Bông giấy
Tưởng ta nhớ chú lắm sao
Này cây bông giấy bên rào năm xưa
Chẳng qua trời đổ cơn mưa
Thì thương cành mọn đong đưa một mình.
Cao Tần
(tháng 12, 77)
Cao Tần: https://8khung.blogspot.com/2016/09/ta-lam-gi-cho-het-nua-oi-sau.html
Bông giấy
Tưởng ta nhớ chú lắm sao
Này cây bông giấy bên rào năm xưa
Chẳng qua trời đổ cơn mưa
Thì thương cành mọn đong đưa một mình.
Cao Tần
(tháng 12, 77)
Cao Tần: https://8khung.blogspot.com/2016/09/ta-lam-gi-cho-het-nua-oi-sau.html
壬寅年六月作
年來夏旱又秋霖,
禾稿苗傷害轉深。
三萬卷書無用處,
白頭空負愛民心。
陳元旦
Âm
Niên lai hạ thử hựu
thu thâm,
Hòa cảo miêu thương họa chuyển thâm.
Tam vạn quyển thư vô dụng xứ,
Bạch đầu không phụ ái dân tâm.
Nghĩa: Thơ viết vào Tháng 6 năm Nhâm Dần.
Năm ngoái mùa hè thì hạn, đến thu lại mưa dầm,
Lúa bị khô, mạ
bị hư, thiệt hại thêm nặng.
Đọc ba vạn quyển sách không biết dùng vào đâu,
Bạc đầu rồi mà đành phụ lòng
thương dân.
Tạm dịch: Thơ làm
vào tháng sáu năm Nhâm Dần
Năm qua hè hạn, thu mưa dầm,
Mạ héo rồi thì lúa nước ngâm.
Đọc vạn sách không dùng được việc,
Bạc đầu còn phụ nỗi thương dân.
Chú
- - 空負 không phụ = cô phụ, phụ lòng.
陳元旦 Trần Nguyên Đán (1325 - 1390), chắt của Trần Quang Khải, ông ngoại của Nguyễn Trãi. Làm quan đến chức Tư đồ thời cuối nhà Trần. Năm 1385 xin trí sĩ, về sống ẩn dật tại Côn Sơn.
Bài thơ này ông làm năm Nhâm Dần 1362, lúc đang giữ chức Đại phu Ngự sử đài, chuyên việc can gián dưới triều vua Trần Dụ Tông.
年来夏旱又秋霖,夜聞棹歌
欸乃漁人曲,
餘音聽不窮。
正多滄海意,
況在月明中。
從善王
Âm
Ai nãi ngư nhân
khúc, Dư âm thính bất cùng.
Chính đa thương hải ý, Huống tại minh nguyệt trung.
Nghĩa. Đêm nghe tiếng hò người chèo đò
Chao ôi là tiếng hò người đánh cá trên sông, dư âm nghe hoài
không hết.
Bởi ý tứ đa phần là than thở về sự đời thay đổi, lại vang lên trong đêm trăng
sáng.
Tạm dịch
Tiếng hò người đánh
cá,
Vang vọng mãi khôn
cùng.
Lời thở than dâu biển,
Dưới trăng thêm não
nùng.
Giản thể. 夜闻棹歌.
欸乃渔人曲,余音听不穷。
正多沧海意,况在月明中。
臨終詩
生在陽間有散場,
死歸地府也何妨。
陽間地府俱相似,
只當漂流在異鄉。
唐寅
Âm
Sinh tại dương gian
hữu tán trường, Tử quy địa phủ dã hà phương.
Dương gian địa phủ câu tương tự, Chỉ đáng phiêu du tại dị hương.
Chú
- 散場 tán tràng: lúc tan rã, kết thúc. 散 tán: tan. 場 tràng, thường đọc là trường, ngoài nghĩa thường gặp là chỗ đất trống, rộng phẳng hoặc nơi đông người làm việc, còn là thuật ngữ dùng trong hí kịch, có nghĩa là đoạn, cảnh, như khai tràng = cảnh mở đầu, chung tràng = cảnh kết thúc. Tác giả coi cuộc đời cũng là một vở kịch, có cảnh kết thúc, mà tác giả gọi là tán tràng.
唐寅 Đường Dần, tự 伯虎 Bá Hổ, là nhà thư họa, nhà thơ nổi tiếng đời Minh.
Nghĩa: Thơ viết lúc lâm chung
Sống trên cõi dương thì phải có lúc kết thúc,
Chết về cõi âm
thì có chi trở ngại?
Cõi dương hay cõi âm đều như nhau cả,
Chỉ là đi chơi hai chỗ khác nhau thôi.
Tạm dịch
Sống ở dương gian đến
hạ màn,
Chết về âm phủ có
chi than.
Dương gian âm phủ
như nhau cả,
Hai chốn rong chơi, chỉ
khác đàng.
Giản thể
生在阳间有散场,死归地府也何妨。
阳间地府俱相似,只当漂流在异乡。
臨刑口占
鼍鼔三聲畢,
西山日又斜。
黄泉無客舍,
今夜宿誰家。
孫蕡
Âm Hán Việt
Đà cổ tam thanh tất, Tây sơn nhật hựu tà.
Hoàng tuyền vô khách xá, Kim dạ
túc thùy gia.
Chú
-
臨刑口占 Lâm hình khẩu chiếm: thơ
đọc lúc bị thụ hình. 口占 đọc ngay thành thơ, không dùng bút
mực.
-
鼍鼔 đà cổ: trống bịt bằng da
con đà (một loài vật giống cá sấu).
孫蕡 Tôn Phần (1337-1393) nhà thơ thời Minh, tự Trọng
Diễn 仲衍, hiệu Tây Am tiên sinh 西庵先生. Thời gian làm quan ở Liêu Đông, vị tướng ở đây là Lam Ngọc
biết tiếng, nhờ đề thơ mấy bức họa. Sau lam Ngọc làm phản, ông bị liên lụy, xử
tử hình.
Tạm dịch
Ba tiếng trống vừa
dứt,
Non tây bóng xế tà.
Suối vàng không
quán trọ,
Lát tối ngủ đâu ta.
Giản thể
临刑口占.無題
大夢誰先覺,
平生我自知。
草堂春睡足,
窗外日遲遲。
諸葛亮/羅貫中
Âm
Đại mộng thùy tiên
giác, Bình sinh ngã tự tri.
Thảo đường xuân thụy túc, Song ngoại nhật trì trì.
Chú
- 諸葛亮/羅貫中: Gia Cát Lượng/La Quán Trung. La Quán Trung là tiểu thuyết gia đời Minh, tác giả bộ truyện Tam Quốc Chí diễn nghĩa. Bài thơ trên do nhân vật Gia Cát Lượng trong tác phẩm này, thường ngâm nga khi đang ẩn cư ở Long Trung.
Nghĩa.
Giấc mộng lớn này, ai là người tỉnh giấc trước?
Trong cuộc sống
ta luôn tự biết mình.
Trong gian nhà cỏ ngủ đẫy giấc xuân,
Bên ngoài song cửa, ngày tháng trôi chậm
chậm.
Tạm dịch
Mộng lớn ai say, tỉnh?
Ở đời ta biết ta.
Lều tranh xuân đẫy
giấc,
Ngoài cửa tháng ngày
qua.
Giản thể
望月懷遠
海上生明月,
天涯共此時。
情人怨遙夜,
竟夕起相思。
滅燭憐光滿,
披衣覺露滋。
不堪盈手贈,
還寢夢佳期。
張九齡
Âm
Hải thượng sinh minh nguyệt,
Thiên nhai cộng thử thì.
Tình nhân oán dao dạ,
Cánh tịch khởi tương ti (tư).
Diệt chúc liên quang mãn,
Phi y giác lộ ti (tư).
Bất kham doanh thủ tặng,
Hoàn
tẩm mộng giai kỳ.
Nghĩa. Nhìn trăng nhớ người xa.
Trên biển nhô lên vầng trăng sáng, Nơi góc trời lúc này hẳn cũng đang
cùng [ngắm trăng].
Người có tình oán hờn đêm dài, Suốt đêm sinh lòng nhớ nhung.
Tắt đèn vì thấy tiếc ánh trăng sáng, Khoác thêm áo vì thấy sương xuống
thấm ướt.
Khó lòng tặng nhau một tay đầy [ánh trăng], Trở vào ngủ [hi vọng có] một
giấc mơ đẹp.
Tạm dịch.
Biển rộng trăng vằng vặc,
Trời xa cùng ngắm trăng.
Đêm dài chi lắm vậy,
Thức trắng nhớ miên
man.
Khoác áo e sương
thấm,
Tắt đèn tiếc ánh
vàng
Chẳng sao vốc
trăng tặng,
Vào mộng gặp nhau chăng.
Chú
- 懷遠 hoài viễn: nhớ người thân ở xa.
- 情人 tình nhân: người đa tình, chỉ tác giả; cũng có người cho là chỉ thân nhân.
- Chú ý bài thơ có vần là 時, 思, 滋 và 期. Với người Tàu thì không có vấn đề gì, vì 4 chữ ấy lần lượt có pinyin là shí, sī, zī và qī. Nhưng người Việt đọc theo âm hán Việt là thì, tư, tư và kì là có vấn đề về vần; nên khi ngâm người ta sẽ đọc 思, 滋 (tư) là "ti" (dù rằng như thế cũng còn bị điệp vận)
張九齡 Trương Cửu Linh (678 - 740), tự Tử Thọ, người Thiều Châu, huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông. Từng làm đến tể tướng, có công lớn trong việc giúp nhà Đường bước vào thời cực thịnh. Về sau, mâu thuẫn phe phái trong triều, ông không được bụng vua, nên bị biếm đến Kinh Châu làm trưởng sử rồi mất ở đó.
Giản thể
海上生明月,天涯共此時。