24/11/24

Tống nhân bắc hành


送人北行 
都門回首樹蒼蒼,
立馬頻斟勸客觴。

一段離情禁不得,
津頭折柳又斜陽。
阮億

Chú

-          北行 đi về phương bắc. Ở đây có lẽ chỉ việc đi sứ qua Tàu. Nguyễn Ức còn có một bài thơ thất ngôn bát cú làm tiễn Mạc Đĩnh Chi đi sứ qua Tàu.

-          都門 cửa thành nơi kinh đô.

-          立馬 cho ngựa đứng lại. 頻斟 tần châm: mấy lần rót rượu. 頻 tần, phó từ: nhiều lần. 勸 khuyến: mời. 觴 thương: chén uống rượu; uống rượu.

-          離情 tình cảm lúc chia tay. 禁不得 câm bất đắc: không nhịn được, không chịu được. 禁 câm: đương nổi, chịu được.

-          津頭 tân đầu: bến sông. 頭 đầu, trợ từ, đặt sau danh từ/động từ/tính từ/phương vị từ để tạo thành danh ngữ. Như 舌頭 lưỡi, 木頭 gỗ, 石頭 đá, 念頭 ý nghĩ, 甜頭 vị ngọt, 後頭 phía sau, 上頭 phía trên ..

-          折柳 chiết liễu: bẻ cành liễu; chỉ sự chia tay. Tục xưa của người Tàu khi chia tay thì bẻ cành liễu tặng nhau. Chú ý liễu 柳 có cùng bính âm /liǔ/ với lưu 留 (trong lưu luyến 留戀 quấn quýt không muốn rời nhau).

Giản thể.

都门回首树苍苍,立马频斟劝客觞。
一段离情禁不得,津头折柳又斜阳
。

Âm.

Đô môn hồi thủ thụ thương thương,
Lập mã tần châm khuyến khách trường.
Nhất đoạn li tình câm bất đắc,
Tân đầu chiết liễu hựu tà dương.

Nghĩa. Tiễn người đi qua Tàu.

Ngoảnh lại nhìn cửa kinh thành cây cối xanh xanh,
Dừng ngựa mấy lần rót rượu mời người ra đi.
Một chút bịn rịn lúc chia tay không nín nhịn được,
Bên bến sông bẻ cành liễu tặng nhau dưới nắng chiều.

Tạm dịch

Cửa thành cây cối vẫn xanh tươi,
Dừng ngựa bao phen rót rượu mời.
Một chút ngậm ngùi không cản được,
Bến sông bẻ liễu bóng chiều rơi.

 

RANGING BULL (1980)


“Raging Bull” (1980) là một bộ phim tiểu sử và chính kịch kinh điển của Mĩ, do Martin Scorsese đạo diễn. Bộ phim dựa trên cuốn hồi kí “Raging Bull: My Story” của võ sĩ quyền Anh huyền thoại Jake LaMotta.
Nội dunh bộ phim xoay quanh cuộc đời của võ sĩ quyền Anh hạng trung tài năng phi thường này. Phim không chỉ tập trung vào sự nghiệp đấm bốc của ông mà còn đi sâu vào những khía cạnh tâm lí và mối quan hệ cá nhân phức tạp, đặc biệt là với người vợ Vickie (do Cathy Moriarty thủ vai) và em trai Joey (do Joe Pesci thủ vai).
Bộ phim nổi bật với cách kể chuyện chân thực, khai thác mặt tối của danh vọng và những xung đột nội tâm của LaMotta. Từ đỉnh cao của sự nghiệp thể thao đến sự sa ngã trong cuộc sống cá nhân, “Raging Bull” là một câu chuyện về sự đấu tranh, cả trong và ngoài sàn đấu.
Với phong cách đạo diễn đầy cảm xúc và sự tỉ mỉ, Scorsese đã biến “Raging Bull” thành một kiệt tác nghệ thuật. Phim được quay hoàn toàn bằng tông màu đen trắng, mang lại cảm giác hoài cổ và tạo nên sự khác biệt so với các phim cùng thời.
Trong bộ phim này ta sẽ gặp lại De Niro, người từng vào vai Bố già trong The Godfather 2, và lấy thêm một Oscar cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất.
Phim sử dụng bản nhạc cổ điển “Intermezzo” từ opera Cavalleria Rusticana, làm tăng thêm sự bi thương, lắng đọng cho bộ phim.
Thành tựu:
• Được đề cử 8 giải Oscar, trong đó chiến thắng 2 giải (Nam diễn viên chính và Dựng phim xuất sắc nhất).
• Được coi là một trong những bộ phim vĩ đại nhất mọi thời đại. Năm 1990, “Raging Bull” được chọn để bảo tồn trong Viện lưu trữ phim quốc gia Mỹ vì ý nghĩa văn hóa, lịch sử và nghệ thuật.
• Trong danh sách AFI năm 1998, phim được xếp hạng #24, đến 2007, phim được xếp hạng #4, thế chỗ cho Cuốn theo chiều gió.
Ai thích những bộ phim về tâm lý phức tạp thì Raging Bull là một kiệt tác không thể bỏ qua!
Xem phim: https://fsharetv.com/w/raging-bull-episode-1-tt0081398?

21/11/24

Điếu Phan Thanh Giản

Góp phần tìm hiểu bài thơ điếu Phan Thanh Giản bằng chữ Hán của Nguyễn Đình Chiểu
Trần Huy Bích
(Bài trên trang Văn Việt, bị chặn nên lấy về đây cho dễ đọc)

Hai bài thơ Nguyễn Đình Chiểu làm để điếu Phan Thanh Giản có thể được sáng tác ngay sau khi Phan Thanh Giản quyên sinh (năm 1867) hay – ở trường hợp bài chữ Hán – sau khi ông bị truy đoạt hết quan tước và đục tên khỏi bia Tiến sĩ. Từ đó đến nay đã trên 150 năm. Qua nhiều thế hệ, hai bài thơ ấy vẫn được coi là những tác phẩm bộc lộ niềm cảm thông trước hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của Phan Thanh Giản và bày tỏ lòng thương tiếc đối với ông. Ít năm gần đây, một vài tác giả ở trong nước biện luận rằng Nguyễn Đình Chiểu đã không thực sự thương tiếc Phan Thanh Giản, mà chỉ làm ra vẻ thương tiếc để mai mỉa và lên án ông. Những hàng phía sau là một cố gắng đọc lại bài thơ điếu bằng chữ Hán một cách cẩn trọng, để tìm hiểu chủ ý đích thực của Nguyễn Đình Chiểu khi sáng tác bài thơ ấy.

Khi Phan Thanh Giản quyên sinh năm 1867, Nguyễn Đình Chiểu bị mù đã được 18 năm (từ 1849). Các tác phẩm bằng quốc âm của vị thầy mất thị giác đã được các môn sinh của ông chép ra bằng chữ Nôm rồi về sau chuyển đổi sang chữ quốc ngữ. Các tác phẩm bằng chữ Hán hẳn cũng được ghi ra chữ Hán, nhưng sau một số lần sao đi chép lại, những chữ đồng âm nhưng khác nghĩa và những chữ có âm gần giống nhau đã rơi vào tình trạng “tam sao thất bổn,” khiến chúng ta thấy xuất hiện một số bản chữ Hán với cách viết và ý nghĩa khác nhau. Trước khi ông Lê Thọ Xuân liên lạc được với người con của Nguyễn Đình Chiểu là ông Nguyễn Đình Chiêm và cung cấp một bản thuộc loại “có thẩm quyền” cho bài thơ chữ Hán năm 1933 (bài “Danh nhơn Nam Kỳ,” Đồng Nai số 23 & 24, 15 Janvier – 2 Février 1933), chúng ta đã thấy có bản chữ Hán do ông Nguyễn Liên Phong đưa ra năm 1909 trong Nam Kỳ Phong Tục Nhơn Vật Diễn Ca (cuốn thứ 2, trang 71), và bản chữ Hán do ông Thái Hữu Võ đưa ra năm 1927 trong Phan Thanh Giảng Truyện (Sài Gòn : Xưa Nay, trang 46-47). Nhưng ông Lê Thọ Xuân chỉ cho biết là hai bài thơ do ông Thái Hữu Võ cung cấp có nhiều chỗ sai, và nêu ra những chỗ sai ấy bằng chữ quốc ngữ, chứ không cung cấp một bản viết đầy đủ và chính xác cho bài thơ chữ Hán. Những năm sau, bà Mai Huỳnh Hoa, cháu ngoại của bà Sương Nguyệt Anh (con gái của Nguyễn Đình Chiểu) và chồng bà là học giả Phan Văn Hùm, trong cuốn Nỗi Lòng Đồ Chiểu (bản in lần thứ hai, Sài Gòn : Tân Việt, 1957), cũng chỉ làm như thế, không cung cấp một bài thơ đầy đủ và chính xác ở dạng chữ Hán.

(Muốn biết hai bản chữ Hán với khá nhiều sai lầm của các ông Nguyễn Liên Phong và Thái Hữu Võ, xin vui lòng đọc trong cuốn Mối Thâm Tình Của Nguyễn Đình Chiểu Dành Cho “Quan Phan” Phan Thanh Giản của Winston Phan Đào Nguyên ([San Jose, Calif.] : Nhân Ảnh, 2022, các trang 55 và 61-62).

Tác giả đã đưa cuốn sách lên mạng tại địa chỉ sau đây:

https://app.box.com/s/p7e3mgfty0l1asrqkewxuck6bwqw7rny

Theo ông Lê Thọ Xuân, với bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đình Chiểu, bản do ông Thái Hữu Võ đưa ra trong Phan Thanh Giảng Truyện sai 8 chữ, thêm sự kiện hai chữ “thần” với những nghĩa khác nhau (“thần linh”神 và “vị quan, người bày tôi”臣) bị đặt sai chỗ, khiến ý nghĩa khác đi rất nhiều. Coi lại bản chữ Hán của ông Nguyễn Liên Phong, đối chiếu với bài viết của ông Lê Thọ Xuân, chúng tôi thấy có 7 chữ sai. Hai chữ “thần” cũng bị chép không đúng chỗ như thế.

Khi phân tích bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đình Chiểu, một vài tác giả ở trong nước trong ít năm gần đây đã dựa vào những bản bị chép sai ấy, đưa tới một số ngộ nhận rất đáng tiếc.

Mãi tới 15 năm trước đây, nhân được đọc một tài liệu Hán Nôm chép tay của gia đình Nguyễn Đình ở Bến Tre do bà Âu Dương Thị Yến cất giữ, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh mới cung cấp cho chúng ta một bài thơ chữ Hán thuộc loại có thẩm quyền trong Việt Nam Bách Gia Thi (Sài Gòn : NXB Văn Hóa, 2005). Đối chiếu bài này vói bài thơ chữ Hán chỉ có âm Hán Việt do học giả Phan Văn Hùm cung cấp sau khi tham khảo với ông Nguyễn Đình Chiêm, chúng tôi thấy hai bản gần như giống hệt nhau. Chỉ có hai chỗ khác trong câu 2, nhưng ý nghĩa không thay đổi nhiều:

Bản của ông Phan Văn Hùm: Vi quân nan bảo nhất phương dân

Bản của ông Cao Tự Thanh: Vi công thùy bảo nhất phương dân.

Trước những tranh luận sôi nổi về ý nghĩa của bài thơ mới được đưa ra gần đây, chúng tôi xin đóng góp chút nhận thức thô thiển. Trước khi làm việc này, chúng tôi có hoàn cảnh trao đổi thêm với hai vị có căn bản Hán học vững chắc ở ngoài nước, là Tiến sĩ Nguyễn Duy Chính và cô Nguyễn Ngọc Dung.

Câu 1:

歷仕三朝獨潔身

Lịch sĩ tam triều độc khiết thân


Câu này ý nghĩa khá đơn giản: Làm quan trải ba triều vua (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.

Câu 2:

微君難保一方民

Vi quân nan bảo nhất phương dân



Nếu không có ông, rất khó bảo vệ dân chúng một phương. Câu này muốn nói tới dân chúng miền Nam. Phan Thanh Giản từng được cử làm Khâm sai, Kinh lược sứ Nam kỳ, rồi về sau, Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây.

Chúng tôi đưa ra câu trên theo bản in trong Nỗi Lòng Đồ Chiểu của Phan Văn Hùm. Trong Việt Nam Bách Gia Thi của Cao Tự Thanh, câu ấy là:

微公谁保一方民

Vi công thùy bảo nhất phương dân.



Nếu không có ông, ai sẽ bảo vệ dân chúng một phương. Tuy ý nghĩa không khác nhau bao nhiêu, chữ “công” (ông, tướng công) trong bản của Cao Tự Thanh có vẻ thích hợp hơn. Phan Thanh Giản (sinh năm 1896) hơn Nguyễn Đình Chiểu (sinh năm 1922) 26 tuổi. Phan Thanh Giản là vị “Tiến sĩ khai khoa” cho miền Nam, một Hiệp biện Đại học sĩ, Khâm sai, Kinh lược đại thần, trong khi Nguyễn Đình Chiểu mới đậu Tú tài và chưa làm quan. Thêm vào đó, Nguyễn Đình Chiểu rất tôn trọng Phan Thanh Giản, vẫn thường nhắc đến ông qua các từ “Phan học sĩ, quan Phan.”

Câu 3:

龍湖寧負書生老

Long Hồ ninh phụ thư sinh lão

Long Hồ là tên cũ của tỉnh Vĩnh Long. Chữ “ninh” ở đây có nghĩa là “thà rằng, đành,” như trong câu “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (đành chết chứ không chịu nhục). Một số vị dịch thơ trước đây cho rằng chữ “phụ” trong câu này có nghĩa là “phụ lòng.” Chẳng hạn như trong bản dịch của nhà thơ tiền bối Thượng Tân Thị (1888-1966):

Long Hồ phụ lão thư sinh,

Ở nơi các Phụng không đành làm quan



Hay trong bộ Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập do các ông Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên soạn năm 1997 (Hà Nội : Văn Học, tập 2, trang 51-52):

Long Hồ thà phụ thư sanh lão

Phụng các suông quy học sĩ thần.



Theo các tự điển, chữ “phụ”負 ấy cũng có nghĩa là “vác, mang, gánh,” dùng theo nghĩa bóng là “gánh vác.” Chúng tôi tin rằng đó là ý của Nguyễn Đình Chiểu trong câu này. “Ninh phụ” có nghĩa: “đành phải ra gánh vác.”

Theo Đại Nam Thực Lục, sau khi ở Pháp về, Phan Thanh Giản được cử làm Lại bộ Thượng thư nhưng sau vua Tự Đức đổi ông làm Hộ bộ Thượng thư vì cho rằng ở Lại bộ công việc nhẹ. Ở Hộ bộ, phải lo ngân sách, tài chánh, kể cả khoản bồi thường chiến phí hàng năm phải nộp cho người Pháp, công việc nặng, cần người giỏi và tận tâm hơn. Sau đó, năm 1865, nhà vua cử ông làm Khâm sai, Kinh lược sứ, để lo giữ ba tỉnh miền Tây Nam phần. Cũng theo Đại Nam Thực Lục, Phan Thanh Giản đã xin về hưu (ông tới 70 tuổi theo cách tính của người Việt thời trước). Thực Lục chép, “Phan Thanh Giản vì tuổi già đã xin về hưu”. Vua Tự Đức tiếp riêng ông trong Nội các để trò chuyện. Phan Thanh Giản cho biết, “Thần … cảnh bóng dâu gần xế chiều, tự biết tinh thần, sức vóc không còn được như trước. Hồi tưởng lại người ta đến 70 tuổi như cỏ bồ cây liễu đã trải mùa thu, dẫu có lòng quyến luyến thiết tha nhưng sức ngựa đã hết, rất lo ứng phó không chu để lầm lỡ công việc, nên không dám không lấy tình thực trình bày.” Vua Tự Đức ủy lạo và nói, “Khanh nên cố gắng để khích lệ những người hậu tiến,” rồi lại nói, “Ngươi nên mạnh bạo mưu toan cho trót, quyết không nên thôi,” và không cho ông lui về. (Đại Nam Thực Lục. Hà Nội : NXB Giáo Dục, 2007. Tập 7, trang 944). Vì những lẽ ấy, theo chỗ chúng tôi hiểu, câu này có thể được viết với dấu ngắt câu:

Long Hồ ninh phụ, thư sinh lão.

Chủ từ của động từ “phụ” (mang, gánh vác) không phải là đất Long Hồ mà là người thư sinh già:

Người học trò già đành phải gánh vác việc [giữ đất] Long Hồ (tên cũ của tỉnh Vĩnh Long).

Có thể Nguyễn Đình Chiểu cũng muốn nói:

Long Hồ đành gánh vác, người thư sinh đã già.

Câu 4:

鳳閣空歸學士神

Phượng Các không quy học sĩ thần

Hồn người học sĩ (chỉ Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản) không đành, không lòng nào trở về Phượng Các (chỗ các quan làm việc). Không giữ nổi Vĩnh Long, ông đã bị truy đoạt hết chức tước, tên bị đục khỏi bia Tiến sĩ, linh hồn ông còn danh nghĩa nào để bay về Phượng Các là chỗ làm việc của các đại thần? Hai tiếng “không quy” không mang ý nghĩa “không về” (nếu “không về,” người xưa viết là “bất quy”). Ở đây là “về,” nhưng không thực sự về, về một cách không trọn vẹn, “về cũng như không.” Những cách dịch “về suông” hay “khôn về” (khó lòng về) đều có vẻ thích hợp.

Hai câu 5-6:

秉節曾勞生富弼

盡忠何恨死張巡

Bỉnh tiết tằng lao, sinh Phú Bật

Tận trung hà hận, tử Trương Tuần

Cầm cây cờ tiết của người đi sứ (cũng có thể hiểu là giữ tiết tháo), từng chịu gian lao, sống như ông Phú Bật (đời Tống).

Hết lòng trung, còn hận gì nữa, chết như ông Trương Tuần (đời Đường).

Trong một bài Đường luật bát cú, đây là hai câu “luận,” có nhiệm vụ bàn về nhân vật được nhắc đến trong bài thơ (Phan Thanh Giản).

Câu trên nhắc đến việc Phan Thanh Giản từng vất vả sang Pháp (cùng Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản), cố chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Câu dưới nhắc đến việc Phan Thanh Giản quyên sinh sau khi không giữ nổi Vĩnh Long.

Việc thi hành nhiệm vụ của hai ông Phú Bật và Trương Tuần thực ra không hoàn hảo. Tuy Phú Bật thuyết phục được người Khiết Đan rút quân, nhưng triều Tống phải tăng thêm số bạc và lụa nộp cho họ hàng năm. Tuy Trương Tuần giữ thành Tuy Dương được thêm một thời gian, nhưng những việc phải giết người thiếp yêu, rồi một số người già và trẻ con làm lương thực cho binh sĩ, chung quy thành vẫn mất và Trương Tuần vẫn chết, khiến thành tích không tốt đẹp một cách trọn vẹn. Nhưng nhiều phần Nguyễn Đình Chiểu không chú trọng đến những chi tiết ấy. Ông chỉ có ý nói: Phan Thanh Giản có thể so sánh với Phú Bật từng vất vả khi đi sứ, và với Trương Tuần chết theo thành.

Hai câu 7-8:

有天六省存亡事

安得從容就義臣

Hữu thiên, lục tỉnh tồn vong sự

An đắc thung dung tựu nghĩa thần.



Nghĩa đen của câu 7: Có Trời trong việc còn mất của 6 tỉnh. Câu này cũng có thể hiểu là: Chuyện còn mất của 6 tỉnh đã có Trời biết, để đưa tới câu 8: Mong có được người bề tôi biết thung dung tựu nghĩa (thung dung chết vì nghĩa).

“An đắc” có nghĩa “mong sao có được” như trong một bài ca của Hán Cao tổ Lưu Bang,

“An đắc mãnh sĩ hề, thủ tứ phương” (Mong sao có được những kẻ sĩ dũng mãnh để giữ bốn phương). Những chữ “thung dung tựu nghĩa”được lấy từ một cặp câu đối tương truyền là để điếu Lý Trần Quán, làm quan ở cuối đời Lê, sau khi ông tự tử (yêu cầu được chôn sống) vì Nguyễn Trang, người mà ông nhờ hộ vệ chúa Trịnh Khải đã nộp chúa cho quân Tây Sơn:

Khảng khái cần vương dị

Thung dung tựu nghĩa nan

(Khảng khái giúp vua là chuyện dễ, thung dung chết vì nghĩa mới khó).

Bốn chữ “thung dung tựu nghĩa” nói đến việc Phan Thanh Giản ung dung chọn cái chết sau khi không giữ nổi Vĩnh Long.

Xin được chép lại toàn thể bài thơ với lời giảng ra văn xuôi và một bản dịch thơ phía sau. Người viết xin chân thành cảm tạ chị Mỹ Ngọc, một cựu đồng môn, đã tiếp tay trong bản dịch thơ này:

歷仕三朝獨潔身

微君難保一方民

龍湖寧負書生老

鳳閣空歸學士神

秉節曾勞生富弼

盡忠何恨死張巡

有天六省存亡事

安得從容就義臣

Lịch sĩ tam triều độc khiết thân

Vi quân nan bảo nhất phương dân

Long Hồ ninh phụ thư sinh lão

Phượng Các không quy học sĩ thần.

Bỉnh tiết tằng lao, sinh Phú Bật

Tận trung hà hận, tử Trương Tuần

Hữu thiên, lục tỉnh tồn vong sự

An đắc thung dung tựu nghĩa thần.



Làm quan trải ba triều vua, riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.

Không có ông, rất khó bảo vệ dân chúng một miền.

Người học trò già đành ra gánh vác [việc giữ] Long Hồ

Hồn người học sĩ khó trở về Phượng Các.

Giữ tiết, từng gian lao, sống như Phú Bật đời Tống

Dốc hết lòng trung, còn hận gì nữa, chết như Trương Tuần đời Đường.

Chuyện còn mất của sáu tỉnh có trời ở trong.

Cốt sao có được người bày tôi thung dung chết vì nghĩa.

Dịch thơ (Nguyễn Mỹ Ngọc và Trần Từ Mai):

Thanh khiết ba triều vẹn tấm thân,

Một phương nguy khó gắng che dân.

Long Hồ đành chĩu vai nguyên lão,

Phượng Các khôn mong vía học thần.

Sống đã gian lao theo Phú Bật,

Chết đâu tiếc hận với Trương Tuần.

Mất còn sáu tỉnh, trời cao biết,

Sao được thung dung trọn nghĩa nhân.

Trần Huy Bích



PHỤ LỤC: BA BẢN DỊCH THƠ KHÁC

Bản dịch của Thượng Tân Thị

Mình trong sạch trải thờ ba chúa,

Không ông ai che chở dân lành.

Long Hồ phụ lão thư sinh,

Ở nơi các Phụng không đành làm quan.

Cầm tiết nhọc sống chàng Phú Bật,

Chết ngay sao giận uất Trương Tuần.

Mất còn sáu tỉnh trời phân,

Thung dung tựu nghĩa làm thần khó thay.

Bản dịch trong Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập của Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang (1997)

Thờ trải ba triều trọn sạch thân,

Không ông ai đỡ một phương dân.

Long Hồ thà phụ thơ sanh lão,

Phụng Các suông quy học sĩ thần.

Giữ tiết nhọc nhằn còn Phú Bật,

Hết trung nào giận mất Trương Tuần.

Mất còn sáu tỉnh trời kia biết,

Sao đặng thung dung tựu nghĩa thần?

Bản dịch của Cao Tự Thanh (2005)

Ba triều rõ mặt bậc tôi lành,

Che chở cho dân buổi lửa binh.

Phượng các khôn về hồn học sĩ,

Long Hồ thà chịu tiếng thư sinh.

Sống từng nhọc bấy thân đi sứ,

Chết lại hờn chi phận giữ thành.

Sáu tỉnh mất còn, trời đã định,

Nhưng tìm đâu được kẻ trung trinh.

(Việt Nam Bách Gia Thi)

Nhận xét:

1) Có lẽ đã dựa theo bản chép sai của ông Nguyễn Liên Phong hay ông Thái Hữu Võ, nhà thơ tiền bối Thượng Tân Thị đã hiểu chữ “thần” trong câu 4 là viên quan, và chữ “thần” trong câu 8 là ông thần.

2) Nhà thơ Thượng Tân Thị và nhóm ông Ca Văn Thỉnh đã hiểu chữ “phụ” trong câu 3 là “phụ bạc,” và cho rằng chủ từ của động từ “phụ” là tỉnh Long Hồ.

Bạc chu Ứng Phong đình ngẫu đề

泊舟應豐亭偶題

繫纜江亭覓勝遊,前朝行殿已荒丘。
鶯花不識興亡事,撩亂春光未肯休。

阮億

Chú

-          應豐亭 đình Ứng Phong ở phủ Nghĩa Hưng, Nam Định. Nhà Lí từng lập hành cung ở đây.

-          纜 (缆) dây neo thuyền.

-          勝 thắng: thắng cảnh.

-          前朝行殿 tiền triều hành điện: hành cung triều trước, ở đây là triều Lí.

-          撩亂 liêu loạn: làm rối tung.

-          春光 xuân quang: cảnh xuân.

-          未肯休 chưa chịu thôi.

阮億 Nguyễn Ức hiệu Lan Trai 蘭齋, chưa rõ quê quán và năm sinh, mất. Chỉ biết dưới triều Trần Minh Tông, ông từng làm quan ở viện hàn lâm. Nguyễn Ức còn là bạn thân của Văn Huệ Vương Trần Quang Triều, có tham gia thi xã Bích Động do Trần Quang Triều sáng lập.

Giản thể

系缆江亭觅胜游,前朝行殿已荒丘。莺花不识兴亡事,撩乱春光未肯休。

Âm

Hệ lãm giang định mịch thắng du,
Tiền triều hành điện dĩ hoang khâu.
Oanh hoa bất thức hưng vong sự,
Liêu loạn xuân quang vị khẳng hưu.

Nghĩa. Đậu thuyền bên đình Ứng Phong ngẫu hứng đề thơ.

Buộc thuyền nơi đình bên sông tìm xem cảnh đẹp.
Hành cung của triều đại trước nay đã thành gò hoang.
Chim và hoa không biết gì chuyện mất còn,
Vẫn bay hót, vẫn nở hoa tưng bừng không ngớt trong cảnh xuân.

Tạm dịch

Buộc thuyền thăm cảnh đẹp bên sông,
Điện cũ nay gò đất bỏ không.
Xuân đến chẳng hay chi được mất,
Chim lanh chanh hót, cỏ đơm bông.

19/11/24

Biên niên sử âm vật

Vagina Obscura: An Anatomical Voyage là một cuốn sách khoa học phi hư cấu xuất sắc của tác giả Rachel E. Gross, khám phá thế giới kỳ diệu và phức tạp của cơ thể phụ nữ, đặc biệt là các cơ quan sinh sản. Cuốn sách được xuất bản vào năm 2022 và nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh của giới phê bình nhờ cách tiếp cận thông minh, hài hước và đầy cảm xúc khi viết về một chủ đề còn nhiều định kiến và hiểu lầm.

Rachel E. Gross không chỉ cung cấp kiến thức khoa học mà còn làm sáng tỏ những lỗ hổng trong lịch sử nghiên cứu y học liên quan đến cơ thể phụ nữ. Cuốn sách khắc họa hành trình của tác giả qua các phát hiện về giải phẫu, sinh học, và sự đa dạng sinh học của các cơ quan như âm đạo, tử cung, buồng trứng, và cả hệ vi sinh vật liên quan.
Gross cũng dành nhiều trang để phê phán cách các định kiến giới đã làm lu mờ sự hiểu biết khoa học về sức khỏe sinh sản của phụ nữ, từ việc nghiên cứu chưa đầy đủ cho đến những chuẩn mực xã hội hạn chế việc thảo luận về cơ thể phụ nữ. Thông qua việc phỏng vấn các nhà nghiên cứu, bác sĩ và những người phụ nữ có trải nghiệm cá nhân độc đáo, Gross mở ra những góc nhìn mới về một chủ đề lâu nay bị xem là “nhạy cảm” hoặc “bí ẩn”.

Với văn phong vừa sâu sắc, vừa dễ tiếp cận, Gross kết hợp khoa học với những câu chuyện thực tế và yếu tố văn hóa để tạo nên một cuốn sách không chỉ cung cấp thông tin mà còn truyền cảm hứng. Tác giả cũng không ngại pha chút hài hước, giúp độc giả cảm thấy thoải mái khi đọc về những chủ đề tưởng chừng phức tạp.

Vagina Obscura không chỉ là một hành trình khoa học mà còn là một lời kêu gọi mạnh mẽ về sự bình đẳng trong y học và khoa học. Cuốn sách khuyến khích độc giả – cả phụ nữ lẫn nam giới – vượt qua những quan niệm cũ để hiểu sâu hơn về cơ thể con người và tôn trọng sự đa dạng sinh học.
Đây là một cuốn sách dành cho những ai muốn khám phá cơ thể con người theo cách sâu sắc và toàn diện hơn, đồng thời quan tâm đến việc phá vỡ các rào cản văn hóa và xã hội xung quanh vấn đề sức khỏe sinh sản.

Sách đã được dịch ra tiếng Việt dưới nhan đề: Biên niên sử âm vật. 
Bản dịch cũng đã được chuyển thành sách nói.

file audio: https://youtu.be/Ry2vSv3WnFo?si=xpsdcAHDsZbjEZXs

18/11/24

CÓ NGHĨA THẬT CHỨ KHÔNG PHẢI "LÁY"

 

An Chi : 𝐂𝐡𝐮́𝐧𝐠 𝐭𝐨̂𝐢 𝐯𝐚̂̃𝐧 𝐜𝐡𝐮̉ 𝐭𝐫𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐜𝐨́ 𝐜𝐚́𝐢 𝐠𝐨̣𝐢 𝐥𝐚̀ 𝐭𝐢𝐞̂́𝐧𝐠 đ𝐞̣̂𝐦 𝐜𝐮̃𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐮̛ 𝐜𝐚́𝐢 𝐠𝐨̣𝐢 𝐥𝐚̀ 𝐭𝐮̛̀ 𝐥𝐚́𝐲. 𝐓𝐢𝐞̂́𝐧𝐠 đ𝐞̣̂𝐦 𝐜𝐡𝐚̆̉𝐧𝐠 𝐪𝐮𝐚 𝐥𝐚̀ 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐭𝐮̛̀ 𝐜𝐨̂̉ 𝐦𝐚̀ 𝐧𝐚𝐲 𝐧𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐭𝐚 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐜𝐨̀𝐧 𝐛𝐢𝐞̂́𝐭 đ𝐮̛𝐨̛̣𝐜 𝐧𝐠𝐡𝐢̃𝐚. 𝐂𝐮̃𝐧𝐠 𝐯𝐚̣̂𝐲 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐜𝐚́𝐜 𝐲𝐞̂́𝐮 𝐭𝐨̂́ 𝐥𝐚́𝐲 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐭𝐮̛̀ 𝐥𝐚́𝐲.
Kỳ này, theo đề nghị của bạn, chúng tôi xin đưa ra them một số trường hợp bị xem là từ láy mà các yếu tố láy chẳng những thực tế là những yếu tố có nghĩa, mà đặc biệt hơn nữa, lại còn là những yếu tố Hán Việt hoặc gốc Hán nữa.
1.– “Ấp” trong “e ấp” là một yếu tố Hán Việt mà chữ Hán là [悒], có nghĩa là lòng dạ không yên.
2.–“Ấm” trong “ấm ức” là một yếu tố Hán Việt mà chữ Hán gồm có chữ “âm” [陰] bên trong chữ “nạch” [疒], có nghĩa gốc là tâm bệnh.
3.– “Ái” trong “êm ái” là một yếu tố Hán Việt mà chữ Hán là [藹], có nghĩa là có dáng dễ thương, ưa nhìn.
4.–“Bội” trong “bực bội” là một yếu tố Hán Việt mà chữ Hán là [悖], có nghĩa là mê hoặc, tâm loạn.
5.–“Bặn” trong “bằng bặn” là một yếu tố gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [坢] mà âm Hán việt là “phản”, có nghĩa là bằng phẳng.
6.–“Cáp” trong “cứng cáp” là một yếu tố gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [砝] mà âm Hán việt là “kiếp”, có nghĩa là cứng như đá.
7.–“Chí choé” là điệp thức của “chi chú” [支註], có nghĩa là nói líu ríu, khó nghe.
8.–“Chang” trong “chói chang” là điệp thức của “chương” [彰], có nghĩa là sáng sủa.
8.–“Chỉ” trong “chăm chỉ” là điệp thức của “chí” [覟], là nhìn kỹ.
9.–“Chạ” trong “chung chạ”, “lang chạ” là một yếu tố gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [藉], mà âm Hán Việt là “tạ”, có nghĩa là cẩu thả, bừa bãi.
10.–“Chắn” trong “chắc chắn” là điệp thức của “chân” [眞] trong “chân thật”.
11.–“Đảo” trong “đông đảo” là một yếu tố Hán việt mà chữ Hán là [擣] (cũng đọc là “trù”), có nghĩa là tụ họp.
12.–“Đềm” trong “êm đềm” là điệp thức của “điềm” [恬], có nghĩa là yên tĩnh.
13.–“Đặn” trong “đầy đặn” là điệp thức của “đạn” [僤], có nghĩa là đầy đặn.
14.–“Éo” trong “uốn éo” là điệp thức của “yểu” [夭], là co lại, không duỗi ra được.
15.–“Gùng” trong “gạn gùng” là điệp thức của “cùng” [窮], là tra cho ra lẽ.
16.–“Giáp” trong “nói láp giáp” là một yếu tố Hán, mà chữ Hán là [唊], có nghĩa là nói nhiều.
17.–“Hênh” trong “hớ hênh” là điệp thức của “hanh” [亨] trong “hanh thông”.
18.–“Hám” trong “hơi hám” là điệp thức của “ham”, gồm có “hương” [香] bên trái và “kim” [今] bên phải, có nghĩa là mùi hương.
19.–“Hỏng” trong “hát hỏng” là điệp thức của “hống” [哄], có nghĩa là hát.
20.–“Kỉnh” trong “cáu kỉnh” là điệp thức của “cảnh” [儆] là răn dạy.
21.–“Cỏi” trong “kém cỏi” là điệp thức của “quả” [寡], là ít ỏi, không đáng kể.
22.–“Quẽ” trong “quạnh quẽ” là điệp thức của “quả” [寡], với nghĩa đơn chiếc, không nơi nương tựa.
23.–“Lẹt” trong “khét lẹt” là điệp thức của “liệt” [烈], có nghĩa là lửa cháy mạnh.
24.–“Li bì” gồm có “li” [里 bên trong 疒] là yếu, bệnh và “bì” [疲] là mệt mỏi.
25.–“Lò” trong “lò dò”, “lò mò” là điệp thức của “lu/lâu” [婁] là nhìn kỹ.
26.–“Lừ” trong “lừ đừ” là điệp thức của “lữ” [亻bên cạnh 慮] là không cố gắng.
27.–“Lèo lá” là điệp thức của “lâu la” [偻儸], có nghĩa là gian xảo.
28.–“La” trong “lê la” là một yếu tố Hán Việt mà chữ Hán là [bộ 足 bên cạnh 羅], có nghĩa là đi một cách khó nhọc.
29.–“Lồ” trong “loã lồ” là âm xưa của “lộ” [露] trong “lộ liễu”.
30.–“Lăng” trong “lố lăng” là một yếu tố Hán mà chữ Hán là [陵], có nghĩa là lấn lướt, xúc phạm.
31.–“Lao” trong “lớn lao” là một yếu tố Hán Việt mà chữ Hán là [牢], có nghĩa là to lớn, vững chắc.
32.–“Màng” trong “mùa màng” là âm xưa của “mang” [忙] trong “mang nguyệt” là tháng bận rộn (ngày mùa).
33.–“Mỏ” trong “mắng mỏ” là điệp thức của “vũ” [侮], có nghĩa là … coi thường, mắng mỏ.
34.–“Mẹo” trong “mộng mẹo” là âm xưa của chữ “mão” [卯], có nghĩa là cái lỗ mộng. V. v..
Xin chú ý là có một vài trường hợp vì font chữ Hán thiếu chữ nên chúng tôi phải dùng lối miêu tả “X bên cạnh Y” đồng thời chúng tôi có dùng mấy cách diễn đạt khác nhau nhưng trừ những trường hợp của những yếu tố Hán Việt, còn lại thì đó đều là những trường hợp của các điệp thức.
Nguồn: Năng Lượng Mới số 576 [18-11-2016]
---
Thêm mấy chữ, không nhớ lấy từ đâu.
HAN trong “Hỏi han” có nghĩa là “hỏi tới”, “nói tới”.
“Trước xe lơi lả han chào / Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi” (Kiều).
CÙ trong cần cù là từ gốc Hán 劬 như trong cù lao 劬勞 công cha mẹ sinh đẻ nuôi nấng con khó nhọc.
ĐIẾNG trong "đau điếng" là yếu tố gốc Hán, bắt nguồn từ chữ đính 酊, có nghĩa là (say) không còn biết gì. Về ~inh >> ~iêng: "chinh” >> “chiêng”, “linh” >> “liêng” (linh thiêng – thiêng liêng).
CÁP trong "quà cáp" là một từ Việt gốc Hán mà chữ Hán là [bộ kiện 食 bên trái và chữ giáp 甲 bên phải], có nghĩa là bánh.
LỤNG trong “Làm lụng” vốn là “lộng” 弄 cũng có nghĩa là “làm”.
Mối quan hệ giữa hai vần “ông” và “ung” còn có thể tìm thấy ở tông tích – tung tích, đậu phộng – đậu phụng, phồng má – phùng má,…