26/8/23

Ngộ cố nhân

 遇故人

無心事出誤人多
今日相看苦自嗟
笑情多流冷淚
雙眸春盡現形花
此生願作乾兄妹
再世應圖巽室家
我不負人人負我
縱然如此奈之何
黎有晫

Âm

Ngộ cố nhân
Vô tâm sự xuất ngộ nhân đa
Kim nhật tương khan khổ tự ta.
Nhất tiếu tình đa lưu lãnh lệ,
Song mâu xuân tận kiến hình hoa.
Thử sinh nguyện tác can huynh muội,
Tái thế ứng đồ tốn thất gia.
Ngã bất phụ nhân nhân phụ ngã,
Túng nhiên như thử nại chi hà?
Lê Hữu Trác

Nghĩa: Gặp lại người xưa.
Vô tâm mà làm ra chuyện hại người,
Hôm nay thăm hỏi mới thấy ra nguồn gốc của nỗi khổ kia.
Một nụ cười với bao tình cảm, nước mắt lặng lẽ chảy,
Đôi mắt đã lòa, hết còn tươi tắn.
Kiếp này nguyện làm anh em kết nghĩa,
Kiếp sau xin sẽ thành vợ chồng.
Ta không phụ người mà người phụ ta, 
Dù là như thế thì biết làm sao đây?

Tạm dịch

Vô tâm làm chuyện hại người ta,
Nay gặp nhau rồi mới biết ra.
Cười gượng rưng rưng hàng lệ ứa,
Nhìn trân mờ mịt bóng ai nhòa.
Đời này kết nghĩa anh em vậy,
Kiếp tới xe duyên sống một nhà.
Ta chẳng phụ người người lại phụ,
Dẫu là như thế biết sao a.

Chú.

Lê Hữu Trác 黎有晫 (1721-1791) hiệu Hải Thượng Lãn Ông, một danh y Việt Nam vào cuối đời Hậu Lê. Ông còn là văn gia có tài, tập Thượng kinh kí sự, kể lại những  điều mắt thấy tai nghe trong thời gian hơn một năm ở lại kinh chữa bệnh cho thế tử con chúa Trịnh Sâm được đánh giá cao cả về nghệ thuật lẫn tư liệu lịch sử.

Trong Thượng Kinh Kí sự, tác giả có kể lại gốc tích bài thơ: Một hôm có hai sư cô đã lớn tuổi đến chỗ ông trọ xin khuyến hóa đúc chuông. Nói chuyện một lúc, hóa ra một vị là người con gái xưa ông từng được cha mẹ dạm hỏi, nhưng sau đó vì lí do riêng, ông bỏ về quê ngoại sống. Cô gái kia đã nhận lễ hỏi, tự coi như đã có chồng, nên khi ông bỏ đi thì cũng đi tu. Sau cuộc gặp ông làm bài thơ này.




24/8/23

Dữ Cao Xá hữu nhân biệt hậu

與高舍友人別後 

相逢亂後老相催,
繾綣離情酒數杯

夜靜雲庵誰是伴,
一窗明月照寒梅

阮秉謙

Âm. Dữ Cao Xá hữu nhân biệt hậu

Tương phùng loạn hậu lão tương thôi,
Khiển quyển li tình tửu sổ bôi.
Dạ tĩnh Vân Am thuỳ thị bạn,
Nhất song minh nguyệt chiếu hàn mai.

Nghĩa. Gửi bạn ở Cao Xá sau khi từ biệt

Gặp lại nhau sau cơn loạn li thì đều đã già
Tình cảm quyến luyến lúc chia tay nên uống vài chén rượu.
Đêm thanh vắng ở Am Mây nào ai làm bạn
Ngoài cửa sổ ánh trăng chiếu sáng gốc mai.

Tạm dịch.

Gặp lại nhìn nhau tuổi đã già.
Cạn li bịn rịn lúc chia xa.
Am Mây đêm vắng nào ai bạn,
Bên cửa gốc mai bóng nguyệt tà.

Chú.

阮秉謙Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), hiệu là Bạch Vân am cư sĩ (白雲庵居士), người Trung Am, Hải Dương nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đỗ trạng nguyên làm quan dưới triều nhà Mạc, được phong tước Trình Quốc Công nên dân gian quen gọi Trạng Trình.

Làm quan được vài năm, xin về trí sĩ. Ông nổi tiếng về sấm kí. Thơ văn ông để lại khá nhiều, vừa chữ Hán vừa chữ Nôm.




Hồ trường



Liêm Mai
Hồ Trường là tựa một bài thơ nhiều người đọc và yêu mến. Thậm chí một số giáo sư Việt văn đã đọc hay ngâm bài thơ này trong các lớp văn chương bậc trung học ở miền Nam trước 1975. Cuốn Việt Nam Văn học sử Giản ước Tân biên của Phạm Thế Ngũ in năm 1965 tại Sài Gòn cũng có ghi lại bài thơ này. Điều đáng tiếc là ít người biết rõ về nguồn gốc bài thơ. Nguyễn Bá Trác là dịch giả hay tác giả? Tựa bài Hồ Trường là một từ Việt hay Hán Việt? Hồ Trường nghĩa là gi? Đáng tiếc hơn nữa là cho đến tận ngày nay, bài thơ được chép lại tam sao thất bản, nguồn này khác nguồn kia và ít có nguồn nào thật đúng, kể cả từ các nghệ sĩ ngâm bài thơ này. Bài viết này cố gắng giải đáp các thắc mắc này.
Trước hết xin nói về nguồn gốc. Bài thơ này xuất hiện lần đầu trên Nam Phong tạp chí, bản chữ Hán năm 1919, còn bàn Quốc văn năm 1920 do Nguyễn Bá Trác đăng tải. Nguyễn Bá Trác sinh năm 1881 tại Quảng Nam. Ông đậu cử nhân năm 1906, nhưng sau đó quay sang học chữ Pháp, hưởng ứng phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu, sang Nhật năm 1908. Để dập tắt phong trào Dông du, Pháp đã tạo sức ép lên Nhật trục xuất các du học sinh người Việt khỏi đất Nhật. Nguyễn Bá Trác sang Trung Quốc, lưu lạc một thời gian rồi trở về nước, ban đầu chịu sự kiểm soát của nhà cầm quyền Pháp, nhưng sau lại cộng tác với Pháp. Khi Nam Phong Tạp chí xuất bản năm 1917, ông là chủ bút phần Hán văn của tạp chí này, còn Phạm Quỳnh là chủ bút phần Quốc văn. Năm 1932 cùng với Phạm Quỳnh, ông tham chính, chức vụ cuối cùng là Tổng đốc Bình Định. Và cũng như Phạm Quỳnh ông bị Việt Minh giết năm 1945.
Bài thơ nguyên tác chữ Hán, là một phần trong bài Hạn mạn du ký (汗 漫 游 記) đăng nhiều kỳ trên Nam Phong tạp chí phần Hán văn. Hạn 汗 (còn đọc là hãn) nghĩa là mồ hôi, Mạn 漫 nghĩa là đầy. Hạn mạn du ký nghĩa là lời kể lại một chuyến đi gian khổ. Sau đó chính ộng Nguyễn Bá trác dịch và đăng lại trong Nam Phong Tạp chí phần Quốc văn, dịch là “Lời ký của một người đi chơi phiếm”. Trong bài ký nhiều kỳ này, Nguyễn Bá Trác kể lại việc một lần tại Trung Hoa, ông gặp một người Việt đồng hương (Nguyên quân), hợp ý, rủ nhau đi uống rượụ. Nguyên Quân mới cất lời ca bài này, theo giọng Quảng Đông. Một người thứ ba, một võ quan Trung Hoa người Trực Lệ họ Lưu, đang uống rược gần đó, vốn có dịp biết Nguyên quân trước đây ở Tokyo (Đông Kinh nước Nhật) thấy bài ca “nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái” lấy làm lạ, hỏi về bài thơ. Nguyên quân cho biết đây là một điệu đặc biệt ở phương nam (Nam phương ca khúc), mà chính Nguyên quân cũng hông rõ tác giả. Võ quan họ Lưu mới xin Nguyên quân viết bài ca ra.
𝗕𝗮̀𝗶 𝘁𝗵𝗼̛ 𝗻𝗴𝘂𝘆𝗲̂𝗻 𝘁𝗮́𝗰 𝗰𝗵𝘂̛̃ 𝗛𝗮́𝗻
Bài thơ chữ Hán bên dưới được chép lại từ Nam Phong tạp chí, phần Hán văn, số 30, có tham khảo bản chuyển ngữ sang Hán Việt của nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân.
南 方 歌 曲
丈 夫 生 不 能 披 肝 折 檻 爲 世 扶 綱 常
逍 遙 四 海 胡 爲 乎 此 鄕
回 頭 南 望 邈 無 極 兮 天 雲 一 色 徒 蒼 蒼
立 功 不 成 學 不 就 少 壯 有 幾 辰 兮 坐 視 百 年 身 世 驅 陰 陽
撫 掌 狂 歌 問 斯 世 茫 茫 天 地 安 得 知 一 知 己 兮 試 來 對 酌 祐 予 觴.
予 觴 擲 向 東 溟 水 東 溟 之 水 萬 隊 啓 狂 瀾
予 觴 擲 向 西 山 雨 西 山 之 雨 一 陣 何 汪 洋
予 觴 擲 向 北 風 去 北 風 揚 沙 走 石 飛 殊 方
予 觴 擲 向 南 天 霧,霧 中 有 人 開 口 一 飮 蘧 然 醉
天 地 宇 宙 渾 相 忘 予 不 醉 矣 予 行 予 志
男 兒 自 古 事 桑 蓬 何 必 窮 愁 泣 枌 梓
Nam phương ca khúc (Khúc ca phương nam)
1. Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường
Giải nghĩa: Kẻ trượng phu khi sống không vạch gan, bẻ cột lo giềng mối cho đời. Phi can 披 肝 nghĩa là xé gan, vạch gan ra cho đời biết lòng trong của mình. Hạm 檻 (bộ Mộc, 18 nét) là cây cột gỗ dùng làm rường nhà hay rường mái hiên. Chiết Hạm 折 檻 nghĩa là bẻ cột, lấy tích Chu Vân thời Hán Thành Đế dâng sớ hạch tội gian thần. Vua bắt tội, Chu Vân uất ức ghì lại gãy cả rường điện. Nhiều bản Quốc văn bài thơ này lại ghi sai thành Bẻ Cật.
2. Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương
Giải nghĩa: (Sao lại) rong chơi bốn biển, quê hương ở nơi đâu?
3. Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương
Giải nghĩa: Quay đầu nhìn về phía nam xa xôi, mịt mù hề, bầu trời một màu xanh xanh. Chữ Thương 蒼 (bộ Thảo 14 nét) nghĩa là sắc có xanh. Thiều Chửu giảng Thương Thương (蒼 蒼) là trời xanh.
4. Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thần hề, toạ thị bách niên thân thế khu âm dương.
Giải nghĩa: Công không lập thành được, học không xong, trai trẻ còn được bao lâu nữa hề, ngồi nhìn lại thân thế trăm năm chạy theo tháng ngày.
5 Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, thí lai đối hước hữu dư thương.
Giải nghĩa: Vỗ tay mà hát điên cuồng, hỏi đời rằng, đất trời mờ mịt vậy, tìm ở đâu một người tri kỷ, mà đến cùng ta rót chén rượu này. Thương 觴 (bộ Giác 18 nét) nghĩa là chén rượu đã rót đầy.
6. Dư thương trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan.
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy vào nước biển đông, nước biển đông nổi cuộn vạn lớp sóng dữ. Cuồng lạn hay cuồng lan là cơn sóng dữ. Nhiều bản Quốc văn ghi sai thành cuồng loạn.
7. Dư thương trịch hướng tây sơn vũ tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy vào mưa núi tây, núi tây mưa một trận nước lênh láng.
8. Dư thương trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy theo gió bắc, gió bắc tung cát bay đá chạy mọi phương.
9. Dư thương trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy.
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy vào mây mù trời nam, trong mây mù có người há miệng uống say.
10. Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hỉ, dư hành dư chí.
Giải nghĩa: Vũ trụ trời đất đều mất hết, sao ta không say, mà ta làm theo chí ta
11. Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử
Giải nghĩa: Xưa nay nam nhi đều làm theo chí tang bồng, sao ta lại buồn khổ nhớ cố hương. Phần tử 枌 梓 ghép từ chữ Phần Du và Tử Ly, các loại cây chỉ quê cũ, như cây đa của làng quê Việt.
𝗕𝗮̉𝗻 𝗤𝘂𝗼̂́𝗰 𝘃𝗮̆𝗻 (𝗡𝗴𝘂𝘆𝗲̂̃𝗻 𝗕𝗮́ 𝗧𝗿𝗮́𝗰 𝗱𝗶̣𝗰𝗵)
Dưới đây là nguyên văn, kể cả dấu nối và dấn chấm câu từ Nam Phong tạp chí, phần Quốc văn. Bài có chữ Xé, viết sai chánh tả thành Sé, và Thân Thế có lẽ in lầm là Thân Thể, xin giữ nguyên.
Hồ Trường
Trượng-phu không hay sé gan bẻ cột phù cương-thường;
Hà-tất tiêu-dao bốn bể, luân-lạc tha-hương.
Trời nam nghìn dậm thẳm; mây nước một mầu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai-trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân-thể bóng tà-dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang-mang, ai là tri-kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ-trường.
Hồ-trường! Hồ-trường! ta biết rót về đâu?
Rót về đông-phương, nước bể Đông chẩy xiết sinh cuồng-lạn;
Rót về tây-phương, mưa Tây-sơn từng trận chứa-chan;
Rót về bắc-phương, ngọn bắc-phong vì-vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam-phương, trời nam mù-mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay;
Nam-nhi sự-nghiệp ở hồ-thỉ, hà-tất cùng-sầu đối cỏ cây.
𝗞𝗲̂́𝘁 𝗹𝘂𝗮̣̂𝗻
Như vậy, Nguyễn Bá Trác là dịch giả chứ không phải là tác giả. Bài nguyên thuỷ chữ Hán là một bài ca đặc biệt phương nam (vùng Lĩnh Nam), không rõ tác giả. Tựa bài ca chữ Hán (Nam phương ca khúc) hay chữ Việt (Hồ Trường) đều do độc giả sau này đặt ra.
Qua bài thơ chữ Việt thấy chữ hồ trường là chữ Việt, do Nguyễn Bá Trác đặt ra. Trước ông chưa ai dùng mà sau ông cũng chưa ai dùng lại chữ này trong thi ca. Chữ Thương trong nguyên tác chữ Hán thì như đã giải thích bên trên, nghĩa là chén rượu đã rót đầy. Có người giải thích chữ mới Hồ Trường là để chỉ một loại bình rượu (một loại bầu hồ lô, phơi khô khoét ruột làm một thứ bình rượu bình dân). Nhưng tôi cho không phải thế. Các nhà Nho xưa thường giữ nguyên tác, ít khi thay đổi khi không có lý do cần thiết. Ta thường nói cạn chén rượu này hơn là cạn bình rượu này. Điểm độc đáo ở đây là từ chữ Thương 觴 (gốc Hán, cũng đọc là tràng hay trường), phát âm theo tiếng Quảng Đông là soeng) ông đã kết hợp với chữ Hồ (chữ Hồ 壺 cũng có gốc Hán, nghĩa là hồ rượu), tạo một hình ảnh lãng tử với hồ lô rượu trên vai.
Tôi có dịp nói chuyện với nhà phê bình văn học Đặng Tiến. Ông cũng đồng ý với tôi về cách hiểu chữ Hồ Trường là chén uống rượu. Ông cho biết thêm là ông có dịp nói chuyện với con cháu của Nguyễn Bá Trác, và họ cũng có cùng ý như thế. Vậy xin ghi lại như một nén hương muộn cho nhà phê bình Đặng Tiến, qua đời hơn ba tháng trước.
Tham khảo trong phần bình luận bên dưới.
Liêm
(08/2023)
Ghi chú:
Bản Quốc văn bài thơ được chép lại theo cách viết ngày nay: chỉnh lỗi chánh tả (Xé vs sé) chỉnh lỗi đánh máy (Thân thế vs Thân thể, bản tiếng Hán ghi Bách niên thân thế khu âm dương) và bỏ đâu gạch nối (miền Nam bỏ dần từ thập niên 60s, ngoài Bắc có lẽ trước đó)
Hồ Trường
Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường;
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương.
Trời nam nghìn dặm thẳm; mây nước một mầu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ-trường.
Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu?
Rót về đông phương, nước bể Đông chẩy xiết sinh cuồng lạn;
Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan;
Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay;
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

*
Hồ Trường qua giọng ngâm của Tôn Nữ Lê Ba