Hiển thị các bài đăng có nhãn nhà thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhà thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

29/4/25

Từng có một nơi hoàn cảnh không thể làm hỏng con người.

Vương Trí Nhàn

Mặc dù chê trách tôi về mặt lập luận, nhưng sau bài tôi viết lần trước ngày 23/5/2019, không ít bạn đã đồng tình với tôi về việc con người Việt Nam hôm nay đang bị làm hỏng một cách toàn diện. Chúng ta chẳng bao giờ nên bi quan một cách tuyệt đối, song sự làm lại con người hiện nay thì quả thật là khó, lý do là vì như chúng ta đều biết, mặc dù chưa từng được tổng kết nhưng hoàn cảnh lúc ấy nhất là cuộc chiến tranh 1945 – 1975 thật quá đặc biệt nó khốc liệt vượt qua sức tưởng tượng và khả năng chịu đựng của con người.


Chỉ cần nói thêm là tôi đã nói điều này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quan sát những con người miền bắc từng được sống được giáo dục như tôi và trải qua chiến tranh theo kiểu chúng tôi, trong khi đó thì nếu nhìn cả thực tế nước Việt Nam sẽ thấy còn có những con người được giáo dục theo kiểu khác có những niềm tin khác bị những quy luật khác chi phối và nay nhiều người vẫn đứng vững trước mọi biến động để làm ăn sinh sống rất tử tế. Xét trên đại thể, trong tình thế ngổn ngang của cả nước hôm nay những người còn được cái căn bản của con người ấy mới chính là cái tương lai là niềm hi vọng của cả xã hội.

Có một sự việc xảy ra mấy ngày hôm nay, nó làm tôi thấy thêm cụ thể về cái kết luận trên.





Nhà thơ Tô Thùy Yên


Ngày 22/5 và mấy ngày sau trên mạng dày đặc những bài viết về cái chết của nhà thơ Tô Thùy Yên (1938 – 2019). Con người đã từng tham gia nhóm Sáng Tạo bên cạnh Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, con người từng có mặt trong các trại tù cải tạo tổng cộng 13 năm và đã từ biệt cõi đời trên đất Mỹ xa xôi, con người đó có dịp hiện ra trước cả những người còn biết rất ít về ông như bản thân tôi một chân dung với niềm tin sâu sắc, bộc lộ ở những nét tình cảm như ủ kín mà vẫn tuôn trào, trong những dòng thơ miên man, đôi khi khúc mắc nhưng thật ra là từng dòng đều chắt lọc, nói lên cái khắc khoải cuối cùng của cuộc đời ông, đó là bài thơ “Ta về” mà rất nhiều người thú nhận rằng đã đọc lên là không thể bỏ xuống được.

Trước tiên cái đáng ghi nhận nhất của bài thơ “Ta về” là nó cho ta thấy cái cao thượng của những con người bị rơi vào hoàn cảnh bên thua cuộc và sau đó là tù đày cực khổ mà vẫn giữ được lòng mình trầm tĩnh, nhìn ngẫm về cuộc đời trong đó có đủ cả sự trân trọng những gì tưởng như đơn sơ nhưng gần gũi nhất của ngày hôm qua, lẫn sự tha thiết sống tiếp cuộc sống hôm nay và muốn lây truyền đạt những điều tốt đẹp ấy cho các thế hệ sau. Ở đây con người trong cảnh khốn cùng tuyệt đối không thấy bộc lộ ra một chút nào gọi là oán thù căm giận trách móc. Thay vào đó là sự tin yêu trầm lắng mà lại dai dẳng đầy sức ám ảnh.

Cái sức mạnh tinh thần của con người ở đây tưởng như muốn ghìm xuống ẩn giấu mà vẫn ngời ngời, khiến cho cái hoàn cảnh tưởng rất bi đát lại vẫn hiện lên với đủ vẻ tươi tắn và đầy hy vọng.

Con người tưởng như đã đi hết mọi nỗi cực khổ và đau đớn của đời sống hóa ra vẫn còn lại với tâm thế bình tĩnh nghĩ lại về cuộc đời đã qua và muốn truyền lại những thể nghiệm sống của mình cho những người khác.

Trong những năm chiến tranh, nhiều người ở miền bắc chúng tôi thường tự nhủ rằng mình đã đi đến tận cùng của sự đau khổ và tự hào là những hoàn cảnh khó khăn không làm gì được mình trước sau mình vẫn nguyên vẹn. Hóa ra chúng tôi nhầm. Một cái gì đó rất tốt đẹp đã chết đi trong chúng tôi, bởi sang thời hậu chiến nhiều người tự cho là mình có quyền làm tất cả những điều không được phép làm và coi đó là sự đền đáp đúng hơn là sự vớt vát lại chút hạnh phúc trần thế mà chúng tôi đã bị tước mất. Cái sự bị làm hỏng mà tôi nói trong bài trước gần như được mọi người miền bắc coi là tự nhiên.

Đọc bài thơ của Tô Thùy Yên tôi nhớ lại nhiều cuộc gặp gỡ tiếp xúc với con người ở miền nam sau ngày 30/4/1975, tôi nhớ lại những trang văn bài thơ mà tôi đã đọc, những công trình nghiên cứu khoa học xã hội được làm trước 1975 và tôi nhận ra rằng cũng trong sự bao vây của chiến tranh, nhưng con người nơi đó không bị hoàn cảnh làm cho tê cứng về mặt tâm hồn, liều lĩnh về cách sống, bất cẩn về mọi hậu quả gây ra cho mọi người. Tôi hiểu rằng ở xã hội đó, văn hóa vẫn còn, vẫn chi phối người ta trong mọi mặt đời sống. Cái sức mạnh tinh thần của Tô Thùy Yên hôm nay cũng như của bao nhiêu người khác là kết quả của một nền giáo dục nhân bản và giữ vững chuẩn mực. Người ta không những biết sống để thích nghi với hoàn cảnh mà còn biết giữ được cả những gì tốt đẹp nhất được bồi đắp từ nhiều thế hệ và chuẩn bị cho người ta ra tiếp xúc với thế giới.

Qua nhiều tài liệu về các trại tù cải tạo được thiết lập sau 75, tôi biết có một nguyên tắc chi phối các trại tù này là làm cho những người bị giam trong đó mất hết cảm giác và suy nghĩ của một con người bình thường, không còn đớn đau mà cũng không còn hy vọng, tóm lại là chỉ biết sống qua ngày như một thứ súc vật bị làm nhục. Trường hợp con người trong Tô Thùy Yên sau khi ra tù bộc lộ qua bài thơ "Ta về" chứng tỏ mọi ý đồ loại đó đã phá sản đây không phải trường hợp cá biệt ở một hai người mà phổ biến ở rất nhiều người. Sau khi bị tù đầy trở về họ vẫn giữ được lòng khao khát yêu đời và có đủ khả năng gia nhập vào cuộc sống hiện đại khi ra sống ở hải ngoại. Chính họ là niềm hy vọng của dân tộc chúng ta. Mà điều đó không phải là ngẫu nhiên vì nó đã được chuẩn bị từ trong cuộc sống hai mươi năm 1955-1975.
Nguồn: https://www.dutule.com/a9262/vuong-tri-nhan-tung-co-mot-noi-hoan-canh-khong-the-lam-hong-con-nguoi-

13/10/24

Nhớ du tử lê

 Ở hải ngoại cũng có một số người ko thích ông. Tính ông nhẹ nhàng, hiền lành, ko thích cái gì quá khích. Nên ko hợp với họ. Nên ko muốn theo họ tuyên bố này nọ. Nên thỉnh thoảng bị những người này chụp mũ nọ kia. Ông cũng buồn, nhưng chẳng mấy khi thanh minh thanh nga, cãi cọ. Từng bị kết án tử hình trên đài phát thanh giải phóng nên chẳng dễ gì bôi bẩn ông.


Tuy là SQ Tâm lí chiến, từng làm Thư kí tòa soạn tờ báo quân đội Tiền Phong, nhưng thơ ông không ít những bài phản chiến cực kì mạnh mẽ.

𝑛ℎ𝑖̀𝑛 𝑐𝑜𝑛 𝑚𝑖̀𝑛ℎ 𝑙𝑜̛́𝑛 𝑙𝑒̂𝑛
𝑡𝑟𝑜̛̉ 𝑡ℎ𝑎̀𝑛ℎ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑡ℎ𝑢̛́ đ𝑜̂̀ 𝑐ℎ𝑜̛𝑖
𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑖𝑒̂́𝑛 𝑡𝑟𝑎𝑛ℎ
𝑛ℎ𝑢̛ 𝑎𝑛ℎ
𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑡ℎ𝑢̛́ đ𝑜̂̀ 𝑐ℎ𝑜̛𝑖
𝑐ℎ𝑢̛𝑎 𝑏𝑒̂̉
(Thơ viết khi con qua đời)

𝐾ℎ𝑖 𝑘𝑒̉ 𝑡𝑢̛̉ 𝑡𝑟𝑎̣̂𝑛 𝑡𝑢𝑜̂̉𝑖 𝑐ℎ𝑢̛𝑎 𝑛𝑔𝑜𝑎̀𝑖 ℎ𝑎𝑖 𝑚𝑢̛𝑜̛𝑖 𝑚𝑜̂́𝑡
ℎ𝑎̆́𝑛 𝑠𝑒̃ 𝑚𝑎𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑢̛̃𝑛𝑔 𝑔𝑖̀ 𝑣𝑒̂̀ 𝑡ℎ𝑒̂́ 𝑔𝑖𝑜̛́𝑖 𝑏𝑒̂𝑛 𝑘𝑖𝑎
(..)
ℎ𝑎̆́𝑛 𝑐ℎ𝑜̛̣𝑡 𝑛ℎ𝑜̛́ 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑟𝑎 𝑚𝑖̀𝑛ℎ 𝑐𝑜̀𝑛 𝑞𝑢𝑎́ 𝑡𝑟𝑒̉
𝑐ℎ𝑒̂́𝑡, 𝑘ℎ𝑖 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔, 𝑐ℎ𝑒̂́𝑡 𝑐ℎ𝑎̉ 𝑙𝑎̀𝑚 𝑔𝑖̀
(...)
ℎ𝑜̂̀𝑛 đ𝑎̃ đ𝑖 𝑛ℎ𝑢̛𝑛𝑔 𝑚𝑎̆́𝑡 𝑐𝑜̀𝑛 𝑛𝑔𝑜𝑎́𝑖 𝑙𝑎̣𝑖
𝑛ℎ𝑖̀𝑛 𝑣𝑒̂́𝑡 𝑐ℎ𝑎̂𝑛 𝑚𝑖̀𝑛ℎ𝑙𝑎̆́𝑚 𝑘𝑒̉ đ𝑎𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑒𝑜!...
(Khi người chết trẻ)

Bài thơ Khúc Thụy Du sau này được Anh Bằng trích ra một số câu để soạn thành ca khúc nổi tiếng cùng tên, vốn là bài thơ dài ông viết trong dịp Mậu thân, dù bị kiểm duyệt đục bỏ đến một phần ba, nhưng vẫn còn lại những câu thơ đầy tinh thần phản chiến

𝑛ℎ𝑢̛ 𝑐𝑜𝑛 𝑐ℎ𝑖𝑚 𝑏𝑜́𝑖 𝑐𝑎́
𝑡𝑜̂𝑖 𝑙𝑎̣̆𝑛 𝑠𝑎̂𝑢 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑏𝑢̀𝑛
ℎ𝑜𝑎̀𝑖 𝑐𝑜̂𝑛𝑔 𝑡𝑖̀𝑚 𝑦́ 𝑛𝑔ℎ𝑖̃𝑎
𝑐ℎ𝑜 𝑐𝑎̉𝑛ℎ 𝑡𝑖̀𝑛ℎ ℎ𝑜̂𝑚 𝑛𝑎𝑦

𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑥𝑎́𝑐 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑐ℎ𝑢̛𝑎 𝑟𝑢̛̃𝑎
𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑖̣𝑡 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑐ℎ𝑢̛𝑎 𝑡𝑎𝑛
𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑐𝑎́𝑛ℎ 𝑡𝑎𝑦 𝑐ℎ𝑜́ 𝑔𝑎̣̆𝑚
𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑐ℎ𝑖𝑒̂́𝑐 đ𝑎̂̀𝑢 𝑙𝑜̛̣𝑛 𝑡ℎ𝑎
𝑡𝑜̂𝑖 𝑠𝑜̂́𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑢̛ 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑚𝑢̀
𝑡𝑜̂𝑖 𝑠𝑜̂́𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑢̛ 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 đ𝑖𝑒̂𝑛

ở đây ko còn là câu hỏi chung chung, mà là câu hỏi trực tiếp về ý nghĩa "cho cảnh tình hôm nay", cảnh tình những xác người chưa rữa, những bàn tay chó gặm .. ý nghĩa của cuộc chiến tương tàn ông đang phải tham gia.

Bây giờ nhìn lại, không ít người trách ông sao hồi ấy lại phản chiến. Thật ra hồi ấy, chứng kiến cảnh những bà mẹ già ôm xác con, những thiếu phụ trùm khăn sô ngất lên ngất xuống sau chiếc quan tài, những tên lính Mỹ say rượu bên những cô gái váy ngắn củn cơn trong các quán bar mọc ra khắp nơi .. thì đêm đêm nằm trong tiếng vọng tiếng đại bác, chả mấy ai còn đủ lí trí lại ko chán ghét chiến tranh, ko muốn chúng chấm dứt đi, càng sớm càng tốt.

Ông ko thích CS, hẳn rồi.
Nhưng ko hề vì thế mà có cái nhìn quá khích về các văn nghệ sĩ miền Bắc. Lần nào về VN ông cũng gặp một số nhà văn, nhà thơ đang sống trong nước. Có nhiều cuộc gặp gỡ, chụp ảnh lưu niệm, xin thủ bút đã được ông công khai trên trang web của ông. Có nhiều cuộc gặp gỡ đã khởi đầu một tình bạn thân thiết. Bài thơ "Thơ ở Nguyễn Trọng Tạo" với lời đề tặng: và, Thương-Lắm; là một vd.

𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑒̂̉ 𝑏𝑖𝑒̂́𝑡 𝑏𝑎𝑜 𝑔𝑖𝑜̛̀ 𝑐ℎ𝑢́𝑛𝑔 𝑡𝑎 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑔𝑎̣̆𝑝 𝑙𝑎̣𝑖 𝑛ℎ𝑎𝑢?
𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑞𝑢𝑒̂ ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔, đ𝑎̂́𝑡 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑐𝑢̉𝑎 𝑚𝑖̀𝑛ℎ.
𝑛ℎ𝑢̛𝑛𝑔 𝑡𝑜̂𝑖 𝑏𝑖𝑒̂́𝑡:
𝑐ℎ𝑢́𝑛𝑔 𝑡𝑎 đ𝑎̃ 𝑔𝑎̣̆𝑝 𝑛ℎ𝑎𝑢
𝑔𝑖𝑢̛̃𝑎 𝑡𝑟𝑎́𝑖 𝑡𝑖𝑚 𝑆𝑎𝑖𝑔𝑜𝑛: 𝑐ℎ𝑢̛̃, 𝑛𝑔ℎ𝑖̃𝑎.
(hàng trăm năm trước. cả nghìn năm sau).

Đấy là tư cách, là nhân phẩm của ông.
Tôi từng biết một người viết, cũng có ít nhiều tiếng tăm ở hải ngoại, về VN tình cờ thấy người bạn cũ thuở hàn vi trong một quán ăn đã tìm cách lánh mặt, vì người này nay đã là một nhà văn đỏ. Anh ko ghét bỏ gì người bạn cũ, sẵn sàng gặp gỡ nhậu nhẹt nơi riêng tư. Nhưng ở chốn quán xá đông người thì .. hay là thôi đi, thời buổi này lỡ có đứa nào chụp cái ảnh hai người đang bù khú với nhau đưa lên fb lại rách việc.
Ông thì hiền lành, nhẹ nhàng nhưng sống có nguyên tắc, đủ mạnh mẽ để giữ chính kiến của mình.

77 năm, 77 cuốn sách ra đời. Ông là một trong số ít người trong số những văn nghệ sĩ nổi tiếng của miền Nam trước kia, vẫn còn tiếp tục sáng tạo mạnh mẽ và rất thành công khi đã rời quê hương. Những đổi mới trong nhịp thơ, đặc biệt trong lục bát, được ông tiếp tục, với những cách đánh dấu câu mới lạ độc đáo. Nội dung phần lớn thơ ông vẫn là tình yêu, nỗi chết; ngày càng sâu những chiêm nghiệm nhân sinh ..

(còm post trên fb bạn, đã được sửa và bổ sung)



6/4/24

Chuyện tình buồn - Phạm Văn Bình






nhà thơ Phạm Văn Bình (1939 - 2018)
Phạm Văn Bình sinh năm 1939 tại Đông Hà, Quảng Trị, nhưng quê gốc ở Truồi, Thừa Thiên. Từng học trung học ở Nguyễn Hoàng, ĐH Văn khoa Huế, rồi đi dạy ở Trường Trung học bán công Đông Hà. Sau đó bị động viên học Trường Bộ binh Thủ Đức, ra trường làm SQ Tâm lí chiến ở SĐ TQLC. Sau 4/1975 bị đi cải tạo 8 năm, tha về thì qua Mỹ, mất ở Cali 22/7/2018.

Trước 1975 làm thơ đăng lai rai trên các tạp chí ở Sài gòn. Nổi tiếng với bài thơ Chuyện tình buồn được Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Anh dặm trường mê mải
Đời chia hai nhánh sông.

Những thư tình ngây dại
Những vai mềm, môi ngoan
Những hẹn hò cuống quýt
Trên lối xưa thiên đàng
Thôi cũng đành chôn kín
Dưới đáy huyệt thời gian.

Ngày nhà em pháo nổ
Anh cuộn mình trong chăn
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn
Ngày nhà em pháo nổ
Tâm hồn anh nhuốm máu
Ôi nhát chém hư vô
Ôi nhát chém hư vô.

Năm năm rồi đi biệt
Anh chẳng về lối xưa
Sân giáo đường cỏ mọc
Gác chuông nằm chơ vơ
Chúa buồn trên thánh giá
Mắt nhạt nhoà mưa qua
Trên cánh buồm ký ức
Sóng thời gian lô xô.

Ngồi bâng khuâng nhớ biển
Bên bãi đời quạnh hiu
Anh mang hồn thuỷ thủ
Cùng năm tháng phiêu du.

Anh một đời rong ruổi
Em tay bế tay bồng
Chiều hắt hiu xóm đạo
Hồi chuông giáo đường vang.

Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Bao kỷ niệm chôn kín
Dường như đã lãng quên.

Năm năm rồi trở lại
Một màu tang ngút trời
Thương người em năm cũ
Đêm goá phụ bên song.

12 Tháng Anh Đi

Tháng Giêng xuôi quân ra xứ Huế
Cố đô hoang vu, gạch ngói điêu tàn
Bãi học sân trường chiều em vắng bóng
Tóc thề thơ ngây đã quấn vội khăn tang

Tháng Hai về trấn giữ ven đô
Chong mắt hỏa châu, ghì súng giữ cầu
Gió thoảng ngạt ngào về hơi rượu mạnh
Qua màn sương đêm, lơi lã ánh đèn màu !!!

Ba lô lên vai tới miền Tây đô
Quê hương em xanh, xanh rợp bóng dừa
Đêm ngủ bìa rừng thèm làn môi ấm
Ngọt trái sầu riêng vườn đã sang mùa

Bây giờ trời mây rủ nhau vào Hạ
Mẹ, em chắc bận, cùng đi lễ chùa
Chắp tay em nguyện cầu cho chiến sĩ
Góc bể chân trời, sáng nắng chiều mưa

Tháng Năm trở về theo vì sao biếc
Em dấu yêu chắc phượng thắm sân trường
Ngày xưa đó trao nhau tờ lưu bút
Bây giờ gói quà, phong thư ấp ủ yêu thương

Tháng Sáu, em ơi ! Anh vẫn miệt mài
Muốn về thăm em nhưng bận hành quân
Đừng khóc em yêu như ve sầu mùa Hạ
Xa thì xa nhưng vẫn không quên

Sang Thu mưa ngâu nước mù bay mau
Ô hay lòng ta sao bỗng rưng sầu
Tráng sĩ xưa hề vượt cầu xưa ấy
Đầu sông cuối sông làm sao thấy nhau?

Bây giờ còn đâu huyền thoại
Hằng Nga của em bé thơ
Tất cả bầu trờ thơ ấu
Ai làm tháng Tám cằn khô

Tháng Chín quân ta về Cửu Long
Trái vú sửa căng như mạch sống mẹ hiền
Anh đi cho đồng thêm xanh trái thêm ngọt
Chiến công này xin gởi tặng em!

Về Cà Mâu anh viết vội thơ
Nhớ quá em yêu! Ngày tháng đợi chờ
"Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội"
Anh lính áo rằn yêu em gái ngây thơ

Trờ đã lạnh rồi mùa Đông đan áo
Gởi ra chiến trường sưởi ấm hơi nhau
Anh biết mùa này rộn ràng áo cưới
Chuyện chúng mình, em nhé đợi năm sau

Hoa mai nở đầy, em đang chờ đợi
Mười hai tháng rồi dài ước mơ say
Nhớ má cho hồng, nhớ môi cho ngọt
Vui đón giao thừa tay ấm trong tay.

Bài này cũng đã được Phạm Duy phổ nhạc. Duy Quang ca



Do chính tác giả ca.

3/4/24

Góp Phần Dựng Tiểu Sử Nhà Thơ Phạm Văn Bình (1940-2018)

Hoàng Đằng

Chuyện Tình Buồn
Thơ: Phạm Văn Bình
Nhạc: Phạm Duy
Trình bày: Vũ Khanh



Góp Phần Dựng Tiểu Sử
NHÀ THƠ PHẠM VĂN BÌNH
(1940 – 2018)
Hoàng Đằng


Nhà thơ Phạm Văn Bình - người quê tôi – đã qua đời ngày 22/7/2018. Đông Hà – quê tôi – có nhiều người làm thơ. Mà không riêng gì quê tôi, trên cả nước Việt Nam, nơi nào cũng vậy; ViệtNam là “cường quốc thơ” mà!
Tôi không có may mắn và điều kiện đọc nhiều, nên không biết trong số người làm thơ ở quê tôi những ai có tác phẩm hay; chỉ biết anh Phạm Văn Bình từng nổi tiếng về thơ trong thập kỷ 1960 và thập kỷ 1970, đặc biệt, anh có 2 bài thơ được nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy phổ nhạc: Đó là bài “Chuyện Tình Buồn” và “Mười Hai Tháng Anh Đi”; và có lẽ với hai bài thơ này, anh sẽ lưu danh thiên cổ.
Sau này, sự nghiệp của anh đã có tác phẩm của anh làm chứng; còn cuộc đời của anh chắc sẽ ít người biết rõ. Vì vậy, là người đồng hương với anh, tôi muốn góp phần dựng lại tiểu sử của anh qua tìm hiểu những mảnh đời, chặng đời của anh mà người Đông Hà và một số thân nhân của anh biết kẻo rồi thời gian có thể xoá mất.


* Về năm sinh của Phạm Văn Bình
Võ Văn Cẩm – bạn đồng khoá 24/SQTB Thủ Đức với Phạm Văn Bình – cho biết là năm 1942; tờ Cáo Phó khi anh mất của gia đình bên Mỹ ghi 1939; một thân nhân của anh ở Việt Nam cho biết anh tuổi Canh Thìn (1940). Tôi nghĩ năm 1942 là năm khai lại để học hành; anh học ở nhiều nơi, nhiều trường cả bậc Tiểu Học lẫn bậc Trung Học: ở Huế, ở Đông Hà, ở Đà Nẵng, ở tỉnh lỵ Quảng Trị. Còn Cáo Phó ghi năm 1939 là do cách tính; anh mất năm nay (2018), thọ 79 tuổi; theo cách tính của phương Tây, anh phải sinh năm 1939, còn theo cách tính của người Việt Nam là năm 1940. Thế nên, theo tôi, Phạm Văn Bình sinh năm 1940 – tuổi Canh Thìn.


* Về quê quán và dòng dõi,
Phạm Văn Bình sinh ra ở Đông Hà; nhưng quê gốc Bát Sơn, Lương Điền, Thừa Thiên (nay là xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế).
Vào thập kỷ 1920, thuở thanh niên, thân phụ anh, cụ Phạm Tề, ra làm công nhân xây dựng cầu Quảng Trị, kết duyên với một thôn nữ làng Như Lệ (nay là thôn Như Lệ, xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị). Rồi ông bà ra lập nghiệp ở thị trấn Đông Hà, mở một quán cơm ở ga Đông Hà vào lúc mà tại Đông Hà, việc giao thương Bắc - Nam, việc giao thương miền Trung Việt Nam - Lào nhộn nhịp.
Trong thập kỷ 1930, cụ Phạm Tề kết hôn thêm với bà Hoàng thị Căn (1909 – 1984), còn có tên thường gọi là Hoàng thị Cháu, một thôn nữ làng Điếu Ngao (nay là phường 2 – TP. Đông Hà). Phạm Văn Bình là con bà Hoàng thị Căn.
Phạm Văn Bình có người anh đầu cùng cha khác mẹ – con của mẹ làng Như Lệ - tên Phạm Ga hoạt động cho Việt Minh, từng giữ chức chủ tịch Uỷ Ban Hành Chánh Kháng Chiến khu vực Đông Hà, rồi Chánh Văn Phòng Uỷ Ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh Quảng Trị. Khi kháng chiến chống Pháp bùng lên, Phạm Ga được điều động ra Việt Bắc và, sau đó, đã mất trên đường công tác ở tỉnh Cao Bằng. Phạm Văn Bình còn có người anh cùng mẹ cùng cha tên Phạm Vinh tập kết ra Bắc; Phạm Vinh học âm nhạc, chuyên ngành về đàn violon, trong chiến tranh, trở lại miền Nam, công tác ở đoàn Văn Công Quân Khu 5, hiện đã nghỉ hưu.
Ở chế độ miền Nam thời đó, ngoài bản thân là sĩ quan, Phạm Văn Bình còn có em trai cùng cha cùng mẹ tên Phạm Như Trị cũng là sĩ quan quân đội Cộng Hoà, nay định cư ở Mỹ theo diện HO.
Về bên ngoại – phía mẹ của Phạm Văn Bình - ở làng Điếu Ngao, các cậu các dì đều theo Việt Minh.
Dòng dõi của Phạm Văn Bình như thế đã góp phần tạo tứ thơ của anh.


* Về con đường đến với thơ của Phạm Văn Bình,
Phạm Văn Bình có năng khiếu và đam mê văn nghệ từ nhỏ. Tuy nhiên, điều đó chỉ bạn bè biết chứ “người ngoài” chưa biết.
Sau khi hoàn tất bậc Trung Học – có bằng Tú Tài II, Phạm Văn Bình về quê, dạy Việt Văn tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà từ 1963; anh đứng trên bục giảng từ 1963 đến 1966 – năm mà anh phải rời bụi phấn để thi hành lệnh động viên của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà. Trong thời gian dạy ở quê nhà, anh có cộng tác với Đài Truyền Thanh Quân đội ở Đông Hà và gởi thơ đăng ở báo Lập Trường.
Xin mở ngoặc để giới thiệu đôi nét về báo Lập Trường:
Phong trào Phật Giáo bùng lên chống chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm bị cáo buộc phân biệt đối xử tôn giáo bùng lên ở Huế từ tháng 5 năm 1963; phong trào được nhiều giới trong xã hội ủng hộ, trong đó có một số không nhỏ các giáo sư Đại Học Huế; sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ tháng 11 năm 1963, cả miền Nam lâm vào cảnh xáo trộn nhiều mặt, đặc biệt là về chính trị. Năm 1964, báo Lập Trường do một nhóm giáo sư Đại Học Huế chủ trương ra đời; ban điều hành báo gồm GS Tôn Thất Hanh, khoa trưởng Đại Học Khoa Học, làm chủ nhiệm, GS Lê Tuyên giảng dạy tại Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa làm chủ bút và GS Cao Huy Thuần giảng dạy ở Đại Học Luật Khoa làm thư ký toà soạn. Lập Trường là tuần báo Chính Trị - Văn Hoá – Xã Hội; báo bày tỏ thái độ chống đối chiến tranh, chống đối cách điều hành đất nước của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, chống đối sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam; Phạm Văn Bình gởi thơ vào và được đăng với tần suất khá dày; điều đó chứng tỏ tứ thơ của Phạm Văn Bình đã hoà nhập vào lập trường của báo; chủ bút chọn bài là GS Lê Tuyên - người có cách nhìn, cách lý giải mới các tác phẩm văn học cổ Việt Nam bằng cách đem triết học hiện sinh rọi vào. Nhờ báo Lập Trường, Phạm Văn Bình được giới thơ văn biết đến càng ngày càng nhiều. Thành thử, có thể trước đó Phạm Văn Bình đã có làm thơ, nhưng chính báo Lập Trường đã nâng cánh cho thơ của anh.
Nhờ vai trò cộng tác viên đài Truyền Thanh Quân Đội Đông Hà và tiếng tăm về thơ qua báo Lập Trường, Phạm Văn Bình thi hành lệnh động viên, thụ huấn xong ở quân trường, được bổ nhiệm làm sĩ quan tâm lý chiến của sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến. Khi đã làm việc ở Sài Gòn, Phạm Văn Bình có cơ hội quen biết với giới văn nghệ sĩ, thơ anh xuất hiện trên các tạp chí, được đánh giá cao, được Phạm Duy chọn phổ nhạc; nhờ thế, anh có chân trên thi đàn.


* Người phụ nữ trong bài thơ “Chuyện Tình Buồn” là ai?
Trong văn học, tác giả ký tên T.T.KH của bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn” nổi tiếng hơn 80 năm qua vẫn còn là nghi án – giới nghiên cứu văn học đã đoán nhiều tên, nhưng chưa chắc chắn một tên nào. Từ đó, tôi lo tương lai có người muốn biết thật sự tên người phụ nữ trong bài thơ “Chuyện Tình Buồn” sẽ gặp khó khăn, trong khi hiện giờ bà con và người thân quen quê gốc Đông Hà thì biết rõ, nhưng không ai chịu lên tiếng hoặc không có điều kiện lên tiếng. Tôi xin phép lên tiếng thay.
Không biết mối tình giữa Phạm Văn Bình và người phụ nữ này chớm nở từ lúc nào, nhưng mối tình này vỡ lỡ giữa thập kỷ 1960:
Năm năm rồi không gặp,
Từ khi em lấy chồng,
Anh dặm trường mê mải,
Đời chia hai nhánh sông …
Phạm Văn Bình “dặm trường mê mải” từ năm 1966 – năm thi hành lệnh động viên vào lính.
Nhà Phạm Văn Bình và nhà người phụ nữ cùng ở trong con hẻm đường Phan Bội Châu thị trấn Đông Hà. Người phụ nữ này có một người anh – bạn thân cùng trang lứa với Phạm Văn Bình. Qua lại giao du, thấy người phụ nữ này có nhan sắc, có học vấn (cô này không học ở Đông Hà mà học ở Trung Học Bán Công Huế), lại biết trang điểm, ăn diện bắt mắt, Phạm Văn Bình vừa ý, đem lòng yêu đương. Hai người yêu nhau; người Đông Hà thấy mối tình của họ “da diết” lắm, ngay cả Phạm Văn Bình cũng thổ lộ:
Những thư tình ngây dại,
Những vai mềm, môi ngoan,
Những hẹn hò cuống quýt …
Không ai ngờ mối tình ấy tan vỡ. Người trong cuộc bảo rằng do hai người khác biệt về tôn giáo: gia đình Phạm Văn Bình theo Phật Giáo, gia đình người phụ nữ này theo Thiên Chúa Giáo. Thôi, chúng ta cứ tin như vậy, chứ trên đời, không thiếu gì người khác tôn giáo kết hôn với nhau; về sống với nhau, hoặc vợ theo tôn giáo của chồng, hoặc chồng theo tôn giáo của vợ, hoặc, cùng lắm, mỗi người cứ giữ tôn giáo của mình.
Người phụ nữ này “sang ngang”, lấy một người chồng đồng đạo; ông chồng là sĩ quan quân y, trước đó, tốt nghiệp cán sự y tế, bị động viên vào quân đội; hai vợ chồng có 4 người con (?). Rủi! Ông chồng tử trận, Phạm Văn Bình viết trong thơ: “Anh một đời giong ruỗi; em tay bế tay bồng” là vậy.
Việc bất thành trong mối tình giữa Phạm Văn Bình và người phụ nữ này không biết do gia đình bên nào gây ra; nhưng trong thơ và trong đời thực, Phạm Văn Bình ôm nỗi đau cho riêng mình mà không một lời oán hận:
Ngày nhà em pháo nổ,
Anh cuộn mình trong chăn,
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn.
Ngày nhà em pháo nổ,
Tâm hồn anh nhuốm máu,
Ôi nhát chém hư vô,
Ôi nhát chém hư vô.
……………………
Năm năm rồi trở lại,
Một màu tang ngút trời,
THƯƠNG người em năm cũ,
THƯƠNG goá phụ bên song.
Và sau này, mỗi lần có dịp, Phạm Văn Bình vẫn ghé thăm gia đình người phụ nữ này. Ngay trong lễ tang Phạm Văn Bình vừa rồi, người bà con của Phạm Văn Bình cho tôi xem một bức ảnh chụp chung 3 người con của Phạm Văn Bình với một người con gái của người phụ nữ này. Tình của Phạm Văn Bình và người phụ nữ này đã vượt lên sự nhỏ nhen của hờn ghen để thăng hoa. Đẹp quá! Đúng là “đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ”.
Xin tiết lộ: Người phụ nữ này có tên là Nguyễn thị Tuý sinh năm 1945, nguyên là một cư dân Đông Hà, hiện giờ còn sống và định cư bên Mỹ.


* Về tạng người và lối sống,
Phạm Văn Bình có gien văn nghệ từ gia đình; như trên đã nói Phạm Văn Bình có ông anh ruột hoạt động trong lãnh vực âm nhạc.
Phạm Văn Bình không đua đòi theo thiên hạ về bề ngoài, anh thích ca hát vui chơi, không quan tâm đến của cải vật chất. Từ khi ra trại cải tạo cho đến khi đi Mỹ theo diện HO, thời gian dài cả 10 năm, thế mà không thấy anh làm gì để mưu sinh, trong khi những người gặp hoàn cảnh như anh phải làm bất cứ gì để giúp nuôi sống gia đình: xe thồ, xe kéo, bán nước chè, làm thuê … Anh rong chơi không phải với bạn bè cùng lứa - vì không có - mà với bạn bè ít tuổi hơn anh nhiều; anh gặp họ trong các quán cà phê, trong những tiệc cưới, ca hát vui nhộn cùng họ, nhiều khi quá chén, cũng say sưa.
Nghe nói anh uống cà phê không phải trả tiền theo lần mà có bao nhiêu trong túi anh giao cho chủ quán, hàng ngày anh tới uống khi nào chủ quán tính là số tiền hết thì báo cho anh biết.
Thời gian anh chuẩn bị đi Mỹ, nhiều phụ nữ muốn đem tình và tiền ra để “quá giang”, anh từ chối, chắc anh quá ngán ngẩm rồi!
Khi qua Mỹ, với tuổi đời ngấp nghé 55, anh cũng không chạy vạy kiếm công ăn việc làm như thiên hạ, anh sống với người con trai trưởng của anh trong sự bảo bọc của cả 3 đứa con và tiền trợ cấp của chính phủ Mỹ.
Xin mở ngoặc để nói đôi điều về gia đình anh. Sau khi mối tình với Nguyễn thị Tuý không thành, anh lập gia đình với một cô học trò trẻ, đẹp của anh tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà. Vợ chồng sinh được 3 con. Do hoàn cảnh nghiệt ngã sau năm 1975, vợ chồng cũng không sống với nhau trọn đời. Người vợ đem ba con qua Mỹ trước, anh qua sau, và được sự quan tâm chu đáo của cả ba con.
Phạm Văn Bình có lối sống và tạng người khác đời như thế, cộng thêm sống trong bầu không khí gia đình và đất nước mà thân thích kẻ Bắc người Nam, anh luôn mang tâm trạng buồn đau – buồn đau cho đất nước tang thương, cho tình người tan vỡ vì chiến tranh. Dù là một sĩ quan (cấp bậc cuối cùng đại uý) tâm lý chiến, thay vì kích động hận thù để tuyên truyền cho phe ta, chống phe địch, anh không làm thế; bằng chứng là trong bài thơ “Hành Trình Thuỷ Quân Lục Chiến” (tên khác: “Mười Hai Tháng Anh Đi”) - dài 58 câu - chỉ nói lên nỗi đau, niềm khắc khoải, tình yêu lỡ làng do chiến tranh mà người lính cảm nhận khi đi qua đất nước điêu tàn.
Sau thời gian dài khổ cực trong trại cải tạo, được trở về sống trong cộng đồng, nhà không, vợ nỏ có, anh cũng không một lời oán thán ai:
Trở về nhà cũ, nhà thay chủ.
Em đâu? – Đã bỏ chốn thiên đường.
Sang sông, em nỡ lên thuyền khác.
Thôi nhớ làm gì? “Chinh phụ ngâm” …
(Trích từ bài thơ “Đầu Xuân Khai Kiếm”)
Tóm lại, Phạm Văn Bình là nhà thơ nhân văn.
*
* *
Tôi viết bài này với ý nghĩa tích cực; tôi đã hỏi thông tin từ nhiều người: bà con của Phạm Văn Bình có, những người Đông Hà thân quen với Phạm Văn Bình có. Tôi đã đối chiếu, đánh giá thông tin từ nhiều nguồn, cố gắng để có những thông tin chân thật.
Hy vọng bài viết này sẽ làm cho Phạm Văn Bình vui nơi chín suối và góp phần hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về nhà thơ Phạm Văn Bình sau này.


Hoàng Đằng
30/7/2018 (18/6/Mậu Tuất)
Nguồn: fb Hoàng Đằng

25/7/23

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Nhà văn HPNT đã qua đời hôm qua 24/7/2023 tại Sài Gòn, sau vợ ông, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, mất vài tuần (6/7/24).
Một đời trí thức tài hoa, dính chút sai lầm khi nhận vơ điều mình nghe thành mình thấy, để rồi nhận lấy bao miệng tiếng thị phi. 
RIP ông.

















VẼ TÔI
thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. 

Vẽ tôi một nửa mặt người
Nửa kia mê muội của thời hoang sơ

Vẽ tôi nghe tiếng mơ hồ
Bàn tay em vỗ bên bờ hư không

Vẽ tôi một đóa bông hồng
Tàn phai từ bữa em cầm trên tay

Vẽ tôi một nét môi cười
Một dòng nước mắt một đời phù du


7/7/23

Tôi có bao nhiêu đêm trắng


Tôi có bao nhiêu đêm trắng
Đâu chỉ phải một đêm
Cuộc đời trần gian ngắn lắm
Thức nhiều chắc được dài thêm

Tôi có bao đêm trắng
Khổ đau, mơ mộng, giận hờn
Cuộc đời trần gian ngắn lắm
Sao người không thương người hơn

Có ai đi qua mùa xuân
Cho tôi làn hương tinh khiết
Cho tôi cái nhìn xanh biếc
Xa xưa - tôi đánh mất rồi

Ước được vô tư như gió
Đêm trắng cũng như ban ngày
Không nghĩ suy, không thao thức
Yên lành như quả trên cây

Ước có bao đêm trắng
Được đem bán hết cho đời
Đổi về cho tôi vạt nắng
Ấm lòng đêm - một chút thôi.

Lâm Thị Mỹ Dạ

.
Nay thì bà ngủ mãi rồi, không còn những đêm trắng nữa. RIP

Lâm Thị Mỹ Dạ (1949 - 2023)
Tranh của nhà thơ Mỹ Kevin Bowen.
Hình trên internet.



25/2/23

Tình khúc 24

Nhà thơ, dịch giả Dương Tường - người từng chuyển ngữ tiểu thuyết "Lolita" của Vladimir Nabokov - qua đời lúc 20h08 ngày 24/2, thọ 91 tuổi.

Hồng Nhung trình bày Tình khúc 24 nhạc Phú Quang, lời phỏng thơ Dương Tường

24 phím cầm chiều
24 nhành sương mím
24 tiếng ve sầu đại lộ tháng tư
Gửi lại em
cầu thang 24 bậc
tờ thư 24 gác mưa
làn menuet 24 âm xưa
Gửi lại em
mùi hoa sữa 24 miền hoài niệm
ga khuya 24 lần đưa đón
bài huê tình 24 lối sân sau
Gửi lại em
doi sông 24 nhịp cầu
tình khúc bãi ngô 24
sương dâng 24 nẻo đi về
Nhâm nhâm 24 hàng đèn
mênh mênh 24 ngã tư mắt
Gửi lại em
chiêm bao 24 chợt hiện tan
cung đàn 24 lần đứt nối
vũng im đêm 24 mạy sao chìm
Gửi lại em
24 phố dài thơm
24 xêrênađ
24 vibratô
24 khung trời tím
24 lối công viên
24 vầng trăng goá
Gửi lại em
gửi lại em tất cả
kể cả con âm đầu trót thụ mầm thơ
Riêng đêm em xoà bóng nốt ruồi
24 quầng
anh giữ
1967

---

Dương Tường (1932 - 2023) tên thật Trần Dương Tường, là dịch giả nổi tiếng, đã dịch hơn 50 tác phẩm: Anna Karenina của Lev Tolstoy, Lolita của Vladimir Vladimirovich Nabokov, .. Ở tuổi 87 ông còn ra mắt bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Anh.

Ngoài dịch thuật ông còn làm thơ, viết phê bình văn học, .. 




13/2/23

Vũ Hoàng Chương

Mấy hôm nay Vũ Hoàng Chương bỗng dưng thành  .. hot boy, sau khi thông tin ông từng được đề cử Nobel Văn Chương được tiết lộ. [1]

Thật ra được đề cử giải Nobel Văn chương thì cũng chẳng phải chuyện gì quá to tát - nghe nói mỗi năm có cả trăm đề cử như thế. Trước VHC cũng từng có Hồ Hữu Tường được đề cử. và sau này chắc cũng còn nhiều người khác được đề cử nữa, chỉ là thông tin chưa được giải mật để công bố thôi. 

Người ta bàn tán xôn xao có lẽ vì ông vốn là người từng bị chính quyền này cho người chửi rủa, kết án bỏ tù và đày đọa đến chết, nay bỗng dưng lại để cho báo chí ca ngợi. Lạ.

Sau đây là bài của nhà báo Mạnh Kim.

Xem thêm về Vũ Hoàng Chương (bài của Đặng Tiến) ở đây

-----

Theo danh sách được Ủy ban Nobel vừa được công bố sau 50 năm giữ kín do quy định, thi bá Vũ Hoàng Chương là một trong 100 nhân vật được đề cử giải Nobel Văn chương năm 1972. Viện Hàn lâm Thụy Điển ghi rõ rằng Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Hội Văn bút Việt Nam và người giới thiệu là Thanh Lãng.

Kể về những ngày cuối đời của Vũ Hoàng Chương, nhà văn Mai Thảo thuật lại trong bài “Mấy tháng cuối cùng với Vũ Hoàng Chương”:

Vượt qua cây cầu Calmette soi bóng trên một con kinh tù đọng, con kinh chạy dọc theo vùng ngoại vi tràn lan náo nhiệt nhất của Sài Gòn là khu Chương Dương, Ông Lãnh, chiếc xe đạp lọc cọc chở tôi đi trên một mặt nhựa lồi lõm, đụng tới tòa nhà xám bẩn của hãng làm phân bón thì rẽ trái và lăn vào một con đường trải đá xanh. Chiếc xe chở tôi rẽ phải trên một con đường nhỏ, yên tĩnh, rẽ trái vào một con đường nhỏ yên tĩnh nữa, rồi tới một đầu ngõ khuất khúc. Tôi xuống xe, dắt bộ tới cuối ngõ, tới trước một căn nhà gỗ hai tầng. Đẩy một cánh cổng khép hờ đi vào, tôi đã tới Gác Bút của Vũ Hoàng Chương. 

Thi sĩ mới dọn về đây ít lâu sau biến cố Tháng Tư 1975, cái tiểu gia đình gươm đàn nửa gánh gồm có thi sĩ, người bạn trăm năm của ông là nữ sĩ Đinh Kiều Oanh và đứa con trai nuôi là Vũ Hoàng Tuân, ông đặt tên cho con bằng lấy tên Tuân của Nguyễn Tuân, nhà văn viết tùy bút rất hay và là bạn thân của thời kỳ tiền chiến. 

Địa chỉ mới của Vũ Hoàng Chương nguyên là chỗ ở của gia đình thi sĩ Đinh Hùng, em vợ ông ngày trước. Chỗ ở này sinh thời, Đinh Hùng, tự xưng là Đinh Công Tử, nghịch ngợm đặt tên là động Hoa Lư, trong cái ý nhà vua xưa Đinh Bộ Lĩnh dấy nghiệp ở động Hoa Lư thì Đinh Hùng đời sau cũng có một động Hoa Lư ở phường Cây Bàng như thế. Đinh Hùng mất, vợ con vẫn ở, tên Hoa Lư vẫn còn. Nhưng từ khi Vũ Hoàng Chương dọn về ở chung, Hoa Lư còn có thêm một tên mới. Đó là Gác Bút.

Hỏi tại sao không dùng lại tên Gác Mây của căn lầu trên vùng Phú Nhuận vừa rời bỏ, thi sĩ cười, hóm hỉnh: "Đổi đời, giờ là Gác Bút mới đúng. Vì Hà Nội nó bắt ta gác hết bút lên rồi, đâu còn cho viết nữa." (…) 

Thời gian này, sức khỏe của Vũ Hoàng Chương đã hết sức suy nhược và gia cảnh thì đã rớt xuống tới đáy cùng của túng thiếu cùng quẫn. Những tháng sau cùng ở Gác Mây, Phú Nhuận, ông đã đau yếu rất nhiều. Trong lồng ngực mỏng, con tim đã yếu. Trên cái vóc hạc, xế chiều đã tới. Vũ Hoàng Chương gần như không ra khỏi nhà nữa. Lên xuống mấy bậc thang lầu, cũng phải đứng lại nhiều lần để thở. Có việc phải đi đâu, bao giờ cũng phải Đinh Kiều Oanh cùng đi. Ở Gác Mây anh em văn nghệ đã phải chia lượt tới viếng thăm ông đau yếu nhiều lần. Đem thuốc thang tới nữa. Về Gác Bút, tình trạng sức khỏe của thi sĩ càng mong manh (…) 

Sống với cộng sản, trường hợp của miền Nam là ở lại, là vẫn có mặt ở Sài Gòn sau ngày 30 tháng 4, kẻ sĩ, nhà thơ, nhà văn thất thế, khi mọi phương tiện lên tiếng đã bị triệt hủy hoàn toàn, chỉ còn một cách thế biểu hiện nhân phẩm duy nhất là giữ vững bản ngã, giữ vững nhân cách giữa bi thảm, không cho sa đọa. Và như vậy, đối diện với nghịch cảnh, đối diện với kẻ thù, đối diện với cái chết. Bi thảm này tên là Định Mệnh. 

Hàng ngàn nhà văn nhà thơ trên khắp mọi phần đất thế giới đã đứng trước định mệnh khốc liệt như thế, trên tổ quốc đất nước họ, trước bạo lực quân phiệt và chuyên chính vô sản. Anh em văn nghệ miền Nam, ngoại trừ một thiểu số khiếp nhược, nói chung đã có một phong cách nghiêm chỉnh, lúc thất thế, trong bi thảm, trước kẻ thù. Nhưng gương mẫu nhất, rực rỡ nhất tuy từ hai cách thế biểu hiện khác biệt, qua suy nghĩ và nhận thức tôi là Vũ Hoàng Chương và Thanh Tâm Tuyền (...)

Ngày một thăng hoa khiến vị thế đại diện tồn tại nguyên vẹn trước đào thải nhiều mặt, khiến ông vừa là người khai sáng vừa là người chuyển tiếp, khiến ông là một gia tài thơ cho cả một thế hệ thơ sau được kế thừa, chỉ có Vũ Hoàng Chương trong thơ chúng ta. Chỉ có Vũ Hoàng Chương mà thôi. Có nhìn Vũ Hoàng Chương trên trình tự thời gian khá dài của thơ, có đặt ông vào cuộc vận động cực kỳ lớn lao của thơ Việt từ 50 năm trở lại đây, mới nhận thức được trên mọi chiều hướng kích thước của nó, cái tài thơ phi thường ấy, nhà thơ vĩ đại của thơ Việt chúng ta. Tôn vinh ông là đệ nhất đương thời thi sĩ, Thanh Tâm Tuyền, nhà thơ lớn nhất của một dòng thơ khác, đã không đi theo một xô đẩy tình cảm nào. Chỉ là Thanh Tâm Tuyền nhìn nổi ông, bằng một cái nhìn lớn.

Mọi người là thi sĩ. Riêng ông là thi bá.

Bởi vậy mà với một chế độ tử thù với thơ, sau ngày 30 Tháng Tư 1975, Vũ Hoàng Chương phải bị giết chết. Ngày bắt ông, 13 Tháng Tư 1976. Ngày ông mất 19 Tháng Tám  cùng năm. Chúng bắt ông sau cùng. Và giết ông trước nhất.

Buổi sáng ngày 13 Tháng Tư 1976 (phần hồi ký này viết theo lời chị Vũ Hoàng Chương thuật lại) là một buổi sáng ấm áp, nhưng đêm trước lộng gió, lạnh, thi sĩ bị cảm, đã 9 giờ còn đắp chăn nằm trên mặt sàn, không sao ngồi dậy được. Mọi người trên Gác Bút, trừ chị Chương, đã ra khỏi nhà. Chúng đến, từ phía Sài Gòn. Bốn chiếc Jeep đầy nhóc an ninh áo vàng mang súng ống như cho một hành quân lớn ầm ầm vượt qua cầu Calmette, khu chợ Khánh Hội, phóng thẳng tới phường Cây Bàng và ngừng lại trước con ngõ nhỏ dẫn vào Gác Bút.

Bọn an ninh cộng sản, trên 20 đứa, tới tấp nhẩy xuống xe. Khoảnh khắc, cả phường Cây Bàng bị vây kín. Sau này tôi được biết là đến bắt các anh Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Duyên Anh, vợ chồng Trần Dạ Từ và tôi, an ninh đỏ chỉ điều động một lực lượng từ 4 đến 6 đứa, trên một hoặc hai xe Jeep là cùng. 

Thường thường điều động thế này, như trường hợp đến vây bắt tôi: hai đứa đứng ở vỉa hè đối diện, bên kia đường, hai đứa đứng sát hai bên cửa ra vào, hai đứa vào. Bắt được người rồi, bốn đứa ở ngoài mới vào theo, cùng lục soát tịch thu tài liệu. Vây bắt công khai nhưng tránh gây náo động. 

Trường hợp Vũ Hoàng Chương khác hẳn. Chúng chạy rầm rập, trí súng, mai phục theo tư thế chiến đấu, phá tan bầu không khí yên tĩnh của cả phường Cây Bàng buổi sáng hôm đó. Dân chúng xung quanh Gác Bút thất kinh. Có người hỏi, chúng trả lời: "Phải huy động một lực lượng lớn lao như thế này để tóm trọn ổ một bọn cướp (!) lợi hại."

Sự náo động đột ngột dưới chân tường Gác Bút, tiếng la thất thanh của chị Vũ Hoàng Chương từ trên lầu chạy xuống khi bọn sát nhân xô cửa ập vào đánh thức thi sĩ khỏi giấc ngủ chập chờn. Ông gắng gượng ngồi dậy, lấy áo gấm mặc vào người, ngồi thật thẳng giữa chiếu, bất động, chờ đợi. 

Suốt thời bọn Khuyển Ưng Khuyển Phệ tới làm tan hoang Gác Bút với sự hôi tanh kinh tởm toát ra từ con chó chết xã hội chủ nghĩa chúng mang theo (tôi dùng lại danh từ của Soljenitsyne), tâm thức phóng thoát rời đứt với thân thế ô trọc ở thi sĩ thể hiện một lần nữa. Lần cuối cùng. Ông không kinh hãi, cũng không phẫn nộ. Ông không bất ngờ, cũng chẳng ngạc nhiên. Chỉ ngồi thẳng, thành tượng, mắt nhắm lại, thu hết tâm thức đã hợp nhật với đời đời vào nội giới đóng kín.

Bọn quỷ dữ ở lại trên Gác Bút hơn hai tiếng đồng hồ. Suốt thời gian này, thi sĩ không thèm nói với chúng một lời nào. Chúng hỏi, ông không trả lời. Chúng đọc bản cáo trạng, lệnh bắt giữ, ở ông chỉ một thoáng nhún vai rồi ngồi yên như cũ. Riêng chị Vũ Hoàng Chương không sao thản nhiên được, chị uất ức gào lên: "Chồng tôi làm gì mà bắt chồng tôi?", thì được tên thủ trưởng của bọn quỷ dữ trả lời là sau đại thắng của cách mạng, tên thi sĩ phản động kia vẫn còn làm thơ chống phá cách mạng và cho phổ biến khắp Sài Gòn những bài thơ chống phá chế độ ấy. 

Rồi là cuộc lục soát và tịch thu tàn nhẫn. Từ những cuốn sách đến từng tờ bản thảo. Lúc mặt trời đứng bóng trên mái lầu Gác Bút, cuộc lục soát xong, hai thằng lực lưỡng nhất bọn quỷ tiến lại, xốc nách thi sĩ đứng lên, kèm ông xuống cầu thang. Dân chúng láng giềng với Gác Bút đứng chật lòng con ngõ khi chúng dẫn thi sĩ đi ra và đưa thẳng ông vào khám lớn Chí Hòa (…)

Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối của thi sĩ, không ai có được những chi tiết đầy đủ. Kể cả chị Đinh Hùng, chị Vũ Hoàng Chương, cháu Vũ Hoàng Tuân, cháu Đinh Hoài Ngọc, những người đêm ngày ở cạnh chỗ nằm của ông suốt 5 ngày hấp hối. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, thần trí Vũ Hoàng Chương vẫn cực kỳ minh mẫn sáng suốt. Tới đêm lâm chung. Tới phút từ trần. Nhưng thi sĩ không nói, không nói một lời nào về bốn tháng Chí Hòa. 

Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Tưởng ông đi, chị Vũ Hoàng Chương lớn tiếng kêu khóc. Ông dịu dàng: "Tôi còn sống đây." Rồi nói đùa: "Bị bắt vẫn còn oai. Được thủ tướng hầu hạ." Thủ tướng đây là bác sĩ Phan Huy Quát, ở cạnh phòng ông, phòng tối số 6. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại đau đớn hết một lúc. Thấy vậy chị Vũ Hoàng Chương lo lắng hỏi: "Ở trong ngục anh có bị chúng hành hạ gì không?" Ông trả lời: "Chúng cần gì hành hạ. Chỉ bỏ đói là đủ cho mình chết." Vậy thôi. Ngày thứ năm, ngày 17 Tháng Chín 1976, Gác Bút yên tĩnh với thi sĩ nằm đó, trên mặt sàn hiu quạnh. Rồi ngày hết, đêm xuống. Và định mệnh mở rộng cánh tay như một lớp sóng mênh mông vô tận đón ông vào đời đời, lúc đó là vừa đúng 12 giờ đêm (...)

Mãi hơn hai tháng sau, một đêm mưa lớn, từ một chỗ ẩn mới bên quận Bình Thạnh vùng xa lộ Biên Hòa lặn lội trở lại khu Cao Thắng Bàn Cờ thăm H., cũng là để có tin tức về bạn từ bài thơ từ biệt, tôi mới được H. ngậm ngùi cho biết tin thi sĩ đã qua đời (…) Và nghe tin bạn mất, tôi không còn một phản ứng nào hết. Chỉ lẳng lặng ngồi xuống, hơ hai bàn tay lạnh lên ngọn đèn, nhìn đăm đăm những ngón tay ấm dần, hồng dần trên lửa. Một đêm cộng sản, tin dữ về thiên tài thơ, một tri kỷ được đón nhận như thế. Trong thờ ơ nhân thế, trong hiu quạnh cõi đời, trong giới nghiêm tăm tối, trong trống không vô cùng vô tận. Trên một sàn gác xép hiu quạnh.

Một lát thật lâu. Mưa ào ạt trên mái. Rồi H. hỏi:

- Anh không biết gì sao?

Tôi lắc đầu, nói nơi ẩn náu lần này xa khuất, ra ngoài gần như không được, tôi đứt hết mọi liên lạc, kể từ gặp H. lần trước. 

Rất ít người biết. Chúng tôi cũng không biết. Bọn khốn nạn hiểu rõ cái chết của anh Chương sẽ gây chấn động lớn. Chúng tìm hết cách bịt đi. Mấy ngày sau đám tang, chị Vũ Hoàng Chương tới đây, xõa tóc, mặc đại tang, chị khóc lóc nói anh Chương đi mà chị không làm sao báo tin dữ đến bạn bè. 

Cáo phó cháu Đinh Hoài Ngọc đưa đăng trên tờ Tin Sáng, bọn Ngô Công Đức hèn đớn đã thu tiền nhận đăng sau lại gửi trả tiền nói An Ninh Thành Ủy cấm. Thành ra đưa anh Chương tới nơi an nghỉ cuối cùng chỉ có mấy người trong nhà đi sau linh cữu. Bọn Phường Khóm được lệnh còn cấm cả hàng xóm láng giềng phường Cây Bàng không cho tới chia buồn và phúng viếng. Nhà không còn một đồng một chữ, chị Chương cuống cuồng không biết xoay sở thế nào. May được Thầy Thích Đức Nhuận và Từ Mẫn tới, lo liệu mọi chuyện. Từ áo quan tới xin đất nghĩa trang.

- Anh Chương nằm ở đâu?

- Xa lắm. Một nghĩa trang làng mới có từ sau 30 Tháng Tư. Hết vùng Chí Hòa, Lê Văn Duyệt còn phải đi một quãng nữa. Năm mươi ngày của anh Chương cũng không được làm ở nhà, sợ Phường, Khóm gây khó dễ. Mà ở chùa Giác Minh.

- Có những ai tới?

- Chừng mươi mười lăm người, trong số đó có Nguyễn Hoạt, Bàng Bá Lân, Nguyễn Hiến Lê, Vương Hồng Sển. Mọi người đều yên lặng cả. Chỉ có Nguyễn Hiến Lê, trước lúc ra về, nắm lấy tay chị Chương, an ủi: "Chị đừng đau buồn nhiều. Anh mất thế là thoát. Bọn chúng tôi bây giờ sống cũng như chết, muốn được như anh mà không được."

fb Mạnh Kim

---

[1] https://tuoitre.vn/vu-hoang-chuong-tung-duoc-de-cu-giai-nobel-van-hoc-20230211154512635.htm

25/7/18

Chuyện tình buồn




Bài hát từng làm nên tên tuổi Phạm Văn Bình, người có bài thơ được phổ nhạc. Nguyên tác bài thơ

10/3/18

Nguyễn Đình Thi


Đã có entry về Nguyễn Đình Thi ở đây.
Hôm nay nghe một playlist gồm ba bài hát do ông sáng tác, ba bài hát là thơ ông được phổ nhạc, và một bài thơ của ông do chính ông đọc và sau đó được diễn ngâm với Châu Loan, Trần Thị Tuyết.


7/10/17

Thơ Bút Tre


Bút Tre là bút hiệu của Đặng Văn Đăng. Ông sinh năm 1911 ở Phú Thọ, đỗ Tú tài thời Pháp thuộc. Ông từng là bí thư thứ 2 sứ quán VN tại Rumani, sau về làm trưởng ti Văn hóa Phú Thọ.

Ông nổi tiếng với "phong cách" thơ độc đáo,  ví dụ ngắt từ xuống dòng bất ngờ:

Hoan hô đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về.

hoặc đổi thanh để hợp vần:

Liên hoan có một nải chuồi
Ra về nhớ mãi cái buồi hôm nay 

hoặc cố ý lạc vần

Khen thay giám đốc sở mình
Làm việc thì ít xuất ngoại thì nhiều.

hoặc những liên tưởng bất ngờ, nhiều khi ngây ngô

Hà Nội có phố hàng da
Sau đây tiết mục đơn ca bắt đầu

Thơ kiểu này, nói cho đúng hầu hết chỉ là những câu vè tào lao, nhưng lại gây cười, khiến nhiều người thích thú làm theo, tạo nên cả một "trường phái thơ Bút Tre". Và những câu thơ "Bút Tre" hiện được lưu truyền như những câu sưu tầm sau, có phải của đúng Bút Tre không thì không dám chắc

5/6/17

Thôi . Nguyễn Long




Anh đã biết, anh đã biết yêu em là tuyệt vọng
Mà vì sao, mà vì sao anh vẫn cứ yêu thương
Con giun con, nằm uốn khúc giữa đêm trường
Rồi giun chết, chết tương tư vì sao sáng.

Anh vẫn biết, anh đã biết yêu em là tủi nhục
Mà dù sau, mà dù sau anh yêu mãi khôn thôi
Anh yêu em bằng nước mắt đứng lưng trời
Bằng tia máu ứa trong tim dầu khô héo.
..

Nhạc Phạm Duy, còn lời ca não nề là lấy từ thơ của Nguyên Long.

25/1/17

Chợ Tết . Đoàn Văn Cừ


28 tết, cây mai trước sân đã vàng bông


vẫn còn cây cạnh hồ đón Tết


Định đi chợ tết coi có bông gì hay hay mua mấy chậu nhưng trời lắc rắc mưa, thôi nằm nhà xem chợ Tết qua thơ


Bài thơ học từ hồi cấp 2. Hồi ấy thầy bắt học thuộc lòng, sau đó lại viết thành văn xuôi. Vừa rồi thử nhẩm lại còn nhớ gần hết bài. Có lẽ nhờ thời đi học trong nhà có cuốn Thi Nhân Việt nam của Hoài Thanh Hoài Chân nên những lúc rảnh rỗi hay đem ra ê a đọc, và mấy bài thơ của Đoàn Văn Cừ thường được đọc nhiều nhất.

Đoàn Văn Cừ nổi tiếng từ cuối những năm 193x với  những bài thơ viết về nông thôn, từng được các tác giả Thi Nhân Việt Nam nhận xét: "Những bức tranh trong thơ Đoàn Văn Cừ không phải chỉ đơn sơ vài nét như những bức tranh xưa của Á Đông. Bức tranh nào cũng đầy dẫy sự sống và rộn rịp những hình sắc tươi vui. Mỗi bức tranh là một thế giới linh hoạt". Những cảnh quê như Đám hội, Đám cưới mùa xuân,... và đặc biệt là phiên Chợ Tết nông thôn của ông vẫn sẽ còn mãi với thời gian .. "

Lần trước đã nghe Hồng Ngát, hôm nay mới nghe Hồng Vân trình bày bài thơ này



nhà thơ Đoàn Văn Cừ (1913 - 2004)
Đoàn Văn Cừ (1913 - 2004) sinh ngày 25/11/1913 tại Nam Định. Trước 1945 dạy học làm thơ,

Sau 1945 ông tham gia Việt Minh. Từ 1959 ông làm biên tập cho nxb Phổ Thông, sáng tác thơ văn với nhiều bút hiệu khác nữa - Kẻ Sỹ, Cư sỹ Nam Hà, Cư Sỹ Sông Ngọc ..  Ông mất ở quê nhà năm 2004.

Ông đã có gần 10 tác phẩm được xuất bản: Thơ lửa (1947), Việt Nam huy hoàng (1948), Dọc đường xuân (1979), Đường về quê mẹ (1987), ..Nhưng đọng lại trong kí ức người đọc vẫn là những bức tranh quê ông viết từ thời Thơ Mới, được in trong tập Thôn Ca (1944). Mời đọc thêm vài bài trích từ tập thơ này


Tết

Sáng hôm mồng một tết,
Đèn nến thắp xong rồi,
Bà tôi ngồi trong ổ,
Mặc áo đỏ cho tôi.

Ông tôi vừa thức dậy,
Nằm ngó cổ trông ra.
Trên ngọn cây đèn bóng,
Trời lất phất mưa sa.

Giờ lâu tràng pháo chuột,
Đì đẹt nổ trên hè,
Con gà mào đỏ chót,
Sợ hãi chạy le te.

Cây nêu trồng ngoài ngõ,
Soi bóng dưới lòng ao.
Chùm khánh sành gặp gió
Kêu lính kính trên cao,

Từ khi ông tôi mất,
Bà tôi đã qua đời,
Tôi mỗi ngày mỗi lớn,
Nên chẳng thấy gì vui.

Tết đến tôi càng khổ,
Tôi nhớ bức tranh gà,
Chiếc phong bao giấy đỏ,
Bánh pháo tép ba xu.

1939


Tết Quê Bà

Bà tôi ở một túp nhà tre.
Có một hàng cau chạy trước hè,
Một mảnh vườn bên rào giậu nứa.
Xuân về hoa cải nở vàng hoe.

Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng,
Cả đêm cuối chạp nướng than hồng.
Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn,
Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông.

1941


Đám Cưới Mùa Xuân

Ngày ửng hồng sau màn sương gấm mỏng,
Nắng dát vàng trên bãi cỏ non xanh.
Dịp cầu xa lồng bóng nước long lanh,
Đàn cò trắng giăng hàng bay phấp phới.

Trên cành cây, bỗng một con chim gọi
Lũ người đi lí nhí một hàng đen
Trên con đường cát trắng cỏ lam viền
Họ thong thả tiến theo chiều gió thổi,
Dưới bầu trời trong veo không mảy bụi,
Giữa cánh đồng phơn phớt tựa màu nhung.
Một cụ già râu tóc trắng như bông,
Mặc áo đỏ, cầm hương đi trước đám.
Dăm sáu cụ áo mền bông đỏ sẫm,
Quần nâu hồng, chống gậy bước theo sau.
Hàng ô đen thong thả tiến lên sau.
Kế những chiếc mâm đồng che lụa đỏ.
Bọn trai tơ mặt mày coi hớn hở,
Quần lụa chùng, nón dứa áo sa huê.
Một vài bà thanh lịch kiểu nhà quê,
Đầu nón nghệ, tay cầm khăn mặt đỏ.
Bà lão cúi lom khom bên cháu nhỏ,
Túi đựng trầu chăm chăm giữ trong tay.
Thằng bé em mẹ ẵm, má hây hây,
Đầu cạo nhẵn, áo vàng, quần nâu sẫm.
Cô bé để cút chè người xẫm mẫm,
Đi theo bà váy lĩnh, dép quai cong.
Một chị sen đầu đội chiếc khăn hồng,
Đặt trên cái hòm da đen bóng lộng.
Người cô dâu hôm nay coi choáng lộn.
Vành khuyên vàng, áo mớ, nón quai thao.
Các cô bạn bằng tuổi cũng xinh sao,
Hai má thắm, ngây thơ nhìn trời biếc.
Dăm bảy cô phủ mình trong những chiếc
Áo đồng lầm, yếm đỏ, thắt lưng xanh.

Một lúc sau đi tới chỗ vòng quanh,
Nếp chùa trắng in hình trên trời thắm,
Thì cả bọn dần đần cùng khuất lẩn
Sau trái đồi lấp lánh ánh sương ngân.
Chỉ còn nghe văng vẳng tiếng chim xuân
Ca ánh ỏi trên cành xanh tắm nắng.


1940

(mấy bài thơ cop lại từ trang thivien.net)



24/9/16

Ta làm gì cho hết nửa đời sau


Nghe Thanh Quang (RFA) đọc bài thơ của một người di tản buồn. Giọng đọc không hay, nhưng với ai lười đọc, hoặc vừa làm việc vừa nghe thì cũng tiện.


29/6/16

Yêu lần nào cũng đau


Hôm qua nghe một bài hát phổ thơ của Nồng Nàn Phố. Hôm nay nghe thêm một bài hát cũng do Nguyễn Minh Hải viết lời dựa trên ý thơ của cô



Bài thơ gốc

16/6/16

Tiễn em chiều mưa


Vẫn là nhạc chủ đề Mưa. Nghe lại bài Tiển Em Chiều Mưa Đăng Khánh phổ nhạc, Elvis Phương ca



dù mãi mãi xa nhau
tình này ai sẽ quên được sao ..

15/12/15

Tình em còn đó


Khoảng cuối thập niên 200x, khi đã ngoài 80, nhạc sĩ Anh Bằng viết ba bản tình ca, đã có dịp nhắc đến ở đây. Cả ba, theo các bản lưu hành trên mạng, đều ghi là phổ thơ của Phan Thành Tài, lạ hoắc. Mãi gần đây mới tìm được một ít thông tin về nhà thơ, ghi tóm tắt lại, mọi người đọc cho biết.

từ thuở yêu em



Anh Bằng viết trên ý bài thơ Mộng Trăng Sao của Phạm Thành Tài, không phải Phan Thành Tài như đã giới thiệu trước đây. Nhiều trang mạng hiện vẫn còn ghi sai họ của ông.