Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hiển thị tất cả bài đăng

24/7/26

Thời gian sao mà xuẩn ngốc ...

Sáng nay trên trang Nguyễn Đăng Mạnh đăng lại bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường, trong đó có một đoạn dẫn Trần Trọng Kim ca ngợi Hồ Quý Ly trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên làm mình ngỡ ngàng. [1]

Bài viết một lần nữa xác định thêm ấn tượng của mình về ông: ông là một người sống theo, sống bằng cảm xúc. Cảm xúc giúp ông có những trang tùy bút tài hoa thuộc hàng đầu Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đẩy ông vào những ngộ nhận cay đắng, để lại cho ông những hối tiếc khôn lường.
Mình đã trao đổi chuyện này với Gemini, và dưới đây là bài tổng kết do Gemini thực hiện.
---
Hoàng Phủ Ngọc Tường — Bi kịch của một tâm hồn sống bằng cảm xúc
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam hiện đại. Ông mang tâm hồn của một thi sĩ, cái nhìn của một người khảo cứu văn hóa, nhưng lại sở hữu một lối viết tùy bút, bút ký tài hoa, mê đắm và tràn ngập liên tưởng. Thế nhưng, chính sự thăng hoa của cảm xúc — thứ làm nên những trang văn tuyệt mỹ trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông” hay “Rất nhiều ánh lửa” — lại là nguyên nhân đẩy ông vào bi kịch lớn nhất cuộc đời: vụ tai tiếng liên quan đến sự kiện Mậu Thân 1968 tại Huế.
1. Bản chất văn chương: Khi cảm xúc lấn át tính khách quan
Trong văn học, Hoàng Phủ Ngọc Tường thuộc tuýp nghệ sĩ sống và sáng tác bằng hoài niệm, cảm giác và trí tưởng tượng mãnh liệt.
Cái hay: Giúp ông kết nối những mảng kiến thức lịch sử, địa lý, triết học thành những dòng văn trữ tình diệu kỳ. Văn của ông không khô khan như bài nghiên cứu, mà có nhịp điệu, có âm hưởng của thi ca.
Cái bẫy: Khi người viết quá nương vào cảm xúc, họ dễ rơi vào trạng thái "huyền thoại hóa" thực tại, dễ tin vào những gì mình muốn tin hoặc tưởng tượng ra hơn là những gì thực sự diễn ra dưới góc độ khoa học hay tư liệu lịch sử. Việc ông dùng cảm xúc và sự hư cấu nghệ thuật để thay thế cho thực chứng lịch sử là một căn nguyên dẫn đến những sai lệch ngô nghê.
2. Bi kịch Mậu Thân 1968: Lời nói trả giá bằng cả đời dằn dội
Vụ tai tiếng Mậu Thân 1968 là vết thương sâu sắc nhất, theo đuổi ông suốt hàng chục năm cho đến tận cuối đời. Bi kịch ấy bùng nổ từ cuộc phỏng vấn năm 1981 cho bộ phim tài liệu “Việt Nam: Lịch sử một cuộc chiến tranh” (Vietnam: A Television History) của đạo diễn Stanley Karnow.
Trong cuộc phỏng vấn đó, với bản tính của một người văn nghệ sĩ thích dùng ngôn từ bay bổng và đứng ở tư thế "người đại diện cho lực lượng cách mạng", Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mô tả các sự kiện diễn ra ở Huế xuân 1968 bằng một giọng điệu chủ quan, nhân danh "người trong cuộc". Lời phỏng vấn này sau đó bị xem là bằng chứng cho thấy ông trực tiếp tham gia hoặc tán đồng với những hành vi tàn sát tại Huế.
Thực tế lịch sử: Trong suốt đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968, Hoàng Phủ Ngọc Tường không hề có mặt ở nội thành Huế mà đang ở trên chiến khu. Ông không trực tiếp chứng kiến hay tham gia vào các sự kiện diễn ra trong thành phố, nhưng lại nói về những điều mình chỉ nghe kể lại như thể chính mắt mình chứng kiến.
Hành trình thanh minh trong vô vọng:
Sau khi nhận ra hậu quả thảm khốc của lời nói bốc đồng, ông đã nhiều lần tìm cách đính chính. Lần đầu tiên là trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Thụy Khuê trên đài RFI (năm 1997) — bởi thời đó báo chí trong nước không thể đăng tải những lời phân trần này. Sau này, khi mạng xã hội phát triển, ông cũng nhiều lần gián tiếp thanh minh qua một số bài phỏng vấn.
Lời kết cho một sai lầm:
Phải đến năm 2018, khi đã nằm trên giường bệnh và sức khỏe suy yếu nghiêm trọng, ông mới thông qua con gái để phát đi bức thư ngỏ cuối cùng — một lời sám hối cay đắng:
“Sự thật là tôi đã đứng quên mất bản thân, nói như một kẻ chứng kiến, trong khi tôi hoàn toàn không có mặt tại hiện trường... Đó là sai lầm lớn nhất của đời tôi, gây nên biết bao đau đớn, ám ảnh cho bản thân và gia đình suốt mấy chục năm qua.”
3. "Một kẻ sĩ nặng lòng và đau đớn"
Sự dằn dội ấy có lẽ là cái giá quá đắt mà ông phải trả cho sự bốc đồng của cảm xúc. Trong suốt nửa sau cuộc đời, Hoàng Phủ Ngọc Tường sống trong sự im lặng trầm mặc, chịu sự ghẻ lạnh từ một bộ phận công chúng và cả những người từng là bạn bè, đồng hương xứ Huế.
Trớ trêu thay, người luôn ca ngợi "khí tiết kẻ sĩ" và vẻ đẹp trầm lắng của văn hóa Huế lại trở thành tâm điểm của một vết thương lịch sử chưa lành trên chính mảnh đất ấy.
Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp và đời sống của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta vừa thấy một tài năng văn chương hiếm có, vừa thấy một thảm kịch của người trí thức dấn thân. Lấy cảm xúc làm đôi cánh để bay lên những đỉnh cao của văn chương tùy bút, nhưng cũng chính sự thiếu tiết chế của cảm xúc và lý trí đã kéo ông xuống những vực sâu đau đớn nhất của kiếp người.
Để rồi khi ngoảnh lại, tất cả chỉ còn là tiếng thở dài chua chát trước dời đổi của số phận, như hai câu thơ của chính ông:
“Thời gian sao mà xuẩn ngốc
Mới thôi mà đã một đời...”
---

25/7/23

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Nhà văn HPNT đã qua đời hôm qua 24/7/2023 tại Sài Gòn, sau vợ ông, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, mất vài tuần (6/7/24).
Một đời trí thức tài hoa, dính chút sai lầm khi nhận vơ điều mình nghe thành mình thấy, để rồi nhận lấy bao miệng tiếng thị phi. 
RIP ông.

















VẼ TÔI
thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. 

Vẽ tôi một nửa mặt người
Nửa kia mê muội của thời hoang sơ

Vẽ tôi nghe tiếng mơ hồ
Bàn tay em vỗ bên bờ hư không

Vẽ tôi một đóa bông hồng
Tàn phai từ bữa em cầm trên tay

Vẽ tôi một nét môi cười
Một dòng nước mắt một đời phù du


5/10/17

Mới thôi đã một đời người




Thái Phú trình bày bài hát Mới Thôi Đã Một Đời Người, Trần Hùng phổ nhạc bài thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường

17/12/13

Cỏ, chim sẻ và châu chấu - HPNT

Đôi bạn - tranh Trần Trung Tín
1.

Có nhiều khi tôi quá buồn
Tôi ước mong về ngồi dưới cội cây xưa
Em có nhắn điều gì theo lá rụng
Ký ức nào khẽ động vai tôi

Dáng ai như tôi đi qua cánh đồng
Thu nhặt lại mình trên ngọn gió
Giống như con chim sẻ nọ
Thu về từng cọng vàng khô

2.

Có nhiều khi tôi quá buồn
Tôi ước mong chung quanh chỗ tôi ngồi
Mọc lên thật nhiều cây cỏ
Cây xấu hổ đau gì mà rủ lá
Tôi gập người trên bóng tôi

Không nghe tiếng ai nói cười
Tôi còn ngồi chi đây một mình
Cắn móng tay từng ký ức mong manh
Giống như con châu chấu nọ
Gặm hoài lá cỏ xanh.

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Bài thơ đã được Phú Quang phổ nhạc, tựa Nỗi Buồn. Mời nghe

16/12/13

Trên dấu rêu mờ - HPNT

Tristesse - tranh Auguste Rodin
Hỡi con dế buồn sầu của linh hồn tôi
Đêm nay ngươi hát nơi đâu
Đêm nay
Ta cầu xin cho nỗi khát của ngươi
Một giọt sương bên trời

Ở đâu, ngươi có nghe chăng
Bước chân ta lang thang đi tìm ngươi
Suốt đời
Ta đi tận cuối trời
Bàn chân ta rướm máu
Trên dấu đá rêu mờ
Của những con suối Hy Lạp
Đã khô ....




Bài thơ đã được Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc với tựa Con Dế Buồn. Mời nghe Mỹ Linh ca



15/12/13

Dù năm dù tháng

Hoàng Phủ Ngọc Tường - Đinh Cường vẽ
Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh 9/9/1937 tại Huế, nhưng quê ở Bích Khê, Quảng Trị (họ hàng với Hoàng Thi Thơ, và cả doanh nhân Hoàng Kiều rất chi nổi tiếng mấy năm trước).

Học ĐHSP Sài gòn, khoa Việt Hán (khóa 1). Năm 1960 tốt nghiệp, về dạy Quốc học Huế, đồng thời ghi tên học triết ở Văn Khoa Huế. Đến 1966 thì thoát li lên rừng, sau 1975 về lại Huế làm Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên-Huế, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt ..

Hiện sống tại Sàigon với vợ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Một số tác phẩm:

- Ai đã đặt tên cho dòng sông, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế (1984)
- Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký, 1984)
- Hoa trái quanh tôi (1995)
- Người hái phù dung (1992)
- Người ham chơi, Nxb Thuận Hóa, 1998
- Ngọn núi ảo ảnh (2000)
- Miền gái đẹp, Nxb Thuận Hóa, 2001
- Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé (bút ký văn hóa, 2005)
- Miền cỏ thơm (2007)
...

Trước đây, tôi biết Hoàng Phủ Ngọc Tường qua những trang tùy bút tài hoa, vừa giàu trí tuệ vừa giàu chất thơ .. Về sau này mới biết thêm ông còn là một nhà thơ có giọng thơ lạ .. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nhận xét: thơ ông thấm đẫm triết học về cái chết ... thơ anh buồn mỗi nỗi buồn đứt ruột ... Đấy là thơ của cõi âm

Ta đã có dịp đọc vài bài thơ được phổ nhạc của ông trong một số entry trước. Hôm nay mời nghe tiếp một bài thơ khác được Phạm Trọng Cầu phổ nhạc.

Mùa xuân lên đồi cỏ thơm
Mùa hạ nhìn trời mây khói
Mây tím chân cầu tím núi
Đông xa ngày trắng mưa dầm
Nhìn trời ngẩn ngơ anh nói
Mới thôi mà đã một năm ..




đọc thơ: Dù Năm Dù Tháng

Anh hái cành phù dung trắng
Cho em niềm vui cầm tay
Màu hoa như màu ánh nắng
Buổi chiều chợt tím không hay
Nhìn hoa bâng khuâng anh nói
Mới thôi mà đã một ngày.

Ruộng cấy ta mong cơn mưa
Ruộng gặt ta mong ngọn nắng
Chăm lo cánh đồng tình yêu
Anh đếm từng vầng trăng sáng
Thiết tha anh nói cùng trăng
Mới thôi đã tròn một tháng.

Mùa xuân lên đồi cỏ thơm
Mùa hạ nhìn trời mây khói
Mây tím chân cầu tím núi
Đông xa ngày trắng mưa dầm
Nhìn trời ngẩn ngơ anh nói
Mới thôi mà đã một năm.

Sẽ đến một ngày trắng tóc
Nhưng lòng anh vẫn không nguôi
Thời gian sao mà xuẩn ngốc
Mới thôi đã một đời người.

Dù năm dù tháng em ơi
Tim anh chỉ đập một đời
Nhưng trái tim mang vĩnh cửu
Trong từng giọt máu đỏ tươi.


Đọc thêm vài bài thơ của ông

Tôi về ngủ dưới vầng trăng
Có em từ chỗ vĩnh hằng nhìn tôi
Tình xa , xa mãi trong đời
Tóc xanh tiên nữ rối bời trên tay
..

đọc tiếp: Địa chỉ buồn

Nhà tôi ở phố Đạm Tiên
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu
Có mùi hương cỏ đêm sâu
Có loài hoa biết nuôi sầu tháng năm

Tôi về ngủ dưới vầng trăng
Có em từ chỗ vĩnh hằng nhìn tôi
Tình xa , xa mãi trong đời
Tóc xanh tiên nữ rối bời trên tay

Tôi còn ngọn nến hao gầy
Chảy như nước mắt từ ngày sơ sinh
Tôi xin em chút lòng thành
Cài lên một phiến u tình làm hoa

Những chiều Bến Ngự giăng mưa
Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
Tôi ra mở cửa đón người
Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang

Nhà tôi ở phố Đạm Tiên
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu
Cây sầu đông , cây sầu đau
Thương tôi cây cũng nở màu hoa râm .

Huế 1989

Nhớ lá

Và chiếc lá em cầm tay ngày nọ
Ðã cuốn theo ảo ảnh tận bên trời
Ðể chiều nay chợt nghe nổi gió
Anh vội vàng đi đón lá thu rơi.


Gửi cho người

Thôi xem em là bông hoa,
Một ngày qua - một ngày qua - một ngày
Thôi xem anh là đám mây
Một đường bay - một đường bay - một đời
Tài hoa cũng chuyện đùa chơi
Làm sao thưa hết một lời yêu thương
Anh đi tìm khắp thiên đuờng
Chỉ còn một đoá vô thường gởi em
Gửi em một nét sông mềm
Con đò áo trắng đã chìm trong mưa,
Rằng sông buồn tự thuở xưa
Vầng trăng mộng mị bây giờ là anh....


Nguồn các bài thơ: thivien.net

7/1/13

Hoa ngô đồng


Lâm Thị Mỹ Dạ (1949 - ) là nhà thơ nổi tiếng, tác giả của Chuyện cổ nước mình, Khoảng trời hố bom đã được đưa vào chương trình giảng dạy văn học ở phổ thông. Nhưng ít ai biết bà còn soạn nhạc. Năm 2009 mọi người khá bất ngờ khi bà ra mắt album đầu tay của mình.

Mời nghe Minh Huệ trình bày ca khúc do bà phổ nhạc bài thơ của chồng, Hoàng Phủ Ngọc Tường




Hoa ngô đồng

Lạ quá! Sao lòng cứ nhớ nhung
Dáng ai đứng tựa cội ngô đồng
Nụ cười phơi phới theo màu áo
Còn lại cho tôi những cánh hồng.

Thoáng chốc đời người cũng vội qua
Chìm trong ký ức của màu hoa
Nụ cười phơi phới ngày xuân trước
Còn lại trong tôi chút nhạt nhòa.

Tháng năm theo con nước lênh đênh
Hoa ngô rơi từng đám bồng bềnh
Xa rồi hình bóng thanh xuân ấy
Sông vẫn trôi dài trong khói xanh.

Sống ở quê người em biết không?
Tôi thường tìm đến cội ngô đồng
Hỏi cây còn nhớ người xưa ấy
Đứng hát xuân thì trên bến sông.


Hoàng Phủ Ngọc Tường
----
Bài viết của Ngô Minh: Bất ngờ LTMD
.

3/1/13

Dạ khúc . Hoàng Phủ Ngọc Tường & Phú Quang


Seul dans la tristesse - tranh Chaline Ouellet
Có buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có buổi chiều nào như chiều qua
Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến
Thắm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi
Cho tôi  chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy
Ngọt ngào như trái nho tươi

Có buổi chiều nào mộng mị vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi
Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến
Cho anh trọn một đời người

Có buổi chiều nào như chiều nay
Căn phòng anh bóng tối dâng đầy
Anh lặng thầm như là chiếc bóng
Hoa tàn một mình em không hay

HPNT

Dạ khúc được in trong tập thơ "Người hái phù dung" do NXB Hội Nhà văn phát hành năm 1992. Bài thơ đã được Phú Quang phổ nhạc, mời nghe Quang Lý ca



Xem nhà thơ Lê Minh Quốc bình bài thơ cho vui:

Sáu khổ thơ bắt đầu bằng sáu sự tìm kiếm “có buổi chiều nào như chiều …”, với thời gian kéo dần từ quá khứ xa đến hiện tại. Sự lặp lại đó đã tạo cho âm hưởng chung của bài thơ, đó là sự - lần - tìm - kỉ - niệm. Cũng vì sự lần tìm kỉ niệm ấy mà người đọc biết, câu chuyện tình đó đang qua hoặc  đã qua rồi.
Sự vận động mãnh liệt của dòng thời gian qua các khổ thơ cũng là sự vận động mãnh liệt của cảm giác con người trong tình yêu, từ lúc khởi đầu đến khi kết thúc. Anh và em đã cùng đi qua những buổi chiều, từ buổi chiều xưa, đến buổi chiều qua, và những buổi chiều chỉ có thể gọi tên bằng kỉ niệm “buổi chiều người bỏ vui chơi” “buổi chiều mộng mị vây quanh” “buổi chiều hình như chưa nguôi” , những buổi chiều hạnh phúc, chỉ cho đến một buổi chiều nay, buổi chiều mà lần đầu tiên bóng tối đã đến.
Câu thơ “căn phòng anh bóng tối dâng đầy” là một câu thơ vô cùng tinh tế. Không phải là bóng tối phủ ngập căn phòng mà là bóng tối đang dâng lên, đang xâm lấn dần những khoảng không ánh sáng, thứ ánh sáng của hạnh phúc tình yêu mà con người vẫn chìm đắm. Trong căn phòng ấy , vẫn có anh và em, nhưng hai người dường như đã bị đẩy lùi về hai đầu thế giới mà sợi dây kết nối duy nhất là tình yêu đã không còn.
Hình ảnh “hoa tàn” vô cùng gợi cảm, bởi lẽ chỉ cần hình ảnh đó mà người đọc cảm nhận có một tình yêu vừa đã qua đi, vừa đã tàn lụi. Bông hoa tàn lụi trong bóng tối, như sự kết thúc lặng lẽ của một mối tình. Và người đọc biết rằng sẽ không còn có thể tìm thấy một buổi chiều nào nữa, chỉ còn là bóng tối miên viễn, buồn rầu…. Phải chăng vì lẽ đó, bài thơ có tên “dạ khúc”?  Nguồn: Tuổi trẻ.

Bài bình hay. Chỉ ra được cái thần của bài thơ nằm ở khổ cuối, kết tinh trong chữ dâng (bóng tối dâng đầy) và hình ảnh hoa tàn một mình nghe trĩu nỗi buồn dai dẳng dồn và nén trong nín thinh  .. Nếu có gì muốn nói thêm thì đó là vợ HPNT cũng có tên Dạ - nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.
Hai bài viết của Nguyễn Quang Lập: Bạn văn 5Ngông nghenh ngất ngưởng ngậm ngùi 2 giúp hiểu thêm rất nhiều về cuộc sống của tác giả HPNT.


2/1/13

Bồng bềnh cho tới mai sau

Có con thuyền trong sương trắng
Bồng bềnh như một cánh chim
Có em chèo thuyền áo trắng
Xôn xao như trốn, như tìm
Có vầng mặt trời rực sáng
Bồi hồi như một trái tim
Em chèo thuyền về phía hướng đông
Hứng chút phấn mặt trời trên má
Bụi mặt trời vương đầy gót chân
In những dấu hoa hài trên sóng
Anh mãi nghe từ đáy màu sương mỏng
Bài hát tình yêu dậy một phương hồng

Từ thuở nào vũ trụ đã sinh ra
Mà sao mặt trời mỗi ngày vẫn trẻ
Mà sao anh như đã từ vạn kỷ
Bên sông này đứng hát mặt trời lên
Vẫn đi hoài trong cõi vô biên
Mặt trăng là mảnh gương riêng soi trái đất
Trái đất trôi như một cánh bèo dâu
Mặt trời nhiều khi phập phồng hơi thở
Mê man nhớ những tinh cầu

Những hành tinh ngẫm rồi thấy lạ
Bềnh bồng mà vẫn theo nhau
Anh với em, ừ thì cũng lạ
Bềnh bồng cho tới mai sau.

HPNT

Bài thơ đã được An Thuyên phổ nhạc dưới tựa Tình Ca Mặt Trời. Mời nghe Minh Phương ca



nhà thơ Ngô Minh bình bài thơ, trích lại mọi người đọc cho vui
Đọc


Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số ít nhà văn viết bút ký nổi tiếng ở nước ta vài chục năm nay. Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc ở tính nhân văn sâu sắc, những chiều kích khác nhau của trí tuệ uyên bác và chất Huế huyễn hoặc, quyến rũ. Ðó là những trang viết tài hoa, tài tử, tài tình. Thực ra, bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là áng thơ văn xuôi cuốn hút người đọc. Có độc giả ở Hà Nội đã công phu cắt từng câu trong bút ký nổi tiếng "Ai đã đặt tên cho dòng sông" của anh xếp lại thành một bài thơ rất lý thú. Ngoài bút ký, anh có nhiều bài thơ hay được rất nhiều độc giả thuộc như "Ðịa chỉ buồn", "Dù năm dù tháng", "Dòng sông đời mẹ", "Ðêm qua", "Bềnh bồng cho tới mai sau"...

"Bềnh bồng cho tới mai sau" là bài thơ tình hay và rất lạ trong mạch "thơ buồn như viết ra từ máu" (chữ dùng của Nguyễn Trọng Tạo) của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong vài chục năm nay!.

Mùa hạ năm ấy, Hoàng Phủ Ngọc Tường về thăm Lệ Thuỷ quê vợ. Ðêm anh ngủ lại với mảnh đất đã cho mình tình yêu cuộc đời. Rạng sáng, tiếng hát từ những con đò trên dòng sông Kiên Giang làm anh choàng giấc. Anh chạy ra Mũi Viết nơi ngã ba sông, và bàng hoàng trước cảnh tượng thơ mộng đẹp như tranh thuỷ mặc của Tàu:

Có con thuyền trong sương trắng...
Có em chèo thuyền áo trắng....
Có vầng mặt trời rựng sáng...

Ðó là những hình ảnh thực, rất thực diễn ra trong mỗi buổi sáng mùa hạ ở trên sông Kiến Giang mà bất cứ ai cũng có thể kể lại được. Bắt gặp những cảnh tượng bình minh như trong cổ tích đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường bị hớp hồn vía. Những hình ảnh đẹp đó đi vào tâm hồn thơ của anh trở nên vô cùng xao động và ấn tượng hơn nhờ những cặp liên tưởng bất ngờ và thú vị:

Có con thuyền trong sương trắng
Bềnh bồng như một cánh chim
Có em chèo thuyền áo trắng
Xôn xao như trốn tìm
Có vầng mặt trời rựng sáng
Bồi hồi như một trái tim.

"Mặt trời" bồi hồi như "một trái tim" là một hình tượng lạ, một sự so sánh bất ngờ mang lại hiệu quả thẩm mỹ cao!.

Nhờ thủ thuật so sánh, liên tưởng điêu luyện những cảnh thực và thơ đã thành ảo, thành mộng, cái tả đã biến thành cái cảm, cái say dẫn người đọc đến một trạng thái tình cảm mới: tình yêu!. Cô gái chèo thuyền trên sông phút chốc biến thành nàng tiên nữ giữa chốn bồng lai tiên cảnh với những nét đẹp vàng son lấp lánh và cực kỳ sang trọng "phấn mặt trời trên má", "bụi mặt trời vương gót chân", "dấu chân thành hoa hài trên sóng"...

Em chèo thuyền về phía hừng đông
Hứng chút phấn mặt trời trên má
Bụi mặt trời vương đầy gót chân
In những dấu hoa hài trên sóng

Trước hình tượng Nàng Thơ lộng lẫy sinh ra từ trái tim mặt trời ấy, nhà thơ của chúng ta không thể không thổ lộ rằng mình đã yêu, rằng từ đáy lòng mình "bài hát tình yêu dậy một phương hồng"! ấy là logic tình cảm, logic của thơ !

Hết khổ thơ thứ 2, coi như "tiếng sét tình yêu" đã thể hiện quyền lực của mình: Tình yêu đã được bày tỏ một cách nồng nàn. Nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường không dừng lại ở đó. Những hình ảnh thơ được tả rất cận cảnh từ gần đến xa rồi từ xa nói gần. Từ những hình tượng bắt gặp ngẫu hứng, bằng cấp độ liên tưởng cao hơn, anh đã phát hiện ra tính âm dương của vũ trụ và đã đẩy bài đến một tứ lớn hơn, đột ngột hơn: Tình yêu của con người rất vĩnh cửu bởi tình yêu mang bản chất của vũ trụ

Từ thuở nào vũ trụ đã sinh ra
Mà sao mặt trời mỗi ngày vẫn trẻ
Mà sao anh như từ vạn kỷ
Bên dòng sông này đứng hát mặt trời lên..

Quan hệ "có đôi" ấy được biểu cảm trong từng chi tiết:

Vẫn đi hoài trong cõi vô biên
Mặt trăng là mảnh gương riêng soi trái đất
Trái đất trôi như một cánh bèo dâu
Mặt trời nhiều khi phập phồng hơi thở
Mê man nhớ những tinh cầu...

Thì ra mặt trời, mặt trăng, trái đất và những tinh cầu trong cõi vô biên vũ trụ từ vạn kỷ nay vẫn hướng vào nhau, vì nhau, ôm ấp nhau, nhớ nhau... như con người, như anh và em, như âm và dương. Vâng, vũ trụ là một tình trường vĩnh cửu. Tình yêu của "anh và em" cũng bền vững như tình yêu giữa các hành tinh. Bài thơ kết lại bằng khổ thơ rất hay, với những câu thơ sống động rất đời mà nặng triết lý nhân sinh, những câu thơ có thể tách ra để biến thành ngạn ngữ tình yêu:

Những hành tinh ngẫm rồi thấy lạ
Bềnh bồng mà vẫn theo nhau
Anh với em, ừ thì cũng lạ
Bềnh bồng cho tới mai sau

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường "... thấm đẫm triết học về cái chết... thơ anh buồn mỗi nỗi buồn đứt ruột... Ðấy là thơ của cõi âm"... Ðó là một nhận xét đúng và tinh tế. Nhưng trong nguồn thơ như từ đất vọng lên của Tường lại có một bài thơ khác lạ, bài thơ như từ trời vang xuống, đầy chứa chan, khoái cảm và trí tuệ. Ðó chính là bài thơ Bềnh bồng cho tới mai sau, bài thơ về trái tim tình yêu, trái tim mặt trời vĩnh cửu, một bài thơ tình hay và mới.


Ngô Minh
Nguồn: http://vuhuu.edu.vn/null/Ebook/Phe_Binh/bai3_8.htm