7/5/26
Đưa em tìm động hoa vàng
Một bài thơ khác của Phạm Thiên Thư được Phạm Duy phổ nhạc trước đây một đứa bạn thân rất thích, thường lẩm nhẩm hát một mình khi hai đứa lang thang trên phố những hôm trời mưa lất phất: Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng. Nghe Duy Quang hát
24/8/23
Hồ trường
Liêm Mai
Hồ Trường là tựa một bài thơ nhiều người đọc và yêu mến. Thậm chí một số giáo sư Việt văn đã đọc hay ngâm bài thơ này trong các lớp văn chương bậc trung học ở miền Nam trước 1975. Cuốn Việt Nam Văn học sử Giản ước Tân biên của Phạm Thế Ngũ in năm 1965 tại Sài Gòn cũng có ghi lại bài thơ này. Điều đáng tiếc là ít người biết rõ về nguồn gốc bài thơ. Nguyễn Bá Trác là dịch giả hay tác giả? Tựa bài Hồ Trường là một từ Việt hay Hán Việt? Hồ Trường nghĩa là gi? Đáng tiếc hơn nữa là cho đến tận ngày nay, bài thơ được chép lại tam sao thất bản, nguồn này khác nguồn kia và ít có nguồn nào thật đúng, kể cả từ các nghệ sĩ ngâm bài thơ này. Bài viết này cố gắng giải đáp các thắc mắc này.
Trước hết xin nói về nguồn gốc. Bài thơ này xuất hiện lần đầu trên Nam Phong tạp chí, bản chữ Hán năm 1919, còn bàn Quốc văn năm 1920 do Nguyễn Bá Trác đăng tải. Nguyễn Bá Trác sinh năm 1881 tại Quảng Nam. Ông đậu cử nhân năm 1906, nhưng sau đó quay sang học chữ Pháp, hưởng ứng phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu, sang Nhật năm 1908. Để dập tắt phong trào Dông du, Pháp đã tạo sức ép lên Nhật trục xuất các du học sinh người Việt khỏi đất Nhật. Nguyễn Bá Trác sang Trung Quốc, lưu lạc một thời gian rồi trở về nước, ban đầu chịu sự kiểm soát của nhà cầm quyền Pháp, nhưng sau lại cộng tác với Pháp. Khi Nam Phong Tạp chí xuất bản năm 1917, ông là chủ bút phần Hán văn của tạp chí này, còn Phạm Quỳnh là chủ bút phần Quốc văn. Năm 1932 cùng với Phạm Quỳnh, ông tham chính, chức vụ cuối cùng là Tổng đốc Bình Định. Và cũng như Phạm Quỳnh ông bị Việt Minh giết năm 1945.
Bài thơ nguyên tác chữ Hán, là một phần trong bài Hạn mạn du ký (汗 漫 游 記) đăng nhiều kỳ trên Nam Phong tạp chí phần Hán văn. Hạn 汗 (còn đọc là hãn) nghĩa là mồ hôi, Mạn 漫 nghĩa là đầy. Hạn mạn du ký nghĩa là lời kể lại một chuyến đi gian khổ. Sau đó chính ộng Nguyễn Bá trác dịch và đăng lại trong Nam Phong Tạp chí phần Quốc văn, dịch là “Lời ký của một người đi chơi phiếm”. Trong bài ký nhiều kỳ này, Nguyễn Bá Trác kể lại việc một lần tại Trung Hoa, ông gặp một người Việt đồng hương (Nguyên quân), hợp ý, rủ nhau đi uống rượụ. Nguyên Quân mới cất lời ca bài này, theo giọng Quảng Đông. Một người thứ ba, một võ quan Trung Hoa người Trực Lệ họ Lưu, đang uống rược gần đó, vốn có dịp biết Nguyên quân trước đây ở Tokyo (Đông Kinh nước Nhật) thấy bài ca “nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái” lấy làm lạ, hỏi về bài thơ. Nguyên quân cho biết đây là một điệu đặc biệt ở phương nam (Nam phương ca khúc), mà chính Nguyên quân cũng hông rõ tác giả. Võ quan họ Lưu mới xin Nguyên quân viết bài ca ra.
𝗕𝗮̀𝗶 𝘁𝗵𝗼̛ 𝗻𝗴𝘂𝘆𝗲̂𝗻 𝘁𝗮́𝗰 𝗰𝗵𝘂̛̃ 𝗛𝗮́𝗻
Bài thơ chữ Hán bên dưới được chép lại từ Nam Phong tạp chí, phần Hán văn, số 30, có tham khảo bản chuyển ngữ sang Hán Việt của nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân.
南 方 歌 曲
丈 夫 生 不 能 披 肝 折 檻 爲 世 扶 綱 常
逍 遙 四 海 胡 爲 乎 此 鄕
回 頭 南 望 邈 無 極 兮 天 雲 一 色 徒 蒼 蒼
立 功 不 成 學 不 就 少 壯 有 幾 辰 兮 坐 視 百 年 身 世 驅 陰 陽
撫 掌 狂 歌 問 斯 世 茫 茫 天 地 安 得 知 一 知 己 兮 試 來 對 酌 祐 予 觴.
予 觴 擲 向 東 溟 水 東 溟 之 水 萬 隊 啓 狂 瀾
予 觴 擲 向 西 山 雨 西 山 之 雨 一 陣 何 汪 洋
予 觴 擲 向 北 風 去 北 風 揚 沙 走 石 飛 殊 方
予 觴 擲 向 南 天 霧,霧 中 有 人 開 口 一 飮 蘧 然 醉
天 地 宇 宙 渾 相 忘 予 不 醉 矣 予 行 予 志
男 兒 自 古 事 桑 蓬 何 必 窮 愁 泣 枌 梓
Nam phương ca khúc (Khúc ca phương nam)
1. Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường
Giải nghĩa: Kẻ trượng phu khi sống không vạch gan, bẻ cột lo giềng mối cho đời. Phi can 披 肝 nghĩa là xé gan, vạch gan ra cho đời biết lòng trong của mình. Hạm 檻 (bộ Mộc, 18 nét) là cây cột gỗ dùng làm rường nhà hay rường mái hiên. Chiết Hạm 折 檻 nghĩa là bẻ cột, lấy tích Chu Vân thời Hán Thành Đế dâng sớ hạch tội gian thần. Vua bắt tội, Chu Vân uất ức ghì lại gãy cả rường điện. Nhiều bản Quốc văn bài thơ này lại ghi sai thành Bẻ Cật.
2. Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương
Giải nghĩa: (Sao lại) rong chơi bốn biển, quê hương ở nơi đâu?
3. Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương
Giải nghĩa: Quay đầu nhìn về phía nam xa xôi, mịt mù hề, bầu trời một màu xanh xanh. Chữ Thương 蒼 (bộ Thảo 14 nét) nghĩa là sắc có xanh. Thiều Chửu giảng Thương Thương (蒼 蒼) là trời xanh.
4. Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thần hề, toạ thị bách niên thân thế khu âm dương.
Giải nghĩa: Công không lập thành được, học không xong, trai trẻ còn được bao lâu nữa hề, ngồi nhìn lại thân thế trăm năm chạy theo tháng ngày.
5 Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, thí lai đối hước hữu dư thương.
Giải nghĩa: Vỗ tay mà hát điên cuồng, hỏi đời rằng, đất trời mờ mịt vậy, tìm ở đâu một người tri kỷ, mà đến cùng ta rót chén rượu này. Thương 觴 (bộ Giác 18 nét) nghĩa là chén rượu đã rót đầy.
6. Dư thương trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan.
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy vào nước biển đông, nước biển đông nổi cuộn vạn lớp sóng dữ. Cuồng lạn hay cuồng lan là cơn sóng dữ. Nhiều bản Quốc văn ghi sai thành cuồng loạn.
7. Dư thương trịch hướng tây sơn vũ tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy vào mưa núi tây, núi tây mưa một trận nước lênh láng.
8. Dư thương trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy theo gió bắc, gió bắc tung cát bay đá chạy mọi phương.
9. Dư thương trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy.
Giải nghĩa: Ta ném chén rượu đầy vào mây mù trời nam, trong mây mù có người há miệng uống say.
10. Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hỉ, dư hành dư chí.
Giải nghĩa: Vũ trụ trời đất đều mất hết, sao ta không say, mà ta làm theo chí ta
11. Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử
Giải nghĩa: Xưa nay nam nhi đều làm theo chí tang bồng, sao ta lại buồn khổ nhớ cố hương. Phần tử 枌 梓 ghép từ chữ Phần Du và Tử Ly, các loại cây chỉ quê cũ, như cây đa của làng quê Việt.
𝗕𝗮̉𝗻 𝗤𝘂𝗼̂́𝗰 𝘃𝗮̆𝗻 (𝗡𝗴𝘂𝘆𝗲̂̃𝗻 𝗕𝗮́ 𝗧𝗿𝗮́𝗰 𝗱𝗶̣𝗰𝗵)
Dưới đây là nguyên văn, kể cả dấu nối và dấn chấm câu từ Nam Phong tạp chí, phần Quốc văn. Bài có chữ Xé, viết sai chánh tả thành Sé, và Thân Thế có lẽ in lầm là Thân Thể, xin giữ nguyên.
Hồ Trường
Trượng-phu không hay sé gan bẻ cột phù cương-thường;
Hà-tất tiêu-dao bốn bể, luân-lạc tha-hương.
Trời nam nghìn dậm thẳm; mây nước một mầu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai-trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân-thể bóng tà-dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang-mang, ai là tri-kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ-trường.
Hồ-trường! Hồ-trường! ta biết rót về đâu?
Rót về đông-phương, nước bể Đông chẩy xiết sinh cuồng-lạn;
Rót về tây-phương, mưa Tây-sơn từng trận chứa-chan;
Rót về bắc-phương, ngọn bắc-phong vì-vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam-phương, trời nam mù-mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay;
Nam-nhi sự-nghiệp ở hồ-thỉ, hà-tất cùng-sầu đối cỏ cây.
𝗞𝗲̂́𝘁 𝗹𝘂𝗮̣̂𝗻
Như vậy, Nguyễn Bá Trác là dịch giả chứ không phải là tác giả. Bài nguyên thuỷ chữ Hán là một bài ca đặc biệt phương nam (vùng Lĩnh Nam), không rõ tác giả. Tựa bài ca chữ Hán (Nam phương ca khúc) hay chữ Việt (Hồ Trường) đều do độc giả sau này đặt ra.
Qua bài thơ chữ Việt thấy chữ hồ trường là chữ Việt, do Nguyễn Bá Trác đặt ra. Trước ông chưa ai dùng mà sau ông cũng chưa ai dùng lại chữ này trong thi ca. Chữ Thương trong nguyên tác chữ Hán thì như đã giải thích bên trên, nghĩa là chén rượu đã rót đầy. Có người giải thích chữ mới Hồ Trường là để chỉ một loại bình rượu (một loại bầu hồ lô, phơi khô khoét ruột làm một thứ bình rượu bình dân). Nhưng tôi cho không phải thế. Các nhà Nho xưa thường giữ nguyên tác, ít khi thay đổi khi không có lý do cần thiết. Ta thường nói cạn chén rượu này hơn là cạn bình rượu này. Điểm độc đáo ở đây là từ chữ Thương 觴 (gốc Hán, cũng đọc là tràng hay trường), phát âm theo tiếng Quảng Đông là soeng) ông đã kết hợp với chữ Hồ (chữ Hồ 壺 cũng có gốc Hán, nghĩa là hồ rượu), tạo một hình ảnh lãng tử với hồ lô rượu trên vai.
Tôi có dịp nói chuyện với nhà phê bình văn học Đặng Tiến. Ông cũng đồng ý với tôi về cách hiểu chữ Hồ Trường là chén uống rượu. Ông cho biết thêm là ông có dịp nói chuyện với con cháu của Nguyễn Bá Trác, và họ cũng có cùng ý như thế. Vậy xin ghi lại như một nén hương muộn cho nhà phê bình Đặng Tiến, qua đời hơn ba tháng trước.
Tham khảo trong phần bình luận bên dưới.
Liêm
(08/2023)
Ghi chú:
Bản Quốc văn bài thơ được chép lại theo cách viết ngày nay: chỉnh lỗi chánh tả (Xé vs sé) chỉnh lỗi đánh máy (Thân thế vs Thân thể, bản tiếng Hán ghi Bách niên thân thế khu âm dương) và bỏ đâu gạch nối (miền Nam bỏ dần từ thập niên 60s, ngoài Bắc có lẽ trước đó)
Hồ Trường
Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường;
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương.
Trời nam nghìn dặm thẳm; mây nước một mầu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ-trường.
Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu?
Rót về đông phương, nước bể Đông chẩy xiết sinh cuồng lạn;
Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan;
Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay;
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.
22/3/23
Chương trình radio
Mấy chục năm nay không nghe radio, và cả TV. Tình cờ hôm nay gặp trên mạng một chtr tiếng Thơ trên VOV6.
Trong trang này có thể tìm được nhiều chtr khác. Rảnh sẽ tìm nghe.
http://vov6.vov.vn/tieng-tho/mua-xuan-trong-tho-viet-c39-36046.aspx
26/10/22
Ngâm thơ Nguyễn Bính
00:00:00 1. Tiếng Thơ Đêm Khuya Đài Tiếng Nói Việt Nam Dễ Ngủ Nhất VOV
8/4/22
Lanterns Hanging On the Wind: Poetry and Music from Vietnam
Chương trình này rất đặc biệt với tôi bởi các bài thơ được trình bày hết sức truyền cảm bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Phần tiếng Việt được đọc bởi chính các tác giả (Tuyết Nga, Nguyễn Quang Thiều, Bùi Hoàng Tám, Trần Quang Quý, Giang Nam, Ngô Tự Lập, Nguyễn Bảo Chân). Riêng với tác phẩm của hai cố nhà thơ Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh, người trình bày tác phẩm là tiến sĩ Lưu Khánh Thơ, em gái của nhà thơ Lưu Quang Vũ.
Bản dịch tiếng Anh được đọc bởi nhà thơ Jennifer Fossenbell, người đã cùng tôi dịch rất nhiều thơ ca Việt Nam, người đã từng sống ở Hà Nội nhiều năm và xem Việt Nam như quê hương thứ hai của mình.
Các bài thơ được phát sóng cùng các bài dân ca Việt Nam, với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Hoàng Anh Tú, Nguyễn Thế Dân, Đoàn Minh Tuấn, Hồng Lê, Thu Hà, Ngọc Hoàn. Hai ca sĩ Thu Minh và Thanh Nhàn cũng đóng góp cho chương trình bài hát Thuyền và biển (nhạc Phan Huỳnh Điểu, thơ Xuân Quỳnh) và Tiếng Việt (nhạc Nguyễn Lê Tâm, thơ Lưu Quang Vũ). Tất cả các nghệ sĩ đều tham gia chương trình một cách tình nguyện, không nhận thù lao.
Xin cám ơn các dịch giả, nghệ sĩ, nhà thơ đã đóng góp công sức cho chương trình. Tôi rất mong chúng ta sẽ cùng đồng tâm hiệp lực thực hiện nhiều chương trình như thế này để đưa văn học Việt Nam đến với bạn đọc quốc tế.
Sau đây là các bài thơ đã được trình bày trong chương trình (theo trình tự xuất hiện):
MẮT (Thơ Tuyết Nga, bản dịch của Nguyễn Phan Quế Mai & Jennifer Fossenbell)
TIẾNG VIỆT (Thơ Lưu Quang Vũ, bản dịch của Nguyễn Phan Quế Mai & Jennifer Fossenbell)
THUYỀN VÀ BIỂN (Thơ Xuân Quỳnh, bản dịch của Nguyễn Phan Quế Mai & Jennifer Fossenbell
SÔNG ĐÁY (Thơ Nguyễn Quang Thiều, bản dịch của Nguyễn Phan Quế Mai & Jennifer Fossenbell)
LỜI THỀ MÙA ĐÔNG (Thơ Bùi Hoàng Tám, bản dịch của Thiếu Khanh, Nguyễn Phan Quế Mai, & Kwame Dawes)
CÁNH ĐỒNG (Thơ Trần Quang Quý, bản dịch của Nguyễn Phan Quế Mai & Jennifer Fossenbell )
QUÊ HƯƠNG (Thơ Giang Nam, bản dịch của Nguyễn Phan Quế Mai & Jennifer Fossenbell)
VIÊN ĐẠN BẮN VÀO ĐÊM ĐEN (Thơ Ngô Tự Lập, bản dịch của Martha Collins & Ngô Tự Lập)
NHỮNG BÔNG HOA KHÔNG MÀU (Thơ Nguyễn Bảo Chân, bản dịch của tác giả Nguyễn Bảo Chân)
12/8/20
Ly tao
Ly tao, thơ Bùi Giáng qua giọng ngâm Tôn Nữ Lệ Ba
Ly tao
Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ
Và yêu thương như lá ở bên hoa
Và luyến ái như tơ vàng bốn ngả
Bủa vi vu như thoáng mộng la đà
Em đã lại với đời về nắng ấm
Thắm không gian thương nhớ bóng hình em
Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm
Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm
Anh mơ ước với ngàn xuân mở rộng
Quên não nùng sa mạc của yêu thương
Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động
Em là em anh đợi khắp nẻo đường
Em có nụ cười buồn buồn môi mọng
Em có làn mi khép lá cây rung
Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng
Hồ gương ơi! sao sóng lục vô chừng!
Con mắt ấy có gieo buồn rớt lệ
Trên nẻo đường lạnh lẽo lối lang thang
Môi thắm ấy mấy lần thao thức kể
Với đèn khuya vò võ mộng khôn hàn
Trời đất nhớ lần đầu... năm trước...
Đó một lần đôi mắt đã nhìn lên
Và trời hiểu ngày sau đôi mắt ngước
Một lần kia sẽ còn dịp đáp đền
Em ở lại với đời ta em nhé
Em đừng đi. Cho ta nắm tay em
Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ
Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm
Ta sẽ đặt mười ngón tay lên mắt
Để nhìn em qua khe hở du dương
Vòng theo máu hai vòng tay khép chặt
Ồ thưa em ta thấy mộng không thường
Nguồn: Bùi Giáng, Mưa nguồn, NXB Hội nhà văn, 1993.
(cop lại từ thiviên.net)
26/4/19
Thắp tạ
Một mai nàng lên núi chan chứa,
Hỏi tìm cho gặp đá tiên tri...
Về sau, đời có ra sao nữa,
Cũng đã đành tâm sẵn một bề.
Ðá, chẳng đá nào lên tiếng với...
Nàng đi thôi đã nát chân hồng,
Nghe con vượn ẩn thân khóc hối
Một lần bỏ lỡ chuyến lìa non.
Một mai nàng vô rừng u ẩn.
Nhặt trái nưa về nhuộm dạ sầu,
Thấy trăm họ cỏ cây chen quấn,
Nương náu nhau mà tội nợ nhau.
Con loan, con phượng bay đâu lạc,
Ðến nỗi nào, sao chẳng gọi bầy?
Nếu như hoa biết chiều nay rụng,
AÂu cũng vui mà nở sáng nay.
Một mai nàng qua cầu cam mặc,
Mưa nắng gì thôi cũng một thì.
Rau hạnh, rau vi từ lúc có,
Chưa từng nguôi biếc bãi Kinh Thi.
Cửa đẩy lầm, vô lường cuộc diện...
Ba ngàn thế giới đã nhà chưa?
Lâu ngày, thân thế rách như gió,
Thấy lại mình như kẻ đáng ngờ.
Một mai nàng đến thành hoa gấm.
Hát một chiều, tiền thưởng ngập chân.
Vui nốn náo trời, thốc tháo biển...
Một lần, thử đổi bỏ chân thân.
Gà nửa khuya gáy xộ trăng muộn.
Ai hồ nghi lộn kiếp bên này?
Con chó khóc tru ngoài địa giới,
Ngờ ngợ người góc biển chân mây.
Một mai nàng ra bãi vô định,
Nhìn sông đổi lòng, nhìn núi chuyển chân.
Mây bay bay như những vẫy biệt...
Nàng đứng cho tàn như một nén nhang
Thắp tạ càn khôn một vô ích,
Thắp tạ nhân quần một luyến thương.
Biển Ðông, đã một ngày xe cát...
Khuất giạt, mơ lai kiếp dã tràng.
1998
Thiếu phụ. Tranh Lương Xuân Nhị
26/3/19
Duyên tình con gái Bắc
9/3/19
Mộng dưới hoa . Phạm Đình Chương
Hôm trước đã có dịp nghe Bảo Cường ngâm bài thơ Tự Tình Dưới Hoa của Đinh Hùng. Hôm nay mời nghe Hồng Vân ngâm lại bài thơ theo điệu hò Huế
Tự tình dưới hoa - Hồng Vân ngâm
Tự Tình Dưới Hoa
![]() |
| I' ll wait for you. tranh Volegov (2013) |
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng,
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,
Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng.
Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,
Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?
Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,
Nửa như hoài vọng, nửa như say.
Em đến như mây, chẳng đợi kỳ,
Hương ngàn gió núi động hàng mi.
Tâm tư khép mở đôi tà áo,
Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi.
Em muốn đôi ta mộng chốn nào?
Ước nguyền đã có gác trăng sao
Truyện tâm tình: dưới hoa thiên lý,
Còn lối bâng khuâng: Ngõ trúc đào
Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,
Nắng trong hoa với gió bên hồ
Dành riêng em đấy. Khi tình tự,
Ta sẽ đi về những cảnh xưa
Rồi buổi ưu sầu, em với tôi
Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời
Vai kề một mái thơ phong nguyệt
Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười
*
Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng với anh chị em trong nhà Phạm Đình Viêm, Thái Hằng, Thái Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV, rồi lập ban hợp ca Thăng Long. trong đó Phạm Đình Chương vừa viết nhạc, vừa là ca sĩ với nghệ danh Hoài Bắc, còn Phạm Đình Viêm là Hoài Trung. Năm 1951, ông cùng ban Thăng Long chuyển vào Saigon. Sau 1975 ông qua định cư ở Mỹ, mất năm 1991.
Phạm Đình Chương sáng tác không nhiều, khoảng chưa tới 100 bản nhạc, nhưng có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng: Tiếng dân chài, Hội trùng dương, Ly rượu mừng, .. đặc biệt ông được coi là một trong vài nhạc sĩ có biệt tài phổ nhạc cho thơ Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê) ...
Năm 1991, ngay sau khi ông mất, Thụy Khuê đã thực hiện một chương trình tưởng niệm trên đài RFI. Mời nghe
Phần 1 (1/9/1991)
Phần 2 (8/9/1991)
nguồn audio: thuykhue.free.fr
Chú: Trước có cuốn Đường Vào Tình Sử của ĐH, giờ thất lạc nên ko check lại tên bài thơ là Suôi dòng mộng ảo hay Xuôi .. Nhớ là Suôi (sic). Trên mạng thì có cả hai.
23/12/18
Góa Phụ
Góa phụ
Con chim nhào chết khô trên cửa,
Cửa đóng muôn ngàn năm bặt âm,
Như đạo bùa thiêng yểm cổ mộ.
Sao người khai giải chưa về thăm?
Em chạy tìm anh ngoài cõi gió,
Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn,
Tiếng kêu đá lở long thiên cổ,
Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn.
Em độc thoại lời kinh ánh xanh,
Trăng lu, khuya mỏi, nén nhang tàn.
Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa.
Mái ngói nghiêng triền, trái rụng lăn.
Ngọn đèn hư ảo chong linh vị,
Thắp trắng thời gian mái tóc em.
Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh.
Hồn xa con đóm lạc sâu đêm.
Cỏ cây sống chết há ta thán.
Em khóc hoài chi lẽ diệt sinh?
Thảng như con ngựa già vô dụng
Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình.
1972
tranh Lương Xuân Nhị
17/11/18
Ði về
Khuya rồi, nước đã đầy trăng,
Ði về suốt bãi sông Hằng, gặp ai?
Lạnh trời, đâu lửa hơ tay?
Ðêm còn, cứ bãi sông này lại đi.
Thấy gì chăng, chẳng thấy gì.
Nước rào, trăng rạt, ta thì mỏi mê...
Chầy khuya, nước ủ, trăng ê,
Uổng công, bãi ấy đi về một ta.
Mãi rồi, trời cũng sáng ra,
Phần trăng, trăng lặn, phần ta, ta về.
Vẫn sông, vẫn bãi bốn bề,
Sang đêm, ai nữa đi về gặp ai?
1987
nguồn: https://www.lyrikline.org/en/poems/di-v-3589
26/10/18
Trường Sa Hành
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.
thơ Tô Thùy Yên
Trường Sa hành
Toujours il y eut cette clameur,
Toujours il y eut cette fureur...
Saint-John Perse
Trường Sa! Trường Sa! Ðảo chuếnh choáng.
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề.
Lính thú mươi người lạ sóng nước,
Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi.
Mùa Ðông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa.
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.
Ðảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên.
Bốn trăm hải lý nhớ không tới,
Ta khóc cười như tự bạo hành,
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục,
Ðường thân thế lỡ, cố đi nhanh.
Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế.
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ,
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.
Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt,
Bãi Ðông lỡ mất, bãi Tây bồi.
Ðám cây bật gốc chờ tan xác,
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?
Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng,
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh.
Mặt trời chiều rã rưng rưng biển,
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo.
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân.
Ta ngồi bên đống lửa man rợ,
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi,
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp,
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi.
Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ,
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.
Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya.
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thâm thê.
Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng.
Bãi lân tinh thức âm u sáng.
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng.
Ðất liền, ta gọi, nghe ta không?
Ðập hoảng vô biên, tín hiệu trùng.
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc.
Con chim động giấc gào cô đơn.
Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa.
Aùnh sáng vang lừng điệu múa điên.
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu dòn như tiếng nứt hoa niên.
Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp,
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh,
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã,
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh.
San hô mọc tủa thêm cành nhánh.
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai.
Thời gian kết đá mốc u tịch,
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.
1974
24/8/17
Dạ khúc . Hồ Thi Ca
Khuya, trời mưa nghe Đoàn Yên Linh ngâm bài thơ của Hồ Thi Ca cho vui.
Bài thơ đã được Kim Lệ phổ nhạc. Nghe Bảo Yến ca
13/4/17
Mưa Huế
Từ ấy mưa về không có em
Buồn hiu quán nhỏ phố lên đèn
Mưa rơi rét mướt lòng ly khách
Nỗi nhớ bồng bềnh lay bóng đêm
Vân Khánh trình bày ca khúc Võ Tá Hân phổ nhạc bài thơ của Hồ Đắc Thiếu Anh.
Nguyên tác bài thơ
Mưa Huế
Khi mô anh về thăm Huế xưa
Nhớ gói dùm em một chút mưa
Gói thêm mớ lạnh từ chân tóc
Buốt thấu buồng tim vẫn chưa bưa
Ngoài nớ chừ đang giữa tháng mưa
Em về áo mỏng có ai đưa
Qua sông nước ngập ngang bờ đá
Gót nhỏ chắc em lạnh suốt mùa
Thuở ấy em còn rất ngây thơ
Có anh che áo lúc trời mưa
Qua sông thuyền nhỏ anh ôm lái
Am áp tình em buổi dại khờ
Rồi một chiều thu em xa quê
Để ai ngóng đợi bước chân về
Mưa giăng đỉnh Ngự se lòng nhớ
Gió buốt dòng Hương lạnh tái tê
Từ ấy mưa về không có em
Buồn hiu quán nhỏ phố lên đèn
Mưa rơi rét mướt lòng ly khách
Nỗi nhớ bồng bềnh lay bóng đêm
Hẹn Huế mùa sau trở lại thăm
Thăm từng cái lạnh giấu trong chăn
Thăm mưa rả rích trong đêm vắng
Để nhớ vô cùng những tháng năm
Nghe Hương Mơ ngâm lại bài thơ
Thành Nội Huế chiều mưa
25/1/17
Chợ Tết . Đoàn Văn Cừ
28 tết, cây mai trước sân đã vàng bông
vẫn còn cây cạnh hồ đón Tết
Định đi chợ tết coi có bông gì hay hay mua mấy chậu nhưng trời lắc rắc mưa, thôi nằm nhà xem chợ Tết qua thơ
Bài thơ học từ hồi cấp 2. Hồi ấy thầy bắt học thuộc lòng, sau đó lại viết thành văn xuôi. Vừa rồi thử nhẩm lại còn nhớ gần hết bài. Có lẽ nhờ thời đi học trong nhà có cuốn Thi Nhân Việt nam của Hoài Thanh Hoài Chân nên những lúc rảnh rỗi hay đem ra ê a đọc, và mấy bài thơ của Đoàn Văn Cừ thường được đọc nhiều nhất.
Đoàn Văn Cừ nổi tiếng từ cuối những năm 193x với những bài thơ viết về nông thôn, từng được các tác giả Thi Nhân Việt Nam nhận xét: "Những bức tranh trong thơ Đoàn Văn Cừ không phải chỉ đơn sơ vài nét như những bức tranh xưa của Á Đông. Bức tranh nào cũng đầy dẫy sự sống và rộn rịp những hình sắc tươi vui. Mỗi bức tranh là một thế giới linh hoạt". Những cảnh quê như Đám hội, Đám cưới mùa xuân,... và đặc biệt là phiên Chợ Tết nông thôn của ông vẫn sẽ còn mãi với thời gian .. "
Lần trước đã nghe Hồng Ngát, hôm nay mới nghe Hồng Vân trình bày bài thơ này
![]() |
| nhà thơ Đoàn Văn Cừ (1913 - 2004) |
Sau 1945 ông tham gia Việt Minh. Từ 1959 ông làm biên tập cho nxb Phổ Thông, sáng tác thơ văn với nhiều bút hiệu khác nữa - Kẻ Sỹ, Cư sỹ Nam Hà, Cư Sỹ Sông Ngọc .. Ông mất ở quê nhà năm 2004.
Ông đã có gần 10 tác phẩm được xuất bản: Thơ lửa (1947), Việt Nam huy hoàng (1948), Dọc đường xuân (1979), Đường về quê mẹ (1987), ..Nhưng đọng lại trong kí ức người đọc vẫn là những bức tranh quê ông viết từ thời Thơ Mới, được in trong tập Thôn Ca (1944). Mời đọc thêm vài bài trích từ tập thơ này
Tết
Sáng hôm mồng một tết,
Đèn nến thắp xong rồi,
Bà tôi ngồi trong ổ,
Mặc áo đỏ cho tôi.
Ông tôi vừa thức dậy,
Nằm ngó cổ trông ra.
Trên ngọn cây đèn bóng,
Trời lất phất mưa sa.
Giờ lâu tràng pháo chuột,
Đì đẹt nổ trên hè,
Con gà mào đỏ chót,
Sợ hãi chạy le te.
Cây nêu trồng ngoài ngõ,
Soi bóng dưới lòng ao.
Chùm khánh sành gặp gió
Kêu lính kính trên cao,
Từ khi ông tôi mất,
Bà tôi đã qua đời,
Tôi mỗi ngày mỗi lớn,
Nên chẳng thấy gì vui.
Tết đến tôi càng khổ,
Tôi nhớ bức tranh gà,
Chiếc phong bao giấy đỏ,
Bánh pháo tép ba xu.
1939
Tết Quê Bà
Bà tôi ở một túp nhà tre.
Có một hàng cau chạy trước hè,
Một mảnh vườn bên rào giậu nứa.
Xuân về hoa cải nở vàng hoe.
Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng,
Cả đêm cuối chạp nướng than hồng.
Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn,
Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông.
1941
Đám Cưới Mùa Xuân
Ngày ửng hồng sau màn sương gấm mỏng,
Nắng dát vàng trên bãi cỏ non xanh.
Dịp cầu xa lồng bóng nước long lanh,
Đàn cò trắng giăng hàng bay phấp phới.
Trên cành cây, bỗng một con chim gọi
Lũ người đi lí nhí một hàng đen
Trên con đường cát trắng cỏ lam viền
Họ thong thả tiến theo chiều gió thổi,
Dưới bầu trời trong veo không mảy bụi,
Giữa cánh đồng phơn phớt tựa màu nhung.
Một cụ già râu tóc trắng như bông,
Mặc áo đỏ, cầm hương đi trước đám.
Dăm sáu cụ áo mền bông đỏ sẫm,
Quần nâu hồng, chống gậy bước theo sau.
Hàng ô đen thong thả tiến lên sau.
Kế những chiếc mâm đồng che lụa đỏ.
Bọn trai tơ mặt mày coi hớn hở,
Quần lụa chùng, nón dứa áo sa huê.
Một vài bà thanh lịch kiểu nhà quê,
Đầu nón nghệ, tay cầm khăn mặt đỏ.
Bà lão cúi lom khom bên cháu nhỏ,
Túi đựng trầu chăm chăm giữ trong tay.
Thằng bé em mẹ ẵm, má hây hây,
Đầu cạo nhẵn, áo vàng, quần nâu sẫm.
Cô bé để cút chè người xẫm mẫm,
Đi theo bà váy lĩnh, dép quai cong.
Một chị sen đầu đội chiếc khăn hồng,
Đặt trên cái hòm da đen bóng lộng.
Người cô dâu hôm nay coi choáng lộn.
Vành khuyên vàng, áo mớ, nón quai thao.
Các cô bạn bằng tuổi cũng xinh sao,
Hai má thắm, ngây thơ nhìn trời biếc.
Dăm bảy cô phủ mình trong những chiếc
Áo đồng lầm, yếm đỏ, thắt lưng xanh.
Một lúc sau đi tới chỗ vòng quanh,
Nếp chùa trắng in hình trên trời thắm,
Thì cả bọn dần đần cùng khuất lẩn
Sau trái đồi lấp lánh ánh sương ngân.
Chỉ còn nghe văng vẳng tiếng chim xuân
Ca ánh ỏi trên cành xanh tắm nắng.
1940
(mấy bài thơ cop lại từ trang thivien.net)
4/11/16
Mưa Huế
Mấy hôm nay miền Trung mưa lụt, tìm nghe lại bài hát của Phan Huỳnh Điểu, Mưa Miền Trung
Bài thơ gốc của Đỗ Thị Thanh Bình chỉ gồm 4 câu
Mưa Miền Trung
Anh có về miền Trung mùa mưa
Cơn mưa như chẳng tạnh bao giờ
Hạt thương rơi nặng bàn tay ấm
Hạt nhớ xa vời theo gió mưa
Đỗ Thị Thanh Bình được biết nhiều hơn với bài thơ được Trương Tuyết Mai phổ nhạc Huế Tình Yêu Của Tôi.
9/10/16
Đoàn Yên Linh: SỐNG LẺ LOI, ĐI LẶNG LẼ…
Nghe Đoàn Yên Linh ngâm thơ và đọc bài viết của Hồ Thi Ca đăng trên báo CATPHCM hôm 05-10-2015 nhân ngày thất tuần của người nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng này.
Tưởng nhớ giọng ngâm quý hiếm Đoàn Yên Linh: SỐNG LẺ LOI, ĐI LẶNG LẼ…
Mấy hôm trước, một số thân – thi hữu gồm NSƯT Hồng Vân, nghệ sĩ – nhà thơ Bảo Cường, nhạc sĩ Thạch Cầm... đã đi viếng cốt và cúng thất tuần nghệ sĩ ngâm thơ Đoàn Yên Linh tại chùa Pháp Long, đường số 18, phường Linh Chiếu, quận Thủ Đức, TPHCM.
Nghệ sĩ Đoàn Yên Linh là một giọng ngâm thơ hàng đầu, lẫy lừng từ trước đến sau 1975. Trước 1975 anh tham gia các chương trình ngâm thơ Thi văn Tao Đàn của nhà thơ Đinh Hùng và Tô Kiều Ngân, Mây Tần của nhà thơ Kiên Giang… Sau 1975, vì hầu hết các giọng ngâm cũ như anh chị Tô Kiều Ngân, Đoàn Yên Linh, Huyền Trân… đều mắc “cái phốt” là “liên quan đến chế độ cũ” nên chỉ ngâm thơ salon chơi.
23/9/16
đêm, nhớ trăng sài gòn
người nay xa xôi người bên kia đời
chân người có vui, những chiều cuối phố
mắt người có nguôi, những chiều mưa rơi ..
Cũng trong dòng nhạc mà Quỳnh Giao gọi là Khuynh hướng hoài hương, mời nghe thêm ba bài hát Phạm Đình Chương (1929 - 1991) phổ nhạc ba bài thơ của Du Tử Lê. Đây cũng là những tác phẩm cuối cùng của người nhạc sĩ tài danh này.
3/9/16
15/8/16
Phong Kiều dạ bạc
Ngồi nghe playlist ngâm thơ, gặp bài Phong Kiều Dạ Bạc. Đây là clip hồi ấy làm nhân bài gì đấy bên blog Dr Tào Thăng nói đến các từ chỉ màu đen - mực, mun, quạ, hắc, .., em Coco nhắc đến từ ô, rồi dẫn bài thơ này.
Mời nghe Tố Kiều Ngân ngâm Phong Kiều Dạ Bạc




