23/4/20

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC 1


Trong thời gian gần đây thị trường sách Việt Nam đang sôi động với những bộ sách kinh điển về triết học: Phê phán lý tính thuần túy của Immanuel Kant, Bàn về tự do của John Stuart Mill, Khảo luận thứ hai về chính quyền của John Locke v.v. thuộc dòng kinh điển của triết học Tây phương. Trong khi đó, đối trọng lại, ở Đông phương những tác phẩm kinh điển cũng được dịch như: Triết giáo Đông phương, Kinh Dịch Và Cấu Hình Tư Tưởng Trung Quốc, Chu dịch đại truyện, Nho giáo... thực sự là những tín hiệu đáng mừng.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là những bước đi sơ khởi để bù đắp vào những thiếu hụt về mặt tri thức mà trước đây chúng ta chưa có điều kiện thực hiện. Những người làm sách, các công ty xuất bản, các nhà xuất bản, các dịch giả, tác giả... đang tiếp tục thực hiện công việc của mình, những công việc cho cả một thế hệ mai sau vì một nền học thuật dung chứa cả Đông lẫn Tây.
Trong bối cảnh như thế bộ sách: Lịch sử triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan được dịch sang tiếng Việt là một nỗ lực cần được trân trọng.
Bản thân Phùng Hữu Lan đã là một tên tuổi đáng cho chúng ta  ngưỡng mộ. Tốt nghiệp Đại học Columbia (Mỹ) năm 1924, rực sáng cuối thế kỷ XX như một sử gia lỗi lạc về triết học Trung Quốc kiêm triết gia hiện đại mà hệ thống triết học của ông được nghiên cứu với danh xưng rộng rãi “Phùng học”.
Nhưng có lẽ, điều đáng nói về cuộc đời của Phùng Hữu Lan chính là ở điểm: Ông tỏa ra một sức hút lạ kì với những người có dịp diện kiến ông. Minh chứng hùng hồn nhất chính là Derk Bodde. Vào những năm 1930, Derk Bodde sang Đại học Thanh Hoa (Bắc kinh) để học Phùng tiên sinh! Với chúng ta, ở thời điểm này, khi những quan hệ quốc tế được mở rộng, hành động này là một điều bình thường. Thế nhưng, vào lúc đó, việc làm của Derk Bodde là một điều kỳ lạ. Bấy nhiêu đó cũng đủ cho ta thấy tầm vóc học thuật, sự thu hút của một triết gia lỗi lạc đến nhường nào.
Chính bản thân của Derk Bodde sau này là người dịch, giới thiệu các tác phẩm của Phùng tiên sinh sang Mỹ và châu Âu. Và hiện nay nếu vào internet, chỉ cần gõ mục từ “Phùng Hữu Lan” sẽ thấy bộ sách này đang ở một vị trí quan trọng chương trình đào tạo triết học Đông phương của các trường đại học lớn trên thế giới.
Hãy nghe Derk Bodde tuyên tụng về bộ sách này:
“Bản dịch Anh ngữ này ra đời, với niềm hi vọng rằng nó sẽ giúp phương Tây thấy được một học giả Trung Quốc vốn được đào tạo theo kiểu phương Tây đã nhận định thế nào về nền triết học của chính đất nước ông... Trong các tác phẩm viết về thời kỳ này, bộ sách của Phùng Hữu Lan hẳn là hoàn bị nhất, và trong nhiều phương diện, người ta có thể hi vọng đây là một bộ sách tốt nhất” .
Nhưng bao nhiêu đó là dường như chưa đủ. Bởi vì, hơn cả việc trình bày về một giai đoạn lịch sử của tư tưởng, trong một chừng mực nào đó, bộ sách này chính là “chìa khóa” để mở cánh cửa vào nền văn hóa Trung Hoa. Mà đã nói đến nền văn hóa vĩ đại này, chúng ta có quá nhiều lý do để tìm hiểu nó.
Cũng theo lời Derk Bodde, việc tìm hiểu chính tác phẩm của Phùng Hữu Lan vượt lên trên những điều bình thường, mà có lẽ, trong cuộc sống chúng ta đã vô tình lướt qua:
“Khi đa số chúng ta cho rằng cái di sản văn hóa Hi Lạp và La Mã vẫn là tiêu biểu của thế giới, thì khoa học so sách các nền văn minh (trong đó có nền văn minh Trung Hoa-LT) càng cần thiết hơn bao giờ hết, không chỉ để hiểu nền văn hóa nước ngoài mà để hiểu nền văn hóa của chính chúng ta, ngõ hầu chúng ta có sự đánh giá khách quan” .
Đến đây có lẽ là quá đủ để nói đến việc bộ sách này được ra đời bằng ấn bản Việt ngữ quan trọng đến mức nào.
Nhiều người sẽ thắc mắc: trên thị trường trước đây có nhiều ấn bản viết về Lịch sử triết học Trung Quốc, vậy liệu công việc này có là một sự lãng phí không? Xin mở ngoặc một chút như thế này: quả là trước đây đã có những người biên soạn và dịch Lịch sử triết học Trung Quốc, nhưng để hệ thống, chặt chẽ và hoàn bị thì bộ sách này là đầu tiên và duy nhất.1
Một điểm cần lưu ý một chút về dịch giả và sự dụng công cho ấn bản tiếng Việt. Là một người say sưa với văn hóa Trung Quốc, Lê Anh Minh được biết đến khi tham gia biên soạn và dịch hàng loạt tác phẩm có giá trị như: Triết giáo Đông phương (đồng chủ biên), Kinh Dịch Và Cấu Hình Tư Tưởng Trung Quốc (đồng chủ biên), Lịch sử văn minh và các triều đại Trung Quốc (đồng chủ biên), Chu dịch đại truyện... Hơn thế, trong bản dịch này ngoài chú thích của Phùng Hữu Lan và Derk Bodde, chúng ta còn ghi nhận sự “đóng góp” của chính dịch giả để cho bản dịch không những trong sáng hơn, mà trong một tầm mức nào đó, tăng giá trị học thuật hơn.
Việc đọc sách triết luôn là một thử thách của bất kỳ ai. Bởi vì ở đó có sự dồn nén của ý tưởng. Hơn thế, các triết gia, nhất là triết gia Đông phương, thường nói qua “đám mây”, do vậy hiểu được họ nói gì đòi hỏi lòng kiên nhẫn. Nhưng, nếu từ từ, cẩn trọng đọc bộ sách này, chúng ta thấy nó sẽ là một trường hợp ngoại lệ hiếm hoi. Và do vậy, chúng ta có lý để tin rằng: mình được dẫn nhập vào nền văn hóa Trung Hoa một cách ngắn nhất và đúng nhất.
----------
Lịch sử Triết học Trung Quốc. Công ty Gia Vũ phối hợp với Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành quý I-2007.
1. Các công trình về lịch sử triết học Trung Quốc ở nước ta gồm có: Học giả Nguyễn Đăng Thục và học giả Nguyễn Hiến Lê có tham khảo bộ Trung Quốc Triết Học Sử (2 quyển) để viết triết học Trung Quốc. Về việc phiên dịch, dịch giả Nguyễn Hữu Ái lược dịch quyển 1 (Nxb Khai Trí, không rõ năm xuất bản). Dịch giả Nguyễn Văn Dương dịch quyển tóm tắt của bộ sử này, tức là quyển A Short History of Chinese Philosophy, nhưng vì ông không có bản tiếng Anh nên dịch lại bản dịch tiếng Pháp của Guillaume Dunstheimer. Bản dịch của ông nhan đề Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc (Viện Đại Học Vạn Hạnh ấn hành, 1968); gần đây được in lại.

Lê Tân
https://tiasang.com.vn/-tin-tuc/lich-su-triet-hoc-trung-quoc-1984

Mục lục

Quyển 1:

Lời tựa của dịch giả Derk Bodde

Lời tựa của bản dịch Việt ngữ

Biển rộng trời cao ta vút bay

Chương 1. Mở đầu

Chương dẫn nhập (Chương 1 rút gọn của dịch giả derk bodde)

Chương 2. Phiếm luận thời đại Tử học

Chương 3. Tư tưởng và tôn giáo trước thời Khổng Tử

Chương 4. Khổng Tử và khởi nguyên của Nho gia

Chương 5. Mặc Tử và Mặc gia thời kỳ đầu

Chương 6. Mạnh Tử và Mạnh học

Chương 7. Cái học Bách gia thời Chiến Quốc

Chương 8. Lão Tử và Lão học trong Đạo gia

Chương 9. Huệ Thi, Công Tôn Long, và các biện giả khác

Chương 10. Trang Tử và Trang học trong Đạo gia

Chương 11. Mặc kinh và các Mặc gia về sau

Chương 12. Tuân Tử và Tuân học trong Nho gia

Chương 13. Hàn Phi Tử và các pháp gia khác

Chương 14. Nho gia đời Tần và đời Hán

Chương 15. Vũ trụ luận trong Dịch truyện và sách Hoài Nam Hồng Liệt

Chương 16. Lục nghệ của Nho gia và sự độc tôn của Nho gia

Niên biểu thời đại Tử học

Quyển 2:

Chương 1: Phiếm luận về thời đại Kinh học

Chương 2: Đổng Trọng Thư và Kinh học Kim Văn

Chương 3: Cái học sấm vĩ và tượng số giữa hai đời hán

Chương 4: Kinh học cổ văn và Dương Hùng, Vương Sung

*

Tập 1





nguồn link: nhatbook.com

17/4/20

Tình yêu! ôi tình yêu!




Ca sĩ Christophe (từng được gt ở đây) vừa mất hôm qua, 16/4/2020, ở Pháp, do covid.
Trước đây ở nam, giới svhs ít ai ko nghe tên ông. Những bài hát của ông như Aline, J'ai entendu la mer, Mal, Je ne t'aime plus, .. đều được soạn lời Việt.

Oh Mon Amour có lẽ là bài hát được biết đến nhiều nhất của ông. Bài hát do Paul de Senneville, nhà soạn nhạc và nhà sản xuất đĩa nhạc người Pháp, sáng tác; được ông thu dĩa năm 1972, nhanh chóng phổ biến ở Saigon và được Nhật Ngân đặt lời Việt với nhan đề Tình yêu! Ôi Tình Yêu nổi tiếng một thời với tiếng hát Thanh Lan



Cuộc tình ngày đó đã ghi trong ta
Ôi bao nhiêu ngọt bùi, bao kỷ niệm
Rồi một trời tiếc nuối ôi xanh xao
Nghe tiếc nuối xót xa vô vàn
Giờ chỉ còn nước mắt rưng rưng thôi
Bao nhiêu đêm rồi thức trắng canh trường
Mình ta chua xót

Em nơi phương xa nào em có biết
Có hay tình ta nhớ thương vơi đầy
Em ơi, em ơi, ở nơi xa đó
Có bao giờ em tiếc thương ngày cũ?
Đắm đuối xa xưa, khi sống gần nhau
Hay em quên mau như cơn mơ ..

27/3/20

Từ nguyên của Hẻm và Ngõ


Bạn đọc: Xin ông cho biết nguồn gốc của hai từ “hẻm” và “ngõ” trong tiếng Việt? Xin cảm ơn. Đỗ Sơn Ngân (Paris)

Học giả An Chi: “Hẻm” và “ngõ” có thể được xem là một cặp đối lập về phương ngữ giữa tiếng Việt miền Nam với tiếng Việt miền Bắc. Hiện nay TP Hồ Chí Minh dùng “hẻm” để chỉ khái niệm mà Hà Nội gọi là “ngõ”.

“Hẻm” là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [險] mà âm Hán Việt hiện hành là “hiểm”. Trong tiếng Hán, “hiểm” có thể là danh từ hoặc tính từ nhưng một số quyển từ điển Hán Việt quen thuộc chỉ ghi nhận tính từ “hiểm” rồi dịch nghĩa là:

- “Hiểm nghèo, không bằng phẳng” (Đỗ Văn Đáp);

- “[Thế đất] khó đi, [sự tình] không tốt, [tính tình] tham độc” (Đào Duy Anh);

- “1. Hiểm trở […]; 2.[sự gì] yên hay nguy thành hay hỏng không thể biết trước được […]; 3.hiểm hóc, gian hiểm […]; 4.không dễ dàng, không như thường […]” (Thiều Chửu);

- “Khó khăn trở ngại - độc ác, hại người” (Nguyễn Quốc Hùng).

Xin nói rõ rằng trong khi dẫn lời giảng của Đào Duy Anh và Thiều Chửu, chúng tôi đã mạn phép đặt những từ “thế đất”, “sự tình”, “tính tình” và “sự gì” trong ngoặc vuông vì những từ này không trực tiếp thuộc về nghĩa của từ được giảng. Đó là những lời giảng về tính từ “hiểm” [險] của tiếng Hán trong một số từ điển Hán Việt. Tính từ này cũng đã được Mathews’ Chinese English Dictionary dịch là “dangerous” (nguy hiểm); còn Dictionnaire classique de la langue chinoise của F.S. Couvreur thì dịch là “haut, escarpé” (cao, dốc). Từ “hiểm” [險] này cũng chỉ đi vào tiếng Việt với tư cách tính từ và được Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) giảng là “1- có địa hình dễ gây tai nạn cho người đi lại [……] 2- ở vị trí mà nếu bị tổn thương thì dễ ảnh hưởng nghiêm trọng một cách khó lường với toàn bộ, toàn cục [……] 3- thường gây nguy hại một cách khó lường”.

Nhưng nếu chỉ đơn thuần căn cứ vào tính từ “hiểm” thì ta sẽ khó tìm đến được với từ nguyên của “hẻm” trong tiếng Việt trừ phi ta chịu nhìn vào cả danh từ “hiểm” [險] mà từ điển Couvreur dịch là “précipice, obstacle, endroit difficile à franchir” (vực thẳm, vật chướng ngại, chỗ khó vượt qua) còn từ điển Mathews thì dịch là “a narrow pass” (hẻm núi hẹp). Đây chính là cái nghĩa của từ “hẻm” trong “hẻm núi” và đây cũng  chính là căn cứ ngữ âm - Ngữ nghĩa cho phép ta khẳng định rằng “hẻm” trong “hẻm núi” chính là điệp thức của “hiểm-narrow pass”. Về nghĩa thì chuyện đã rõ còn về âm thì mối quan hệ giữa “hiểm” với “hẻm” vẫn là chuyện thường thấy qua nhiều thí dụ về IÊ- ↔ E- trước M, N, P, T và U[w]:

- “Biện” [瓣], cánh hoa ↔ “bèn” trong “rã bèn”;

- “Chiếp” [囁], dáng miệng mấp máy ↔ “chép” trong “chép miệng”;

- “Diệp” [葉], lá → chỉ cái gì mỏng, nhẹ ↔ “dẹp”;

- “Điếm” [玷], vết ố trên ngọc ↔ “đém” là cái đốm mờ;

“điến” [淟], vẩn đục, bẩn ↔ đen;

- “Kiềm” [鉗] là kìm kẹp, trói buộc ↔ “kèm” trong “kèm cặp”;

- “kiển” [繭] ↔ “kén” trong “kén tằm”;

- “Kiếu”, quen đọc thành “khiếu”

[叫], gọi  ↔ “kêu”;

- “Liệt” [烈], lửa cháy mạnh ↔ “lẹt” trong “khét lẹt”;

- “Nhiên” [然], đốt bằng lửa ↔ “nhen” trong “nhen nhúm”; v.v…

Cứ như trên thì “hẻm” trong tiếng Việt là do “hiểm” [險] (= hẻm núi) của tiếng Hán mà ra. Và trong tiếng Việt thì nó đã xuống núi mà đi vào thành phố, có nhiều phần chắc chắn là thông qua con đường của biện pháp ẩn dụ. Liên quan đến vấn đề này, chúng tôi muốn thảo luận kỹ về lời giảng từ “hẻm” trong Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên (TĐVT) và quyển từ điển cùng tên của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên (TĐHP). TĐHP giảng:

“I (danh từ) 1- lối đi hẹp, hai bên có vách núi cao: hẻm núi – hẻm đá || 2- (khẩu ngữ) ngõ hẻm (nói tắt) [……]

“II (tính từ) [đường, ngõ] nhỏ và hẹp, hai bên thường có tường vách, khó đi: hang cùng ngõ hẻm [……]”.

Còn TĐVT thì giảng:

“1- chật hẹp và khó đi: đường hẻm, ngõ hẻm. 2- ngõ hẹp, đường hẹp, hai bên có tường cao, núi cao”.

Mặc dù vẫn phảng phất nghĩa gốc của từ “hẻm” nhưng những lời giảng trên đây thì lại không rạch ròi, trước nhất là ở chỗ tiếng Việt chỉ có tính từ “hiểm” chứ không có tính từ “hẻm”. Hai thí dụ “đường hẻm”, “ngõ hẻm” trong TĐVT là những danh ngữ cố định còn thí dụ “hang cùng ngõ hẻm” trong TĐHP là một thành ngữ nên ta không thể căn cứ vào những tổ hợp cố định để chứng minh về từ loại của từ “hẻm”. Đó là ta còn chưa nói đến chuyện “hang cùng ngõ hẻm” chỉ là  “hang cùng ngõ hẹp” bị bóp méo mà thôi. Ngoài những tổ hợp này và một vài tổ hợp cố định khác mang tính phương ngữ (như “xó hẻm”, “lỗ hẻm”), ta không thể tìm thấy bất cứ một cấu trúc tự do nào trong đó “hẻm” lại là một tính từ. Tiếng Việt chỉ có danh từ “hẻm” mà thôi, như trong tiểu mục I.1. của TĐHP và tiểu mục 2 của TĐVT. Ngay từ giữa thế kỷ XVII, “hẻm” đã tồn tại như một danh từ, như đã thấy trong từ điển 1651 của A. de Rhodes. Như vậy là tiếng Việt đã theo rất sát nghĩa gốc của danh từ “hiểm”, ghi bằng chữ [險] trong tiếng Hán. Đây là một chữ thuộc bộ “phụ” [阜] (đứng bên trái làm bộ thủ thì viết thành [阝]),dùng để chỉ những khái niệm vốn liên quan đến núi. Chữ này có một đồng nguyên tự là [嶮], cũng đọc là “hiểm”, thuộc bộ “sơn” [山]; bộ này tất nhiên cũng dùng để chỉ những khái niệm vốn liên quan đến núi. Những cứ liệu trên cho phép ta khẳng định rằng “narrow pass” (hẻm núi hẹp) trong từ điển Mathews mới đích thị là nghĩa gốc của danh từ “hiểm” trong tiếng Hán.

Thế là từ “hiểm” [險] của tiếng Hán đã đi vào tiếng Việt với hai hình thức ngữ âm khác nhau:

1- Với âm “hiểm” thì đây là một tính từ được dùng theo nghĩa bóng (so với nghĩa gốc trong tiếng Hán);

2- Với âm “hẻm” thì đây là một danh từ, được dùng theo nghĩa gốc trong tiếng Hán.

Những quyển từ điển ra đời trước thế kỷ XX đều chỉ ghi nhận “hẻm” với tính cách là một danh từ (chứ không phải tính từ):

- Từ điển A. de Rhodes: “caminho estreito || semita” (đường nhỏ hẹp).

- Dictionarium Anamitico Latinum của Pierre Pigneaux de Béhaine: “semita” (đường nhỏ hẹp).

- Quyển từ điển cùng tên của J.L. Taberd (Serampore, 1838) cũng dịch y hệt.

- Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của: “chỗ chẹt, chỗ hóc hiểm”.

- Dictionnaire annamite-français của J.F.M. Génibrel: “sentier” (đường mòn).

Mà ngay trong một cấu trúc cố định như “đường hẻm”, chẳng hạn, thì “hẻm” cũng chẳng phải là tính từ như TĐHP và TĐVT đã ngộ nhận. “Đường hẻm” cũng có cấu trúc y hệt như “đường lộ” (trong phương ngữ Nam Bộ). Ở đây, ta tuyệt đối không có bất cứ lý do ngữ học nào để phủ nhận từ loại danh từ của “lộ” mà ghép nó vào từ loại tính từ. “Lộ” là danh từ 100%. Thì “hẻm” cũng thế thôi chứ không thể nào khác. “Hẻm” cũng như “lộ” đều là những danh từ đứng làm định ngữ cho danh từ “đường” để tạo ra những hạ danh (hyponym) “đường hẻm”, “đường lộ” mà “đường” là thượng danh (hyperonym). Trong trường hợp này và hai trường hợp trên, ta không thể chơi theo cái mốt của TĐHP và TĐVT mà gọi “hẻm”, “lộ” là tính từ được.

Tóm lại, tiếng Việt chỉ có danh từ “hẻm” chứ không có tính từ “hẻm”. Và “hẻm” là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [險] mà âm Hán Việt hiện hành là “hiểm”, có nghĩa gốc là đường núi nhỏ hẹp quanh co. Đi vào tiếng Việt dĩ nhiên là nó vẫn giữ nguyên nghĩa gốc đó trong danh ngữ “hẻm núi” mà nam thanh nữ tú thời @ có thể ít ai biết đến (Chúng tôi chỉ nói về mặt từ ngữ chứ không nói đến địa vật). Nhưng “hẻm” còn xuống núi rồi đi vào thành phố và được vận dụng theo biện pháp ẩn dụ để chỉ những con đường nhỏ hẹp, quanh co, so với những con đường chính mà chúng được xem là nhánh.

Còn “ngõ” thì sao? Thì cũng là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [戶] mà âm Hán Việt hiện hành là “hộ”. “Môn” là cửa hai cánh; “hộ” là cửa một cánh. Phần lớn các quyển từ điển đều giảng như thế. Nhưng Từ hải (bản cũ, thời Dân Quốc) đi xa hơn và đầy đủ hơn nên đã giảng kỹ thêm: “[…] phàm xuất nhập xứ viết hộ; […] trùng huyệt chi xuất nhập xứ; […] điểu sào chi xuất nhập xứ” (phàm chỗ ra vào [đều] gọi là hộ; […] chỗ ra vào của hang thú; […] chỗ ra vào của tổ chim). Chính vì cái nghĩa rộng này nên từ điển Thiều Chửu mới dịch “hộ” là “cửa ngõ” còn từ điển Nguyễn Quốc Hùng thì dịch là “cửa”, là “cổng”. Đó là nói về mặt ngữ nghĩa; nó cho ta thấy mối tương quan giữa “hộ” [戶] và “ngõ”.

Còn về ngữ âm thì chúng tôi đã có nói đến duyên nợ lịch sử giữa ba nguyên âm U, Ô, O nên xin không nhắc lại ở đây. Riêng về mối quan hệ phụ âm đầu “H ↔ NG”, rất xưa,  giữa “hộ” và “ngõ”, thì ta cũng có thể tìm được một số dẫn chứng. Trước nhất, ngay trong nội bộ của tiếng Hán và chữ Hán, thì từ/chữ có phụ âm đầu NG vẫn được dùng làm thanh phù cho từ/chữ có phụ âm đầu H, hoặc ngược lại, như:

- “Ngà”, nay đọc thành “nha” [牙] hài thanh cho “ha” [訶];

- “Ngọ” [午] hài thanh cho “hứa” [許];
- “Nguyên [元] hài thanh cho “hoàn” [完], [岏];
- “Ngược” [虐] hài thanh cho “hước” [謔];
- “Nghiêu” [堯] hài thanh cho “hiêu” [嘵], [髐]; v.v...
Ngược lại:
- “Hóa” [化] hài thanh cho “ngoa” [訛], [靴], [囮];;
- “Hiện” [見], cũng có âm “kiến”, hài thanh cho “nghiễn” [硯]; v. v…
Rồi sang tiếng Việt thì ta có:
- “Hàm” [含] ↔ “ngậm”;
- “Hám” [咸] là đầy đủ (cũng đọc “hàm”, với nghĩa khác) - “ngám” (= vừa khít);
- “Hôi: [灰], nguội lạnh ↔ “nguôi/nguội”;
- “Hồng” [鴻] , vịt trời ↔ “ngỗng”;
- “Hung” [匈], ác, xấu  ↔ “ngông”;
- “Huyết” [目+ 穴], liếc nhìn sợ hãi ↔ “nguýt” (lườm); v.v…
Trở lên là cứ liệu về tương quan H ↔ NG; còn về quan hệ giữa thanh điệu 6 (dấu nặng) của “hộ” với thanh điệu 3 (dấu ngã) của “ngõ” thì đây cũng là chuyện mà ngữ âm học lịch sữ đã khẳng định. Bây giờ xin trở lại với nghĩa của “ngõ” trong tiếng Việt. Từ điển A. de Rhodes có mục “ngõ, cửa ngõ” mà lời giảng bằng tiếng Bồ và tiếng La đã được nhóm Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính dịch là “cửa phía ngoài sân của ngôi nhà và giáp với công lộ”. Nghĩa này của danh ngữ “cửa ngõ” vẫn được phương ngữ Nam Bộ dùng cho đến gần đây để chỉ khái niệm “cổng” của phương ngữ Bắc Bộ. Trong danh ngữ này thì “ngõ” là chỗ từ sân nhà đi ra đường và từ ngoài đường đi vào sân nhà còn “cửa” là vật chắn chỗ đó để đóng mở khi cần thiết. Nghĩa của “ngõ” ở đây hoàn toàn trùng hợp với nghĩa của chữ “hộ” [戶] mà Từ hải đã giảng mở rộng là “phàm chỗ ra vào đều gọi là hộ; chỗ ra vào của hang thú; chỗ ra vào của tổ chim”. Đây chính là nghĩa gốc của từ “ngõ” trong tiếng Việt; nghĩa này đã đưa đến nghĩa phái sinh mà TĐHP giảng là “đường nhỏ và hẹp trong làng xóm, phố phường”. Đây chính là cái nghĩa của từ “ngõ” mà người Hà Nội đang dùng để chỉ khái niệm “hẻm” ở trong Nam.

A.C

Năng lượng Mới số 530

18/3/20

Biết Nói Gì Về Thái Thanh?

Thái Thanh đã mất lúc 11:50 am tại Miền Nam Cali. Hưởng thọ 86 tuổi.
Nhớ những chiều xưa tìm đến quán cafe vắng, nhờ mở nghe Thái Thanh, vừa uống cafe vừa đọc Kim Dung .. Tiếng hát Thái Thanh vẫn là chỗ dựa cho những nỗi buồn vô cớ (và có cớ), cho đến bây giờ ..

Rất nhiều người đã viết về Thái Thanh, người ca ngợi hết lời, nhưng cũng có người lắc đầu nghe ko vô .. Cũng là chuyện bình thường, như người thích đùi gà, người lại sợ đùi gà như sợ phong.

Copy về đây cho ai chưa đọc bài  viết của Ấu Lăng trên trang web Văn Học & Nghệ Thuật ngày 03/11/2012. Trong bài gốc, link các bài hát đưa lên dropbox và cả Youtube tiếc là đã bị hỏng cả. Xin thay lại bằng một playlist link Youtube (có thể ko đúng version của link gốc) đặt ở cuối bài

*

Không chỉ một người, tiếp cận "hiện tượng" Thái Thanh từ góc độ "tiểu sử" (một tiểu sử "trải dài" vài thời kỳ lịch sử thăng trầm của đất nước, mà chủ yếu là "đất nước" VNCH trước 1975) cùng toàn bộ gia tài đồ sộ (năm bẩy trăm) các ca khúc bà đã hát (từ dân ca, tình ca, tâm ca, bi ca, hoan ca, hùng ca, đạo ca, ...), đã gọi bà là tiếng "khóc cười theo mệnh nước nổi trôi". Cũng không chỉ một người, từ góc độ "thưởng thức ca nhạc", mệnh danh bà là "tiếng hát vượt thời gian", "giọng ca vàng không tuổi" - chính xác là "The Ageless Golden Voice", như được in trên bìa một băng nhạc SG xưa. (Chưa kể đến năm 1998 tôi được nghe một danh xưng nữa dành cho danh ca, từ miệng một giáo viên mới ở Hà Nội vào Sài Gòn: "Ở ngoài ấy người ta gọi Thái Thanh là Tiếng Hát Lên Đồng"!)

29/2/20

Cuộc sống ở trong ngôn ngữ

Sách gồm những bài viết của Hoàng Tuệ, nêu lên những điều thú vị trong ngôn ngữ, đặc biệt trong ngôn ngữ của một số nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, ..

GS Hoàng Tuệ (1922 - 1999) là nhà ngôn ngữ học, nguyên là viện trưởng Viện ngôn ngữ học Việt Nam (1977 - 1983).



nguồn link: nhatbook
mua sách: https://tiki.vn/cuoc-song-o-trong-ngon-ngu-tai-ban-p9810492.html?

14/2/20

Hãy cứ là tình nhân

Valungtung năm nay chẳng mấy ai còn đầu óc nghĩ đến hoa hoét hay dắt nhau đi lung tung đâu đó .. Có lẽ chỉ trừ Hà Nội. Ở đó nam thanh nữ tú vẫn đầy tinh thần lạc quan cách mạng mang khẩu trang đi nghe hát Hãy cứ là tình nhân ..


live show "Hãy cứ là tình nhân" ở TTHNQG Ha Nội hôm 9/2/2020

Hãy cứ là tình nhân vốn là tên một bài hát của Tú Minh. Mời nghe chính tác giả trình bày

24/1/20

Chiều cuối năm


Chiều cuối năm đứng bên dòng sông buồn
Nhìn nước trôi, nước trôi về đông phương
Chiều cuối năm, tiếng gió như gọi hồn
Ai tha hương lạc loài, xưng xăng không kịp về
Cội nguồn xưa dấu yêu.

Chiều cuối năm tiếng con tàu lăn đều
Làm xốn sang những linh hồn cô liêu
Chiều cuối năm khói bếp ai vật vờ
Theo mây lên bầu trời bay lang thang một đời
Tựa đời ta lãng du.

Chiều cuối năm rồi, lòng nhớ tơi bời
Nào bóng quê hương, nào bóng yêu thương
Chiều cuối năm rồi, một bóng bên trời
Một bóng chơi vơi, nhìn cánh chim bay
Bay về đâu chiều cuối năm.



Chiều cuối năm là nhạc phẩm của Đynh Trầm Ca. Ông tên thật là Mạc Phụ, sinh năm 1941 tại Điện Bàn Quảng Nam. Tốt nghiệp ĐHSP Sài gòn, trước 4/1975 đi dạy. Sau đó thì về quê làm ruộng một thời gian rồi lang bạt vào Sài gòn, về miền Tây làm đủ nghề kiếm sống. Sau khi có vợ (198x) thì trở về lại quê nhà mở quán cafe.
Ông làm thơ từ hồi 1960, theo học nhạc với Lê Trọng Nguyễn (tác giả Nắng Chiều), được mọi người biết từ 1967 với tác phẩm Ru Con Tình Cũ.
Tính đến nay ông đã cho xb mấy tập thơ và gần trăm ca khúc, trong đó có một số kí tên Mã Thu Giang (tên vợ ông)

Chú
1. Bút danh của ông là Đynh Trầm Ca, Đynh viết với y dài. Dù khác chuẩn chính tả tiếng Việt, thì đấy là tên (bút danh) riêng, và cần tôn trọng, viết đúng - chứ không phải như wikipedia bảo là sai và tự ý sửa lại thành Đinh. (dù Đinh vốn là họ mẹ của ông).
2. .. xưng xăng không kịp về .. Chả hiểu xưng xăng nghĩa là gì. Tra một số từ điển có trong tay ko thấy. Đoán là tiếng địa phương Quảng Nôm. Ai biết nghĩa chỉ giùm nhé. tks.