13/1/24

Có nên dạy chữ Hán ở trường phổ thông

Boristo Nguyên

Dạy chữ Hán ở trường phổ thông là một vấn đề gây nhiều tranh cãi, có các quan điểm đối lập nhau. Không ít người phản đối, trước hết vì họ coi bỏ chữ Hán là cách thoát Trung, thoát khỏi ảnh hưởng của Trung quốc, cả về chính trị và văn hóa. Tâm lý dị ứng với tất cả những gì của Trung Quốc là dễ hiểu vì cả trong quá khứ lẫn hiện tại, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc có không ít phức tạp. Tuy nhiên, những gì viết ở đây hoàn toàn không liên quan đến chính trị. Chúng chỉ là những suy nghĩ cá nhân, thuần túy từ góc nhìn mang tính học thuật.

Bài viết được trình bày dưới dạng câu hỏi và trả lời.
– Hỏi: Có cần dạy chữ Hán ở trường phổ thông?
– Trả lời: Câu hỏi mấu chốt này có liên quan đến một loạt các câu hỏi khác. Trước hết, đó là câu hỏi tại sao lại phải dạy chữ Hán? Có 2 lý do được đưa ra: sự đứt gãy văn hóa và hiện trạng hiểu sai, nói sai và viết sai tiếng Việt. Chuyện đứt gãy văn hóa ai cũng hiểu nhưng tầm quan trọng của nó chắc nhiều người chưa để ý đúng mức. Gạt bỏ chữ Hán con cháu ngày nay không hiểu cha ông đã viết gì, nghĩ gì. Bao nhiêu tinh túy văn hóa, những kinh nghiệm mà cha ông chắt lọc được lưu lại trong thư tàng, văn học viết, rồi cả bề dày lịch sử sẽ bị chặn bởi rào cản ngôn ngữ khiến chúng ngày càng xa mờ. Điều gì sẽ xảy ra khi một dân tộc quên dần, đánh mất lịch sử của chính mình? Những bài học, những giá trị về văn hóa, đạo đức mà cha ông đúc kết hay tiếp nhận dần bị gạt bỏ. Sự tha hóa, xuống cấp của đạo đức xã hội hiện nay, nhiều giá trị truyền thống bị đảo ngược có nguyên nhân không nhỏ chính từ sự quay mặt với truyền thống, với văn hóa của cha ông. Việc đứt gãy văn hóa đã tạo ra những hậu quả trầm trọng, những hậu quả hiện đang tác động xấu lên xã hội chứ chẳng phải chờ đâu xa. Vụ học trò lăng mạ tấn công cô giáo mà báo chí đăng tải gần đây là một ví dụ.
Đấy là chưa nói chuyện hiểu sai, nói sai và viết sai tiếng Việt. Trong kho từ vựng tiếng Việt từ Hán Việt chiếm đến 70% vốn từ. Việc hiểu sai từ Hán Việt dẫn đến hiểu sai, viết sai tràn lan, không chỉ ở người dân thường mà ngay cả ở các nhà văn, các nhà khoa học. Và cũng vì không thạo chữ Hán mà đã xảy ra những chuyện cười ra nước mắt. Chuyện viết sai, lắp lộn chữ trong câu đối như trong hình 1. là một ví dụ. [2]
Hình 1. Viết sai, lắp lộn chữ trong câu đối
– Hỏi: Vậy vấn đề thoát Trung thì thế nào?
– Trả lời: trước hết, ta nói về nguyên nhân. Quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam có không ít khúc mắc không chỉ trong quá khứ mà cả hiện tại. Chính vì vậy, nhiều người Việt có tâm lý thoát Trung, thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc. Với không ít người Việt bất cứ cái gì dính dáng đến Trung Quốc đều cần phải loại bỏ, kể cả văn hóa và chữ Hán. Tuy nhiên, dù muốn hay không, có một thực tế là cho tận đầu thế kỷ 20 các văn bản và văn học viết được viết bằng chữ Hán (đến thế kỷ 18), sau đó là chữ Nôm. Chữ Hán là vật mang, hòa quyện vào văn hóa Việt thành một thể thống nhất. Liệu có thể bóc tách, vứt bỏ chữ Hán chỉ giữ lại văn hóa Việt? Hay để thoát Trung ta thoát nốt cội nguồn, lịch sử của chính mình?
Dọc theo chiều dài lịch sử, Việt Nam tiếp nhận và chịu ảnh hưởng lớn từ văn hóa Trung Quốc, bao gồm cả Nho giáo. Nho giáo chiếm một vị trí quan trọng, nó tạo ra hệ thống giá trị về đạo đức làm nền móng để quản lý và giữ trật tự xã hội thông qua con đường đức trị. Nho giáo như một triết lý, một hệ tư tưởng ngày nay đã trở thành lạc hậu, cản trở sự phát triển xã hội thì cần bị loại bỏ. Cái gì lỗi thời, lạc hậu thì vứt bỏ, chẳng hạn như tư duy giáo điều, chế độ thi cử hay cách dạy-học lạc hậu… Tuy nhiên, một học thuyết mà tồn tại hàng nghìn năm chắc có không ít điều vẫn còn giá trị. Những giá trị phổ quát, vượt thời gian. Vì thoát Trung mà vứt bỏ chữ Hán và toàn bộ những gì được cha ông tiếp nhận mà không biết “gạn đục khơi trong”, giữ lại những điều tốt đẹp là cách làm không khôn ngoan. Chính cách ứng xử này đã phá vỡ nền tảng đạo đức truyền thống và là một trong những nguyên nhân chính tạo nên sự tha hóa xã hội. Quan hệ gia đình trở nên mong manh dễ tan vỡ, đạo đức nhà trường bị xuống cấp, quan hệ thày trò truyền thống bị phá vỡ … là những ví dụ về hệ quả của việc hệ giá trị (đạo đức) bị đảo lộn. Xã hội hiện đại cần được quản lý qua pháp trị, mô hình tổ chức cao hơn đức trị nhưng cũng cần giữ lại những gì tốt đẹp của đức trị để bổ sung, hỗ trợ giúp cho việc giữ gìn nền tảng đạo đức xã hội. Xã hội khó có kỉ cương nếu chỉ dựa vào luật pháp mà loại bỏ cái neo gìn giữ đạo đức, những giá trị mà dân tộc sử dụng cả nghìn năm.
Thoát Trung không đơn thuần chỉ là câu chuyện liên quan đến cảm xúc, tâm lý mà là chuyện liên quan đến chính trị, đường lối ngoại giao. Thoát thế nào, thoát cái gì, giữ cái gì, cách thức thế nào cho tối ưu là vấn đề không hề đơn giản. Tuy nhiên thoát Trung không phải là chủ đề chính thảo luận ở đây. Tôi chỉ muốn nói thêm một chút. Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan là các nước phát triển và không thể nói họ nằm trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều không chuyển sang chữ chữ Latin, Đài Loan vẫn dùng chữ Hán. Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông với một số lượng từ không nhỏ. Họ đều sử dụng những yếu tố tích cực của Nho giáo trong quá trình hiện đại hóa đất nước. Các nước này phát triển nhưng không nhất thiết thoát Trung phải theo cách cực đoan, vứt bỏ tất cả những gì liên quan đến văn hóa Trung hoa.
– Hỏi: Cuộc tranh luận chữ Hán hay chữ Quốc ngữ “đã ngã ngũ từ hơn 1 thế kỷ trước” [3]. Ngày nay hầu hết đều cho rằng chữ Quốc ngữ là ưu việt hơn hẳn chữ Hán, là chữ viết mà người Việt đã lựa chọn thì quay lại chữ chữ Hán để làm gì?
– Trả lời: Cuộc tranh luận giữa chữ Hán và chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX nằm trong bối cảnh khác và nội hàm tranh luận cũng hoàn toàn khác. Câu chuyện được đặt ra lúc đó là chọn chữ viết nào và đi theo con đường nào? Chọn cái này mà bỏ cái kia. Cái được của chữ Quốc ngữ chắc ai cũng rõ. Tuy nhiên, mất mát cũng không nhỏ và không phải ai cũng để ý. Sự sa sút, xuống cấp của đạo đức xã hội nói ở phần trên là một ví dụ. Đây là sự mất mát không hề nhỏ. Còn nhiều mất mát lớn khác, có thể được tìm thấy, chẳng hạn, trong khảo luận “Truyền giáo và quốc ngữ” của Thụy Khuê [4].
Vấn đề dạy chữ Hán ở đây không phải là yêu cầu quay ngược lịch sử, thay chữ Quốc ngữ bằng chữ Hán. Đây không phải câu chuyện “ai thắng ai”, được cái này phải bỏ cái kia. Chữ Quốc ngữ vẫn là chữ chính thức được sử dụng, dạy thêm chữ Hán để giảm bớt sự hiểu, viết sai tiếng Việt và nhằm giảm thiểu việc đứt gãy lịch sử, giúp thế hệ trẻ trở nên gần gũi và hiểu hơn những gì cha ông để lại. Việc chữ Quốc ngữ hay chữ Hán, chữ nào tốt hơn, đáng dùng hơn chữ nào không liên quan đến những điều đang bàn ở đây.
– Hỏi: Có ý kiến cho rằng “ khắc phục sự đứt gãy văn hóa là việc của các chuyên gia Hán Nôm và chỉ cần họ là đủ để thực hiện sứ mệnh này” [3]. Nếu đúng vậy, cần gì phải dạy chữ Hán cho nhà trường phổ thông?
– Trả lời: Suy nghĩ kỹ một tí sẽ dễ thấy chỉ đội ngũ chuyên gia Hán Nôm không thôi sẽ không đủ để khắc phục việc đứt gãy văn hóa. Nói đến đứt gãy văn hóa là nói đến việc con cháu không tiếp xúc với di sản, không hiểu và ngày càng xa với cha ông (về tâm lý, suy nghĩ, lối sống…) ở phạm vi toàn xã hội. Gìn giữ di sản cha ông không chỉ đơn thuần là việc sưu tầm, lưu trữ, dịch thuật và giái mã các văn bản cổ,.. việc riêng của các chuyên gia chuyên ngành, một nhóm người của xã hội. Di sản của cha ông cần được phổ biến rộng rãi để mọi người có thể tiếp cận, tìm hiểu và có tâm thế hướng về cội nguồn cha ông. Rõ ràng, đây không chỉ là việc riêng của các nhà chuyên môn Hán Nôm. Mặt khác nhu cầu về đọc hiểu các văn bản cổ là rất lớn và đa dạng, từ phục vụ nghiên cứu lịch sử, chính trị ngoại giao, tín ngưỡng … đến việc tạo lập, khôi phục gia phả của các dòng họ. Văn bản chữ Hán không chỉ là những gì được lưu giữ tại các thư viện, trường đại học hay các viện nghiên cứu. Chúng còn có khắp nơi mà các chuyên gia chuyên ngành không biết đến, chưa nói đến việc dịch. Năm 1974 học giả Đào Duy Anh viết trong tựa sách Khoa Hư Lục: “Trong thư viện Khoa học xã hội hiện còn 11.795 cuốn sách Hán Nôm, gồm 10.609 cuốn sách chữ Hán (chỉ sách chữ Hán của Việt Nam) và 1.186 cuốn sách Nôm“ [5]. Hiện nay, tại thư viên Viện Hán Nôm đã có khoảng 20.000 đơn vị sách, hơn 48.000 đơn vị thác bản văn khắc và khoảng 20.000 đơn vị ván khắc in cổ [6]. Với số lượng đồ sộ như vậy, liệu đã bao nhiêu đã được dịch? Đấy là chưa nói đến chất lượng dịch, nhiều khi sai lệch, khác hẳn tinh thần với ý của người xưa. Ngay giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một chuyên gia nghiên cứu văn học cổ mà còn “nhầm kệ thành thơ”, hiểu sai thể loại văn bản bài “Tâm” của Phạm Thường Chiếu [7]. Kể ra như vậy để cho thấy việc tiếp thu di sản của cha ông ở bình diện xã hội không thể chỉ là công việc đơn thuần của các chuyên gia Hán Nôm.
– Hỏi: Có ý kiến cho rằng chữ Hán là tử ngữ nên không thể dạy tử ngữ ở bậc phổ thông.
– Trả lời: Chữ Hán gồm có tự (chữ viết), âm và nghĩa. Nói chữ Hán là tử ngữ là nói cho chung cả 3 thành phần nhưng âm và nghĩa thì không phải là chết. Hơn nữa, yêu cầu đặt ra không phải là dạy chữ Hán như một ngoại ngữ để giao tiếp với tất cả các kĩ năng: nghe, đọc, nói, viết. Thực chất, đây chỉ là dạy một số lượng từ không quá lớn để học sinh có thể hiểu nghĩa của các từ Hán Việt trong các tác phẩm văn học được dạy trong nhà trường. Ngữ pháp hầu như cũng không được dạy. Yêu cầu đặt ra là rất thấp. Tuy vậy, ngoài việc cung cấp một vốn từ tối thiểu, việc dạy chữ Hán này tạo cho học sinh những hiểu biết cơ bản để cần thì biết tự tra cứu, tự tìm hiểu và nếu có nhu cầu hay sở thích thì có thể tiếp tục học lên.
– Hỏi: Việc dạy chữ Hán có dễ làm học sinh có tâm lý quay lại Nho giáo, ảnh hưởng đến việc thoát Trung?
– Trả lời: Việc cho rằng việc học chữ Hán sẽ tạo ra tâm lý muốn quay lại với Nho giáo chỉ là suy nghĩ mang tính cảm tính, không được chứng minh. Hơn nữa, học chữ Hán chỉ ở mức tối thiểu, chỉ học những điều tốt đẹp mà cha ông để lại qua các tác phẩm văn chương dạy trong nhà trường thì khó có chuyện học sinh sẽ bị lôi cuốn, chịu tác động không tốt từ Nho giáo.
– Hỏi: Trong bài viết của mình PGS Nguyễn Hữu Sơn có đưa ra quan điểm “Học sinh phổ thông ngày nay cần thiết phải biết chữ Hán để tiếp thu đầy đủ và thuận tiện di sản văn hóa Hán Nôm của cha ông; nhưng điều đó chưa cấp thiết bằng việc trang bị cho các em những kỹ năng sống và kỹ năng làm việc “thời 4.0” cùng nhiều kiến thức thiết thực khác. Bởi vậy, đề xuất “học chữ Hán trong nhà trường phổ thông, từ bậc Tiểu học” chắc chắn không khả thi bởi không cấp thiết và thiếu nguồn lực giáo viên. Ngay như đội ngũ giảng viên các ngành văn hóa, văn học truyền thống dân tộc bậc đại học hiện nay còn chưa nắm vững chữ Hán.” [3]. Vậy nghĩ thế nào về ý kiến này?
– Trả lời: Tại sao lại cần dạy chữ Hán ở trường phổ thông thì những trao đổi ở trên cũng đã trình bày khá rõ. Trẻ em rất cần những kỹ năng sống và làm việc trong thời đại 4.0 nhưng những điều đó chưa đủ, nếu chẳng hạn, đạo đức xã hội bị xuống cấp, lịch sử cha ông dần bị quên lãng.
Một khi đã xác định là quan trọng và cấp thiết thì phải làm. Đó là logic! Quan trọng là phải bắt đầu. Không thể chờ khi có đủ điều kiện mới làm, điều này sẽ không bao giờ có. Vấn đề là làm thế nào? Ai cũng thích sự hoàn hảo, điều tuyệt đối nhưng trong cuộc sống tối ưu mới là quan trọng. Bài toán đặt ra cần giải quyết không chỉ phù hợp với mục tiêu mà cũng cần phù hợp với các điều kiện thực hiện. Dạy chữ Hán trong trường phổ thông không phải với mục đích cao, bắt học sinh giỏi chữ Hán, thành thạo mọi kĩ năng của một ngoại ngữ. Có thể dạy chữ Hán như theo đề xuất của GS Nguyễn Đình Chú: tích hợp với việc dạy các tác phẩm văn học có trong chương trình phổ thông. Chẳng hạn như bài “Nam quốc sơn hà” “cùng với việc phiên âm, dịch nghĩa, có thêm giải thích từng từ Hán Việt” [8]. Ta thấy ở đây, hầu như chỉ dạy từ, gần như không dạy ngữ pháp (có động một chút đến cấu trúc câu). Mỗi năm dạy cho học sinh vài chục cho đến không quá 100 từ. Đây là một đề xuất rất tối thiểu, chỉ là bước đầu cho họ làm quen, biết tự tra cứu từ điển, và sau này nếu cần có thể học tiếp. Với đòi hỏi này, sinh viên ngành văn các trường đại học sư phạm được học chữ Hán 6 học kì, nếu học tử tế chắc không khó để thực hiện. Tất nhiên, với phương châm “biết 10 dạy 1” khi chuyện dạy chữ Hán được thực hiện, việc nâng cao trình độ, bồi dưỡng giáo viên là việc cần phải làm. Điều này đúng không chỉ với việc dạy chữ Hán, mà với mọi môn học ở nhà trường phổ thông.
Moscow – Tp. Hồ Chí Minh – Hà Nội, 2024
*********
[1]. Chữ Hán: được hiểu là Hán – Hôm.
[2]. Facebook Anh Son Tran Duc. MỖI NGÀY MỘT BỨC HÌNH, 25-03-2023
Đã tốn tiền thuê người viết câu đối bằng chữ Hán, mà không chịu tìm cho ra ông thầu khoán biết chữ Hán để giám sát thợ nề ráp chữ, nên mới ra cơ sự như ri: 3 chữ lộn ngược, 4 chữ ráp sai vị trí. Nhớ lại cách đây mấy năm có ý kiến cho học sinh học thêm chữ Hán, thì cả nước rần rần phản đối. He he.
[3] Nguyễn Hữu Sơn. Cần thiết nhưng chưa cấp thiết. Văn nghệ số 14
[4] Thụy Khuê. Truyền giáo và quốc ngữ. Da Màu 22.11.2023
[5] Khóa Hư Lục của Trần Thái Tôn, Đào Duy Anh phiên dịch và chú giải, Nxb Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1974, trang 5.
[6] Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm
[7] Boriso Nguyen. ĐẠI ÁN VĂN CHƯƠNG “THƠ VĂN LÝ TRẦN” – NGUYỄN HUỆ CHI THẢM HẠI MỘT NHÂN CÁCH. Tuần báo VN Tp HCM, số 543, 544, 545
[8] Nguyễn Đình Chú. Cần khẩn trương khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông Việt Nam.

nguồn: https://www.facebook.com/boristo.nguyen/posts/pfbid02MQFWTBcd7C72R7GpzHseENztahFn4QLGR65Unc6sMYCgurDTti1cTGp79VLuwfzvl?

10/1/24

Trần Trọng Đăng Đàn

 VĂN HÓA, VĂN NGHỆ NAM VIỆT NAM 1954-1975

Cuốn đồ sộ nhất trong "đả ngụy thập lục thư"
Trần Trọng Đăng Đàn - GS văn học, tiến sĩ khoa học ngữ văn, tiến sĩ Triết học (là em ruột của ông Trần Trọng Tân, nguyên trưởng ban TT-VH TW)
Tác giả chửi rủa từ Bùi Giáng, Hồ Hữu Tường, Vũ Khắc Khoan, Thụy Vũ, Túy Hồng, Chu Tử, Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền.... cho đến Bác sĩ Zhivago, Một ngày trong đời của Ivan Denisovich, Bố già, Buồn ơi, chào mi (nữ sĩ Francoise Sagan được gọi là cây bút bệnh hoạn, đồi trụy, vô luân ....
Phụ lục:
1. Thông tri ngày 28/8/1975 của bộ trưởng bộ Thông tin văn hóa Lưu Hữu Phước về việc cấm lưu hành sách báo phản động.
2. Danh mục các cơ sở xuất bản bị cấm toàn bộ tác phẩm
3. Danh mục các tác giả bị cấm toàn bộ tác phẩm
(James Hadley Chase, Georges Simenon, F.S. Fitzgerald, Erskine Caldwell, Somerset Maugham, Alberto Movaria, Vicky Baum, Nikos Kazantzakis, Hermann Hesse, Kahlil Gibran, Stephan Zweig, Henry Miller, Kawabata.... chắc cũng ngỡ ngàng không biết vì sao mình có tên trong danh sách phản động- đồi trụy này.
4. Danh sách các sách được tạm lưu hành
5. Danh sách các tác giả được tạm lưu hành
6. Bảng tra các bút danh, họ tên thật và năm sinh của các tác giả miền Nam từ 1954- 1975.
Sách dày 1115 trang.


Có thể tìm cuốn này, và nhiều sách khác của TTĐĐ theo link sau.

link 15 e-book của Trần trọng Đăng Đàn. 

http://baochi123.info/threads/15-ebook-tac-gia-tran-trong-dang-dan-1936-xxxx.7576/

3/1/24

Khách trung hữu cảm

 客中有感 

天地一身在,
頭顱五十過。

流年消壯志,
空使淚成河。
殷堯藩                   

Âm.

Thiên địa nhất thân tại,
Đầu lô ngũ thập qua.
Lưu niên tiêu tráng chí,
Không sử lệ thành hà.

Nghĩa. Cảm xúc nơi đất khách

Một thân một mình trong trời đất,

Năm chục năm trôi qua trên mái đầu.

Năm tháng trôi qua làm tiêu tan chí lớn,

Không dưng nước mắt lại chảy thành sông.

Tạm dịch.

Một thân giữa đất trời,

Năm chục năm đầy vơi.

Nhìn tháng ngày mòn mỏi,

Không dưng nước mắt rơi.

Giản thể. 天地一身在,头颅五十过。 流年消壮志,空使泪成河

Chú.

頭顱 đầu lô: đầu lâu.

流年 lưu niên: năm tháng trôi qua như nước chảy.

壯志 tráng chí: ý muốn to lớn mạnh mẽ.

殷堯藩 Ân Nghiêu Phiên (780 - 855), nhà thơ thời Trung Đường. Tiến sĩ, quan đến chức Thị ngự sử.



30/12/23

Khất thực

 

乞食 
嶒崚長劍倚青天,輾轉泥塗三十年。

文字何曾為我用,饑寒不覺受人憐。阮攸

Âm

Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên, Triển chuyển nê đồ tam thập niên.
Văn tự hà tằng vi ngã dụng? Cơ hàn bất giác thụ nhân liên!
Nguyễn Du

Nghĩa

Thanh kiếm dài ngang tàng hướng lên trời xanh, Lăn lộn bùn dất ba mươi năm nay.
Chữ nghĩa nào đã dùng được việc gì cho ta?
Đói rét không ngờ phải nhận lòng thương hại của người khác.

Tạm dịch.

Bên trời ngang dọc một thanh gươm,
Ba chục năm qua lấm bụi đường.
Chữ nghĩa giúp gì cho cuộc sống,
Đói no còn phải cậy người thương.

Giản thể

嶒崚长剑倚青天,辗转泥涂三十年。文字何曾为我用,饑寒不觉受人怜。

Chú

-          乞食 khất thực: xin ăn.

-          嶒崚 高而险峻貌;不平貌。Tằng lăng: cao lớn hiểm trở; tỉ dụ không tầm thường, cứng cỏi, ngang tàng bất khuất

-          輾轉 triển chuyển: lăn lóc, trăn trở.

-          泥塗 nê đồ: bùn đất

-          何曾: 反问表示未曾. Hà tằng: chưa từng.

-          饑寒 cơ hàn: đói rét.

-          不覺 bất giác: không ngăn được, không ngờ đến.

-          受人憐 thụ nhân liên: nhận sự thương hại của người khác.

 



28/12/23

Phép Đối Trong Thơ Đường Luật

 

Nếu so sánh với các thể thơ khác, thơ Đường Luật có điểm đặc sắc nhất, độc đáo nhất chính là phép Đối ở hai câu 3-4 (Thực) và 5-6 (Luận).
Một bài thơ Đường Luật mà không có đối thì không còn là thơ Đường Luật.
Chính phép đối này đã từng khiến tôi rất khó khăn khi học và làm thơ Đường Luật.
Thế nào mới gọi là đối, đối thế nào cho đúng trong thơ Đường Luật?
Câu hỏi ấy luôn theo tôi trong thời gian trước.  Xin được nêu ra đây với mục đích trao đổi, học hỏi với Quý Cô Bác Anh Chị và những ai yêu thích thơ Đường Luật.



***
"Thi luật xuất phát từ đời nhà Ðường bên Tàu cho nên gọi là Đường Luật Thi.
Tiền Mộc Yêm, tác giả sách Ðường âm thẩm thể nói rằng: "Luật đây là sáu luật, là luật hoà hợp âm thanh. Luật thơ cũng giống như kỷ luật dụng binh, pháp luật hình án, nghiêm ngặt chặt chẽ, không được vi phạm". Có thể giải thích thêm về thể cách của thi như sau:
a) Trong một câu, bằng trắc cần phải điều tiết;
 b) Trong khoảng hai câu liền nhau, sự đối ngẫu cần phải khéo;
 c) Trong một bài, âm thanh cần phải chọn sao cho có sự cao thấp, bổng trầm.
Tóm lại, ba điều kiện cần thiết của luật thi là Niêm, Luật và Đối.

Ðường Luật không phải do một cá nhân hay một nhóm thi nhân cao hứng đặt ra theo sở kiến, sở thích của mình, mà chính là sự đúc kết những kinh nghiệm kỹ thuật lâu đời đã thành công, và điển chế những thành công ấy làm khuôn phép chung cho làng thơ . ...

Thật như vậy: từ đời Xuân Thu đến đời nhà Ðường, trên 1.000 năm, thơ Trung Quốc lần lần biến chuyển từ giản dị đến phức tạp, từ tự do đến câu thúc. Thơ trong bộ Kinh Thi do Khổng Phu Tử san định thời Xuân Thu (722- 479) trước Kỷ nguyên Thiên Chúa, số câu trong mỗi thiên, số chữ trong mỗi câu, đều không nhất định, cách hạ vần cũng tùy nghi. Ðến đời Tấn (265-420), thơ mới bắt đầu khép vào khuôn là mỗi câu 5 chữ, nhưng số câu thì dài ngắn tùy hứng tùy thích của thi nhân. Sang đời Lục Triều (420- 621), thi nhân lại tìm thêm một khuôn nữa là mỗi câu 7 chữ. Thời ấy văn học lại xu hướng thể biền ngẫu . Thẩm Ước lại xướng thuyết tứ thanh, bát thể (bát bệnh) đem áp dụng vào thơ ngũ ngôn. Từ ấy, thi nhân phải theo những quy tắc về âm thanh về đối ngẫu; nhưng quy tắc không mấy chặt chẽ, ngòi bút vẫn tung hoành được tự do. Thi sĩ đời Ðường (618-907) phát huy phép đối ngẫu và thuyết thanh bệnh của Thẩm Ước. Âm vận và cách luật được giảng cầu tinh tường : Thi Luật được sáng chế và được phần đông thi nhân hoan nghênh. Người có công lớn trong việc chỉnh đốn Thi Luật là Tống Chi vấn và Thẩm Thuyên Kỳ thời Sơ Ðường . Rồi từ đời Ðường đến đời Thanh (1616- 1911), trên 1.000 năm, thể thơ Ðường luật rất được phần đông thi nhân ưa chuộng".


"Thơ Nôm Ta làm theo phép tắc thơ Tàu, mà âm thanh tiếng Ta cũng tương tự tiếng Tàu (cũng là thứ tiếng đơn âm và cũng chia làm tiếng Bằng tiếng Trắc). Nên Thi pháp của Ta là thi pháp của Tàu, và Niêm luật thơ Ta cũng phỏng theo thơ Tàu cả..."

Thanh, Vận, Đối ngẫu, Niêm, Bố Cục. Đó là 5 qui tắc bắt buộc người làm thơ Đường Luật phải giữ. Mỗi qui tắc có những qui định riêng.

1/ Thanh: có thanh Bằng thanh Trắc. Trong một câu, cần phải biết điều tiết Bằng Trắc, sao cho câu thơ có sự trầm bổng. Bằng Trắc cũng có nhiều Bằng Trắc.
 Theo Dương Quảng Hàm:
- Bằng có Trầm Bình Thanh (chữ có dấu huyền)và Phù Bình Thanh (Chữ không có dấu).
- Trắc Phù thượng dấu Ngã. Trầm thượng dấu Hỏi. Phù khứ dấu Nặng. Phù nhập dấu Sắc. Trầm nhập dấu Nặng.

2/ Vận: gọi nôm là vần. Rất quan trọng trong các thể loại thơ. Vần là những chữ khi đọc lên có âm giống nhau. Tuỳ theo thể loại thơ Vần có thể Bằng hoặc Trắc. Nhằm mục đích kết nối các câu lại và tạo âm điệu trong bài thơ. Trong thơ Đường Luật chỉ có gieo vần ở cuối câu gọi là Cước Vận.
Vận là gì? Theo quyển Bội Văn Vận Phủ thi vận xếp theo ngũ thanh (thượng bình, hạ bình, thượng trắc, khứ trắc, nhập trắc) và có tất cả 106 vận. Thượng bình có 15 vận là Ðông (phương Ðông). Đông (mùa Ðông), giang, chi, vi, ngư, ngu , tề, giai, khôi, chân, văn, nguyên, hàn, san. Hạ bình có 15 vận là tiên, tiêu, hào (hỗn hào), hào (hào kiệt), ca, ma, dương, canh, thanh, chưng, vưu, xâm, đàm, điêm, hàm. Hai thanh Bình hợp lại gọi là Bằng, vần Bằng. Còn vần Trắc thì gồm tất cả các vận trong các thanh Thượng, Khứ, Nhập, tất cả có 76 vận. Ðể khỏi bị lạc vận, cổ nhân thường học thuộc lòng những chữ xếp vào bình thanh và khi cần, mở sách ra tra cứu.

Đúng là lạc vào mê hồn trận. Để đơn giản hoá, chúng ta chỉ tìm hiểu Vận qua cách gieo vần mà thôi. Vần có Chính Vận (vần chính) là những chữ có cùng một âm : anh - thanh, minh - tình, thi - gì...
Thông Vận (vần thông) là những chữ có âm đọc giống hoặc hơi giống, nhưng viết khác nhau: ăn - trăng, mong - ông, tăm - thầm, bên - triền...

Vận theo nghĩa Việt gồm 2 nghĩa:
- Có nghĩa như trên.
- Ghép các nguyên âm, phụ âm của mẫu tự gọi là Vần. Thí dụ như: au, oi, eo ương, en, it, anh...Chúng ta gọi là ráp vần.

3/ Đối Ngẫu: thường nói cho gọn là Đối. Đối Ngẫu là đối nhau từng cặp một. Trong Đối ngẫu, có nhiều cách đối. Cũng như Thanh và Vận, Đối cũng có năm bảy cách đối (không phải chỉ có một cách Đối Tự Loại như nhiều người thường nghĩ).

Lưu Hiệp đời Lục Triều, tác giả sách Văn tâm điêu long, đã phân biệt bốn cách là: Ngôn đối, Sự đối, Chính đối và Phản đối.Ngôn đối là đối bằng lời suông. Sự đối là đối bằng điển cố. Hai câu mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý, là chính đối. Nếu hai sự việc đó trái ngược nhau, thì gọi là phản đối. Sự đối và phản đối khó làm hơn và có giá trị hơn là ngôn đối và chính đối.

Ðến thời Sơ Ðường, Thượng Quan Nghi phân biệt sáu cách đối là:
1) Chính danh đối, như thiên địa đối với nhật nguyệt
2) Ðồng loại đối, như hoa diệp đối với thảo mao
3) Liên châu đối, như tiêu tiêu đối với hách hách
4) Song thanh đối, như hoàng hoè đối với lục liễu
5) Ðiệp vận đối, như bàng hoàng đối với phóng khoáng
6) Song nghĩ đối, như xuân thụ đối với thu trì (Theo sách Thi uyển loại cách).

Về sau  các học giả Trung Hoa đã soạn nhiều bộ Thi Vận Tập Thành, thường gọi là sách Quan vận, là Vận thư. Ðời Tùy có sách Thiết Vận; đời Ðường có sách Ðường vận, Quảng Vận; đời Tống theo những bộ sách đời trước, soạn ra bộ Lễ Bộ Vận Lược, được triều đình dùng làm chữ an tắc cho thi vận trong việc khảo thí. Các đời sau cũng theo gương đời Tống, soạn ra những sách Quan vận mới. Nhà Nguyên có sách Trung Nguyên Âm Vận; nhà Thanh có sách Bội Văn Vận Phủ; Trung Hoa dân quốc có Trung Hoa Tân Vận ...Sách Trung Hoa Tân Vận chưa được đem ra áp dụng . Ðược thông dụng nhất là Bội Văn Vận Phủ. Nước Việt Nam chưa có sách Quan vận. Các cụ ngày xưa đều dùng sách Tàu khi làm thơ chữ Nôm cũng như khi làm thơ chữ Hán.
Qua các sách Quan Vận của Tàu, vào thế kỷ 20, các Học giả Việt Nam đã đúc kết về Đối như sau:

- GS Dương Quảng Hàm: Đối gồm có Đối ý (Khoan Đối)và Đối Từ (Chỉnh Đối). Nhưng Ông không phân tích rõ ràng.
Như Đối Từ, Ông chỉ nói khái quát về Đối Từ và Đối Thanh. Từ loại nào đối theo loại đó Danh từ đối Danh từ, Động từ đối Động từ...được gọi là Đối Tự Loại. Đối Thanh là đối Bằng Trắc.
Còn về Đối ý, Ông chỉ vắn tắc "đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau".

-  Nhà Thơ Nhà Giáo Quách Tấn: Ông đã liệt kê và phân tích hàng loạt các phép đối, trong sáu, tám nội dung đối. Sáu, tám hình thức đối... Nhưng cuối cùng, Quách Tấn quy tụ lại năm phép đối cơ bản gồm: Chỉnh đối, Tá Tự đối, Cú Trung đối, Bất Đối Chi Đối, và Lưu Thủy đối.. 

Nhưng Quách Tấn cũng nhắc nhở chúng ta, nếu chưa nắm vững về các phép Đối trong Đường Luật Thi, chỉ nên dùng 3 phép đối : Chỉnh Đối, Cú Trung Đối và Lưu Thuỷ Đối.

Các Phép Trong Thơ Đường Luật
 
1 - Phép Chỉnh Đối : Đây là phép đối thông dụng nhất, các chữ của câu trên và câu dưới theo thứ tự đối nhau từng chữ một hay từng cặp chữ kép một.

 

  Lom khom dưới núi tiều vài chú   
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
              (Bà Huyện Thanh Quan)
 
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh

                          (Hồ Xuân Hương)

 

2 - Phép Tá Tự Đối : Đây là phép đối tiếng đối bóng

 Hai mái trống tung đành chịu dột
Tám giờ chuông điểm phải nằm co
                            (Trần Tế Xương)
Chúng ta thấy ý của từ Trống và Chuông trong câu không hề đối nhau. Nhưng nếu tách ra xét về tự (chữ) lại đối. 

Chẳng long lay đến lòng son sắt
Há hổ ngươi vì miếng bạc đen
                    Phan Sào Nam
Khéo làm sao khi ông mượn chữ long đối với hổ.

3 - Bất Đối chi Đối: Không đối tự loại mà đối ý. Cách đối này, Tiền Nhân rất thích dùng theo quan điểm Ý trọng hơn Từ.
 
Ba Vì tây lĩnh nom thêm trẻ
Một dải thu giang nước vẫn đầy
                                   Tản Đà

Vàng tung cánh hạc bay bay mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời

                       (Vũ Hoàng Chương)
 
Bóng chiều đã ngả đâu quê cũ.
Xưa nay chinh chiến mấy ai về
            (Tổng trấn Nguyễn Văn Thành)

U uất nơi lòng mòn mỏi đợi
Xuống lên con nước cứ vơi đầy
                            (Quên Đi)
- Các cặp câu này nếu so tự loại, chúng ta thấy chẳng hề đối theo phép Chỉnh Đối. Nhưng ý lại đối rất chặt chẽ. Riêng ở hai câu thơ trích từ "Về Quê Nhà Cảm Tác " của Tản Đà, ta thấy còn dụng cách Tá Tự Đối :Đó là "Ba Vì" và "Một dải". Ba Vì là tên ngọn núi ở Hà Tây.

  4- Phép Đối Lưu Thuỷ : ý câu dưới tiếp ý câu trên

Thôi về bãi biển cho êm ái
Để mặc bên sông nó gật gù
              Nguyễn Khuyến

Bước chân mong ngóng vòng tay mở
Dạo ấy người ơi xa lắm đâu
                       Vũ Hoàng Chương

Tiệc tùng chủ yếu cầu vui khoẻ
Nào phải kinh doanh để nhận quà
                            Quên Đi

- Chúng ta thấy hai câu này xét tự loại không thể đối nhau. Nhưng  ý được nối tiếp với nhau như dòng nước chảy liên tục.

5 - Cú Trung Đối: Còn gọi là Tiểu Đối. Tự đối nhau trong từng câuCâu trên tự đối, câu dưới cũng tự đối.  Hai câu đều tự đối. Tự Đối dùng để đối với Tự Đối.
 

 Lấy của đánh người quân tệ nhỉ
Xương gà da cóc có đau không

                   
 (Nguyễn Khuyến)
- Lấy của đối với đánh người. Xương gà đối với da cóc.

 Chim trời cá nước duyên ai đó 
Vía dại hồn khôn chết dễ chơi 
                                           (Tản Đà)                 
 - Chim trời đối với cá nước. Vía dại đối với hồn khôn.

Nếu quả trời xanh ghen má phấn
Đừng mong cưới vợ để sinh con

                           (không biết Tác Giả)
- Trời xanh đối với Má phấnCưới vợ đối với Sinh con.
- Trong câu này có thêm phép Đối Lưu Thuỷ.

 

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
                        (Hồ Xuân Hương)Càng nóng đối với càng mát. Yêu đêm đối với yêu ngày.
 

  6- Giao Cổ Đối: Từng nhóm hay từng chữ của câu trên đối chéo với  từng nhóm hay từng chữ của câu dưới

Chân bước vững đường chiều khấp khểnh
Rừng cây rậm rạp trúc vươn cao.
 
                       (Trần Tuấn Ngọc)  


Chân bước vững của câu trên đối chéo với trúc vươn cao của câu dưới
đường chiều khấp khểnh của câu trên đối chéo với Rừng cây rậm rạp của câu dưới.

 

  Bèo mây xuôi ngược nhiều sương nắng
Thương nhớ ngày đêm lẫn tủi hờn
 

 
Bèo mây của câu trên đối chéo với Ngày đêm của câu dưới
Xuôi ngược của câu trên đối chéo với Thương nhớ của câu dưới
Trong 2 câu này còn có Tiểu Đối:
Bèo mây đối với Sương nắng.

Thương nhớ đối với Tủi hờn

Kết Luận
Do ngày nay, những người làm thơ Đường Luật hầu hết đều làm thơ theo phép Chỉnh Đối, dần dà quên đi các phép đối khác. Từ nguyên nhân này, một số người đã ngộ nhận trong Thơ Đường Luật chỉ có một phép đối duy nhất. Vì thế, khi gặp một bài thơ áp dụng những phép đối khác, đã vội cho rằng sai luật đối, hoặc giả cho rằng Phá Cách, kể cả thơ của Tiền Nhân.
Huỳnh Hữu Đức  

Theo :
- "Việt Nam Văn Học Sử Yếu" Dương Quảng Hàm
- "Thi Luật Trong Thi Pháp Thơ Đường" Quách Tấn
- "Những Vấn Đề Ngữ Văn" Trần Trọng San
- "thoduongdatviet.com"
- "tho.com.vn"

23/12/23

Ngẫu thành

 

偶成 
世上黃粱一夢餘,
覺來萬事總成虛。

如今只愛山中住,
結屋花邊讀舊書。

阮廌

Chú

黃粱 Hoàng lương: Kê vàng. Xưa có anh chàng hỏng thi, ghé vào quán ăn bữa trưa. Trong lúc chờ ăn, anh chàng thiếp đi. Trong mơ thấy mình thi đỗ làm quan, sự nghiệp hiển hách vợ đẹp con ngoan. Sau vì dâng sớ đàn hặc nịnh quan nên bị tù tội đói khát. Anh chàng tỉnh giấc, thấy nồi cháo kê còn chưa chín.

Âm

Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư,
Giác lai vạn sự tổng thành hư.
Như kim chỉ ái sơn trung trú,
Kết ốc hoa biên độc cựu thư.
Nguyễn Trãi

Nghĩa

Cuộc đời chỉ là dư âm của một giấc hoàng lương, Tỉnh ra thấy vạn sự đều hư huyễn.
Như nay chỉ thích ở trong núi, Làm nhà bên luống hoa mà đọc sách xưa.

Tạm dịch

Cuộc đời như một giấc mơ trưa,
Tỉnh dậy mọi điều thật huyễn hư.
Nay chỉ thích vào trong núi ở,
Cất lều bên suối đọc thơ xưa.

tranh Đặng Can