


Giản thể

白日依山尽,黄河入海流。欲穷千里目,更上一层楼。


Tạm dịch

Trời đỏ men non lặn, 

Sông vàng hướng biển trôi. 

Muốn nhìn xa vạn dặm, 

Lên tiếp một tầng coi.


15/8/25

Tiểu trì

小池

泉眼無聲惜細流,
樹陰照水愛晴柔。
小荷才露尖尖角,
早有蜻蜓立上頭。
楊萬里

Chú giải
Câu 1: 泉眼無聲惜細流 Tuyền nhãn vô thanh tích tế lưu
• 泉眼 (tuyền nhãn): mắt suối, nguồn suối nhỏ, lỗ nhỏ nơi nước suối chảy ra.
• 無聲 (vô thanh): không tiếng, im lặng
• 惜 (tích): tiếc, yêu thương, trân trọng
• 細流 (tế lưu): dòng nước nhỏ.
Nghĩa: Mắt suối im lặng như tiếc thương dòng nước nhỏ

Câu 2: 樹陰照水愛晴柔 Thụ âm chiếu thủy ái tình nhu

• 樹陰 (thụ âm): bóng cây. Cũng viết là 「樹蔭」.
• 照水 (chiếu thủy): soi xuống mặt nước
• 愛 (ái): yêu thích
• 晴柔 (tình nhu): ánh nắng êm dịu. 晴 tình: trời trong, tạnh ráo, quang đãng
Nghĩa: Bóng cây soi xuống nước như yêu mến ánh nắng êm dịu

Câu 3: 小荷才露尖尖角 Tiểu hà tài lộ tiêm tiêm giác

• 小荷 (tiểu hà): lá sen nhỏ. Chữ "tiểu" cũng thường được người Tàu thêm vào đầu tên gọi, mang nghĩa "bé": Tiểu Hà, Tiểu Vương v.v.
• 才 (tài): vừa mới
• 露 (lộ): lộ ra, nhô lên
• 尖尖角 (tiêm tiêm giác): đầu nhọn (của lá sen non). Lá sen non vừa nhú lên khỏi mặt nước, còn cuộn lại, có hình dáng nhọn như sừng nhọn.
Nghĩa: Lá sen nhỏ vừa mới nhô đầu nhọn

Câu 4: 早有蜻蜓立上頭

• 早 (tảo): đã, sớm
• 蜻蜓 (thanh đình): chuồn chuồn
• 立 (lập): đậu, đứng
• 上頭 (thượng đầu): trên đầu, trên ngọn
Nghĩa: Đã sớm có chuồn chuồn đậu trên ngọn.

Bài thơ được dạy trong chương trình Lớp 1 ở Hoa lục.
Tác giả Dương Vạn Lí, nhà thơ đồng thời là nhà ái quốc nổi tiếng thời Nam Tống. Ông cùng với Du Mậu, Phạm Thành Đại, và Lục Du được gọi là “Bốn đại thi nhân phục hưng” của Nam Tống.
Ông từng sáng tác hơn hai vạn bài thơ, hiện còn lưu lại hơn bốn ngàn bài, là nhà thơ có số lượng tác phẩm nhiều nhất trong lịch sử văn học Tàu. Thơ ông mới lạ, dí dỏm, ngôn ngữ tự nhiên sinh động, khéo léo và đầy sức sống, hình thành một phong cách riêng gọi là “Thành Trai thể” (Thành Trai là tên hiệu của ông)

Tạm dịch
Mắt suối lặng thương dòng nước nhỏ,
Bóng cây in nước mến trời êm.
Nhỏ sen vừa nhú sừng nhòn nhọn,
Một chú chuồn liền khẽ đậu lên.



29/7/25

Mộ giang ngâm

 暮江吟

一道殘陽鋪水中,半江瑟瑟半江紅。
可憐九月初三夜,露似珍珠月似弓。

白居易

Chú giải

-          暮江: Hoàng hôn trên sông. “Mộ” (暮) nghĩa là chiều tà, hoàng hôn.

-          吟: Ngâm vịnh. Nằm ở nhan đề thường để nhấn mạnh sự suy ngẫm hoặc cảm xúc dạt dào của thi nhân khi sáng tác.

-          一道 (nhất đạo): Một dải, một đường, một vệt.

-          殞陽 (tàn dương): Mặt trời lặn, hoàng hôn.

-          鋪 (phô): Trải ra, bày ra. Từ này diễn tả cách ánh nắng lan tỏa, phủ lên mặt nước như một tấm lụa, tạo cảm giác mềm mại, sống động.

-          水中 (thủy trung): Trong nước, trên mặt nước.

-          瑟瑟 (sắt sắt): Vốn là tên một loại đá quý có màu xanh biếc. Ở đây dùng gợi tả màu xanh của nước sông ở phần không bị ánh nắng chiếu.

-          可憐 (khả lân): 可愛, tính từ cảm thán: thật đáng yêu, đẹp làm sao.

-          九月初三 (cửu nguyệt sơ tam): Mồng ba tháng chín. Đầu mùa thu, trăng lưỡi liềm.

-          珍珠 (trân châu): Ngọc trai.


Âm


Nhất đạo tà dương phô thủy trung

Bán giang sắt sắt bán giang hồng.

Khả liên cửu nguyệt sơ tam dạ,

Lộ tự trân châu nguyệt tự cung.


Tạm dịch 

 Một dải nắng tà trải mặt sông,

Nửa dòng biêng biếc nửa dòng hồng.

Đêm ba tháng chín sao mà đẹp,

Sương tựa trân châu trăng tựa cung


Giản thể

一道残阳铺水中 ,半江瑟瑟半江红 。

可怜九月初三夜⑷,露似真珠月似弓。




Bạch Cư Dị 白居易(772 - 846)tự Lạc Thiên, một trong những nhà thơ nởi tiếng nhất thời Đường.Ông là tác giả của Tì bà hành, Trường hận ca ..

Bài tuyệt cú trên đây cũng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông, được đánh giá là tuyệt phẩm về thơ tả cảnh xưa nay.
Bài thơ được cho là Bạch Cư Dị sáng tác khi đang trên đường đến Hàng Châu nhậm chức Thứ sử. Trước đó, chán nản vì những đấu tranh gay gắt giữa các phe phái trong triều, ông đã chủ động xin ra làm quan địa phương. Trên hành trình rời kinh thành, trong tâm trạng nhẹ nhõm, một hôm ông dừng chân bên dòng Dương Tử. Giữa khung cảnh thanh bình của buổi chiều tà trên sông, nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ, đồng thời kín đáo gửi gắm tâm tình của mình.

5/6/25

Lâm hình thi

臨刑詩 

街鼓侵人急,西傾日欲斜。
黃泉無旅店,今夜宿誰家?
江爲

Âm

Nhai cổ xâm nhân cấp,

Tây khuynh nhật dục tà.

Hoàng tuyền vô lữ điếm,

Kim dạ túc thuỳ gia?

Nghĩa

Tiếng trống ngoài đường dồn dập bên tai, mặt trời ngả về tây, sắp lặn. Nơi suối vàng không có quán trọ, đêm nay không biết ở nhà ai.

Tạm dịch.

Tiếng trống dồn bên tai,

Mặt trời đã xế tây.

Suối vàng không quán trọ,

Tối ngủ nhà ai đây?.

Chú

+        街鼓 Trống đặt dọc đường phố, đánh lên khi chớm tối, nghiêm cấm người đi lại ban đêm, đánh cầm canh đến sáng đánh báo hết giờ giới nghiêm.

+        侵人急 xâm nhân cấp: Dồn ép người ta gấp gáp

+        西傾 Tây khuynh: (mặt trời) xế về Tây.

+        日欲斜 nhật dục tà: mặt trời sắp lặn.

+        黃泉 hoàng tuyền: suối vàng

+        無旅店 vô lữ điếm: không có quán trọ.

+        今夜 kim dạ

+        宿誰家? túc thùy gia: trọ nhà ai.

Giang Vi 江爲 năm sinh và mất không rõ, sống vào khoảng năm 950, đời Lục triều. Nghe tin nước Nam Đường mở khoa thi, ông đến thi mấy lần nhưng không đậu. Vua Nam Đường nhân viếng chùa Bạch Lộc, đọc thơ ông viết trên vách, khen hay. Nhưng không có ai tiến cử, nên ông phẫn chí. Ông sang nước Ngô Việt mưu sự phản nghịch. Việc không thành, ông bị tử hình.

Giản thể

街鼓侵人急,西倾日欲斜。黄泉无旅店,今夜宿谁家? 

1/6/25

Lá rụng. Khổng Thiệu An

 

落葉 
早秋驚落葉,飄零似客心。
翻飛未肯下,猶言惜故林。
孔紹安                   

Âm

Tảo thu kinh lạc diệp, Phiêu linh tự khách tâm. Phiên phi vị khẳng há, Do ngôn tích cố lâm.

Nghĩa. Lá rụng

Thu đến sớm làm những chiếc lá kinh sợ chao đảo như lòng người đang phiêu bạc đất khách. (Những chiếc lá) Cứ bay vật vờ chưa muốn rụng xuống, dường như muốn nói là không rời bỏ được chốn rừng xưa.

Tạm dịch. 

Sớm thu kinh lá rụng

Chênh chao lòng khách xa.

Vật vờ không muốn xuống,

Như luyến lưu rừng già.

Chú

驚落葉 kinh lạc diệp: làm những chiếc lá sợ hãi, rụng xuống.

飄零 phiêu linh: chao đảo.

客心 khách tâm: tấm lòng người phiêu bạc xa quê.

猶言 do ngôn: dường như đang nói. 猶 do: giống như. (猶 do, nghĩa gốc là con do, một con vật nhút nhát, đa nghi)

惜 tích: tiếc, không bỏ được.

孔紹安 Khổng Thiệu An (577-622), nhà thơ sống vào đời Tùy, cháu 33 đời của Khổng tử.

Giản thể

早秋惊落叶,飘零似客心。翻飞未肯下,犹言惜故林。

29/5/25

Thất bộ thi

 

七步詩
煮豆燃豆萁,豆在釜中泣。
本是同根生,相煎何太急?
曹植


Âm Thất bộ thi

Chử đậu nhiên đậu ki, đậu tại phủ trung khấp.
Bản thị đồng căn sinh, tương tiên hà thái cấp?

Nghĩa: Bài thơ làm trong bảy bước.
Lấy thân đậu nấu hạt đậu , đậu trong nồi khóc.
Vốn là cùng một gốc sinh ra, sao lại vội vàng hại nhau vậy?

Tạm dịch
Nấu đậu dùng thân đậu,
Đậu trong nồi khóc đau.
Vốn sinh cùng một gốc,
Sao vội nỡ thiêu nhau?

Chú

·         煮豆 (chử đậu): Nấu đậu.

·         燃豆萁 (nhiên đậu ki): Đốt thân đậu – dùng thân khô của cây đậu làm củi đun.

·         豆 (đậu): Hạt đậu.

·         釜 (phủ): Cái nồi.

·         泣 (khấp): Khóc.

·         同根生 (đồng căn sanh): Cùng gốc sinh ra – chỉ anh em ruột thịt (Tào Thực và Tào Phi cùng cha là Tào Tháo).

·         相煎 (tương tiên): Cùng nấu/ép nhau. 煎 tiên: sắc, nấu cô lại.

·         何太急 (hà thái cấp): Sao quá gấp?.


Bài thơ được cho là của Tào Thực, lưu truyền cùng với giai thoại.

Sau khi Tào Tháo qua đời, Tào Phi lên kế vị và nghi ngờ em trai Tào Thực có âm mưu tranh quyền. Tào Phi tìm cách trừ khử Tào Thực nhưng sợ mang tiếng bất nhân, bèn nghĩ ra cách ép Tào Thực làm một bài thơ trong vòng bảy bước chân, với chủ đề "anh em" nhưng không được nhắc đến hai chữ "anh em", nếu không sẽ bị xử tử.

Bài thơ Tào Thực làm trong bảy bước, người đời sau gọi là Thất bộ thi七步詩. Hiện có hai bản lưu truyền. Bản trên đây chép trong truyện Tam quốc diễn nghĩa có 4 câu. Một bản khác có 6 câu.

Bài thơ Tào Thực làm trong bảy bước, người đời sau gọi là Thất bộ thi七步詩. Hiện có hai bản lưu truyền. Bản trên đây chép trong truyện Tam quốc diễn nghĩa có 4 câu. Một bản khác có 6 câu.

Giản.

煮豆燃豆萁,豆在釜中泣。本是同根生,相煎何太急?

26/5/25

Vô đề. Gia Cát Lượng

 

無題 
大夢誰先覺,平生我自知。
草堂春睡足,窗外日遲遲。
諸葛亮  

Âm

Đại mộng thùy tiên giác, Bình sanh ngã tự tri.
Thảo đường xuân thụy túc, Song ngoại nhật trì trì.

Nghĩa.

Giấc mộng lớn này, ai là người tỉnh giấc trước?
Trong cuộc sống ta luôn tự biết mình.

Trong gian nhà cỏ ngủ đẫy giấc xuân,
Bên ngoài song cửa, ngày tháng trôi chậm chậm.

Tạm dịch

Mộng lớn ai tỉnh trước?

Ở đời ta biết ta.

Lều tranh xuân đẫy giấc,

Ngoài cửa tháng ngày qua.

Chú

-      ·  大夢: đại mộng = giấc mơ lớn, ám chỉ cuộc đời phù sinh như mộng

·  誰: thùy = ai, người nào

·  先覺: tiên giác = tỉnh thức trước, giác ngộ trước.

·  平生: bình sanh = suốt đời, cả cuộc đời

·  我: ngã = ta

·  自知: tự tri = tự biết, tự hiểu

·  草堂: thảo đường = túp lều tranh, nhà đơn sơ

·  春睡: xuân thụy = giấc ngủ mùa xuân

·  足: túc = đủ, thỏa mãn

·  窗外: song ngoại = ngoài cửa sổ

·  日: nhật = mặt trời, ánh nắng

·  遲遲: trì trì = chậm rãi, chậm rì rì.

諸葛亮: Gia Cát Lượng, nhân vật lịch sử sống vào thời Tam quốc bên Tàu. Bài thơ lấy từ tác phẩm Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, được gán cho nhân vật Gia Cát Lượng, bấy giờ đang ẩn cư ở Long Trung, sáng tác để bày tỏ tâm chí của mình.

Giản thể

无题 大梦谁先觉,平生我自知。草堂春睡足,窗外日迟迟。

24/5/25

Sơn trung hà sở hữu

山中何所有,嶺上多白雲。

只可自怡悅,不堪持寄君。

陶弘景

Âm

Sơn trung hà sở hữu,

Lĩnh thượng đa bạch vân.

Chỉ khả tự di duyệt,

Bất kham trì ký quân.

Tạm dịch

Trong núi có gì đây?

Trời nhiều mây trắng bay.

Tiếc mình riêng đứng ngắm

Chẳng thể gởi cho ai/ngài.

Chú:

+        山中: trong núi

+        何所有: có cái gì

+        嶺上 (lĩnh thượng): trên đỉnh núi

+        多 (đa): nhiều

+        白雲 (bạch vân): mây trắng

+        只可 (chỉ khả): chỉ có thể

+        自 (tự): tự mình

+        怡悅 (di duyệt): vui thích, hài lòng

+        不堪 (bất kham): không thể, không đáng

+        持 (trì): cầm, mang

+        寄 (ký): gửi

+        君 (quân): ngài (chỉ hoàng đế)

陶弘景 Đào Hoằng Cảnh  (457-536), nhà đạo học, y học và văn học nổi tiếng thời Nam Bắc triều, từng từ chối làm quan để ẩn cư tu đạo.

22/5/25

Đề Liêu trai chí dị

 題聊齋誌異

姑妄言之姑聽之,
豆棚瓜架雨如絲 。
料應厭作人間語,
愛聽秋墳鬼唱詩。
王士禎
.
Âm:
Cô vọng ngôn chi cô thính chi,
Đậu bằng qua giá vũ như ti.
Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ,
Ái thính thu phần quỷ xuớng thi.
.
Nghĩa:
Cứ nói khoác cho vui, nghe khoác cho vui,
Ngoài giàn đậu giàn dưa, mưa rơi như tơ.
Hẳn là chán ghét lời lẽ người đời,
Thích nghe ma ngâm thơ bên mộ thu.
.
Tạm dịch.
Nói giỡn mà chơi nghe giỡn chơi.
Dàn dưa lất phất sợi mưa rơi.
Người đời nói chuyện nghe đà chán,
Nghe quỷ mồ thu vịnh mấy lời.
.
Chú
Vương Sĩ Trinh, sinh năm Giáp Tuất 1634 (lớn hơn Bồ Tùng Linh 6 tuổi), đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng thư bộ Hình, khá có danh tiếng về chính sự. Thành tựu chủ yếu của ông là ở phương diện sáng tác thơ văn và lí luận.
Ông rất thích bộ Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, có viết bài luận về tác phầm này. Bài thơ trên đây nằm cuối bài luận ấy.
.
- 姑妄言之. 姑 cô, danh từ là cô trong cô gái, bà cô, nhưng ở đây là phó từ, có nghĩa là “thử làm điều gì đó một cách tạm thời”). 妄 vọng, phó từ: càn, bừa, xằng, không có căn cứ. 言 nói. 之 chi, ở đây là đại từ làm tân ngữ, chỉ những câu truyện ma quái trong tác phẩm Liêu trai chí dị). 姑妄言之: "Cứ tạm nói ra mà thôi", hoặc "Nói đại, nói lăng nhăng cho vui", không nhất thiết đúng – người nghe cũng đừng quá bận tâm". [*]
- 豆棚瓜架 đậu bằng qua giá: giàn đậu, giàn dưa.
- 料應 liệu ưng, phó từ: đoán rằng, khả năng rất cao là, hẳn là. (料 v: dự đoán, liệu rằng. 應 adv: nên, đáng lẽ, chắc là.). 厭作 yếm tác: ghét làm (việc gì)
- 秋墳 thu phần: nấm mộ (dưới trời) thu. 唱詩 xướng thi: ngâm thơ.
---
[*] Cụm từ「姑妄言之」 từng được Trang Tử dùng trong Tề Vật Luận: 予嘗為女妄言之,女以妄聽之。(Ta từng nói bừa với ngươi, ngươi cũng hãy nghe bừa vậy. ). Ý khuyên người nghe không nên quá xét nét những câu chuyện huyền hoặc ông kể, mà hãy tìm những gì ẩn sau câu chuyện.
Tô Thức khi bị giáng chức đến Hoàng Châu, vì nơi đó hẻo lánh, không có việc gì làm, mỗi ngày trò chuyện với mọi người, không từ chối ai. Khi đã hết chuyện để nói, ông yêu cầu họ kể những chuyện kỳ lạ hoặc ma quái. Đến khi cả những câu chuyện đó cũng kể hết, Tô Thức vẫn nhiều lần nài nỉ: "cô vọng ngôn chi". Ý là muốn họ nói bất cứ điều gì cũng được. Nghe cho đỡ buồn. https://dict.idioms.moe.edu.tw/idiomView.jsp?ID=959&la=0...