19/12/21

thiên nhai . Lí Thương Ẩn

 天涯

春日在天涯, 春日在天涯,

天涯日又斜。 天涯日又斜。

鶯啼如有淚, 莺啼如有泪,

為濕最高花。 为湿最高花。

李商隱 

Chú.

- 天涯 thiên nhai = chân trời. Hải giác thiên nhai = chân trời góc bể, chỉ nơi xa lắm lắm. 

- 斜 tà = nghiêng. 斜 âm pinyin hiện đại là /xié/, âm cổ là /xiá/ (bắt vần với chữ nhai 涯 /yá/ ở câu trên)

日又斜 nhật hựu tà = mặt trời cũng đã xế bóng.

- 鶯啼 oanh đề = oanh kêu. 

- 為濕 vi thấp = làm ướt. 

- 最高花 tối cao hoa = bông hoa trên cành cây cao nhất. Cũng là bông hoa nở cuối cùng trên cây.

Tác giả: 李商隱  Lí Thương Ẩn (813 - 857), một trong những nhà thơ xuất sắc nhất thời Vãn Đường, cùng với Đỗ Mục được người đời tôn xưng là Tiểu Lí Đỗ (gọi "tiểu" để phân biệt với cặp Lí Đỗ nổi tiếng thời Thịnh Đường - Lí Bạch - Đỗ Phủ). Trong tuyển tập thơ nổi tiếng Đường thi tam bách thủ, Lí Thương Ẩn được chọn 20 bài, số lượng đứng hàng thứ tư.


Âm Hán Việt:  Thiên nhai.
Xuân nhật tại thiên nhai, thiên nhai nhật hựu tà.
Oanh đề như hữu lệ, vi thấp tối cao hoa. 
Lí Thương Ẩn

Nghĩa: Chân trời. 

Ngày xuân nơi chân trời, Nơi chân trời xa mặt trời lại xế bóng. Tiếng oanh kêu như có nước mắt, Làm đẫm ướt bông hoa trên cành cao nhất.

Tạm dịch: 

Xuân ở nơi chân trời, 

Chân trời nắng quái rơi.

Tiếng oanh ngâm nước mắt, 

Ướt cánh hoa cao rồi.

oOo

Đọc thêm mấy bản dịch thấy trên net 

Ngày xuân ở chân trời

Chân trời xa bóng xế

Oanh kêu dường rớm lệ

Làm hoa ướt đầm mi

Nguyễn Hà
(thivien . net)


Xuân ở cuối chân trời

Chân trời chiều nắng vơi

Giọng oanh trào nước mắt

Ướt nhánh hoa cao vời

Tạ Trung Hậu
(thivien . net)


Xuân ở tận chân trời,

Chân trời ngắm chiều rơi.

Oanh hót như ứa lệ,

Làm ướt hoa bên trời!

Đỗ Chiêu Đức 

(longhovinhlong blogspot)

nắng quái chiều hôm. vnphoto net



8/12/21

Tuyển thơ Đường Tống

 

Tuyển tập thơ Đường, Tống do Phí Minh Tâm thực hiện.
Mỗi bài đều có
- nguyên văn chữ Hán
- âm Hán Việt,
- dịch nghĩa
- dịch thơ
- dịch tiếng Anh.




5/12/21

Biệt lão hữu

 別老友

別離無遠近,
臨老禁愁難。
欲去更回首,
川原增暮寒。
從善王

Âm Hán Việt

Biệt lão hữu

Biệt li vô viễn cận,

Lâm lão cấm sầu nan.

Dục khứ cánh hồi đầu,

Xuyên nguyên tăng mộ hàn.

Tùng Thiện Vương

Chú

臨老 lâm lão = đến tuổi già.

禁愁 cấm sầu = ngăn nỗi buồn.

更 cánh (phó từ) = lại nữa.

川原 xuyên nguyên = sông suối và cánh đồng; cánh đồng.

暮寒 mộ hàn = cái lạnh lúc chiều tối.

Tác giả Tùng Thiện Vương (1819 - 1870), tên thật Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con thứ 10 của vua Minh Mạng, người sáng lập Mạc Vân thi xã ở đất Thần kinh.

Dưới triều Nguyễn, các vị hoàng thân như ông không được phép thi cử, làm quan. Nhưng ông cũng được phong tước Tùng Thiện công. Con rể ông là Đoàn Trưng đã nổi lên chống triều đình (Giặc Chày vôi thời Tự Đức). Dù trước đó Đoàn Trưng đã lấy cớ vợ không nghe lời, bỏ vợ; nhưng sau vụ nổi loạn ông cũng phải nhận hình phạt cắt bổng lộc 8 năm. Ông lên chùa ở, gia đình ông phải trồng cây ăn quả mang chợ bán để mưu sinh. Ông mất lúc 51t. Tước Tùng Thiện Vương là Bảo Đại truy phong cho ông sau này.

Nghĩa:

Chia tay bạn

Chia tay không kể xa hay gần đều buồn, 

Nhưng già rồi, ngăn nỗi buồn khó lắm thay.

Muốn đi mà lại cứ ngoái đầu nhìn lại,

Đường về đi qua sông suối và cánh đồng khiến buổi chiều càng lạnh hơn.

Dịch thơ

Ly biệt chẳng xa, gần

Tuổi già buồn khó ngăn

Muốn đi đầu ngoảnh lại

Đồng tối giá băng tăng

Nguyễn Phước Bảo Quyến


Con vật trong thành ngữ

 Thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt 

từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận

luận án tiến sĩ







1/12/21

Lịch sử văn minh Trung Hoa.

 



Lịch sử văn minh Trung Hoa – Will Durant. Nguyễn Hiến Lê dịch


Nội Dung:

Chương I: Thời đại các triết gia
I. Buổi đầu
II. Khổng Tử
III. Các nhà theo chủ nghĩa xã hội và các nhà chủ trương vô chính phủ.

Chương II: Thời đại các thi sĩ
I. Bismarck của Trung Hoa
II. Các cuộc thí nghiệm chủ nghĩa xã hội.
III. Sự vinh quang đời Đường
IV. Vị trích tiên.
V. Cái hay của thơ Trung Hoa.
VI. Đỗ Phủ.
VII. Văn Xuôi.
VIII. Tuồng.

Chương III: Thời đại các nghệ sĩ
I, Văn nghệ phục hưng: đời Tống
II. Chùa chiềng và cung điện.
IV. Hoạ.
V. Đồ sứ.

Chương IV: Dân tộc và quốc gia.
I. Từ đời Nguyên đến đời Thanh.
II. Dân tộc và ngôn ngữ.
…

Chương V: Cách mạng và phục sinh
I. Bạch hoạ.
II. Một nền văn minh cáo chung.
III. Bắt đầu một trật tự mới.




28/11/21

hoa dại

 野花

野花生竹下, 野花生竹下,
竹深花亦繁。 竹深花亦繁。
花繁翻笑竹, 花繁翻笑竹,
春至不能言。 春至不能言。
阮通

Âm: Dã hoa
Dã hoa sinh trúc hạ: 
Trúc thâm hoa diệc phồn.
Hoa phồn phiên tiếu trúc,
Xuân chí bất năng ngôn.
Nguyễn Thông.

Chú:

- 野花 dã hoa = hoa dại. 生 sinh = sinh trưởng, mọc. 竹下 trúc hạ = dưới cây/bụi tre.
- 竹深 trúc thâm = tre tươi tốt. 深 thâm nghĩa thường gặp là sâu. 繁 phồn = nhiều, đông. Như 枝葉繁盛 chi diệp phồn thịnh = cành lá um tùm. 繁榮 phồn vinh = giàu có, thịnh vượng.
- 翻 lật. Như trong phiên thân = trở mình; phiên cung = lật cung. Phiên trong phiên âm, phiên dịch cũng là chữ phiên 翻 này. 笑 tiếu = cười; cười chê.
- 春至 xuân chí = mùa xuân đến. 不能言 bất năng ngôn = không nói được gì. Xuân đến hoa nở chào đón, tre thì lặng lẽ như mọi ngày.

Tác giả: Nguyễn Thông (1827–1884) người Gia Định (về sau Pháp chiếm Nam kì, ông dời nhà về sống ở Bình Thuận, hiện mộ phần cũng ở đó), làm quan dưới triều Tự Đức. Trước tác ông để lại có mấy cuốn sử, mấy tập thơ: Việt sử thông giám cương mục khảo lược, Kì Xuyên thi sao, .. 

Nghĩa: Hoa dại.
Hoa dại mọc dưới bụi tre, tre um tùm, hoa cũng tươi tốt.
Hoa tươi tốt quay lại cười chê tre, rằng xuân đến mà không biết nói năng chi

Tạm dịch:

Hoa dại dưới khóm trúc,
Trúc xanh hoa cũng tươi.
Hoa tươi cười trúc thẳng,
Xuân, chẳng biết đón mời.


6/11/21

thơ vua

三杯紅酒群黎血,

數盞青茶百姓膏。

天淚落時民淚落,

歌聲高也哭聲高。

Tam bôi hồng tửu quần lê huyết,

Sổ trản thanh trà bách tính cao.

Thiên lệ lạc thời dân lệ lạc,

Ca thanh cao dã khốc thanh cao.

Chú:

- 黎 lê. Nghĩa gốc là một loại hồ dán nấu từ gạo nếp; sau được mượn chỉ đám đông. Lê dân = dân chúng. Lê còn chỉ màu đen, nên lê dân hay được dịch là dân đen. 群黎 quần lê = đám đông, dân chúng.

- 百姓 bách tính = trăm họ, chỉ dân chúng.

- 膏 cao. Nghĩa gốc là mỡ nước (Mỡ miếng gọi là chi 脂, mỡ nước gọi là cao 膏). Mở rộng, chỉ những chất sền sệt như mỡ, ví dụ thức ăn hay thuốc được cô đặc lại. Đông y có phương thuốc nấu từ xương động vật cũng gọi là cao: cao hổ cốt, cao khỉ, .. 

Nghĩa:

Ba li rượu hồng là máu của dân đen,

Mấy chén trà xanh là cao xương trăm họ.

Lúc trời rớt nước mắt là dân rơi lệ,

Tiếng ca cao tiếng khóc càng cao.


Tạm dịch

ba chén rượu nồng dân máu đỏ

mấy li trà ngọt chúng xương vàng

trời rơi nước mắt người rơi lệ,

tiếng hát vang tiếng khóc cũng vang.


Bản dịch thơ của Tôn Thất Sa:

Ba chung rượu đỏ dường dân huyết,

Một chén trà xanh tợ cốt cao.

Trời nhỏ lệ như dân nhỏ lệ,

Tiếng ca cao múa khóc càng cao.

Chú thích: Đây là bốn câu thực + luận trong bài thơ Đường luật được cho là của vua Thành Thái làm khi ra HN khánh thành cầu Doumer (tức Long Biên ngày nay). Nhưng theo một số tài liệu khác thì vua Thành Thái bảo không phải của ông, mà do Hoàng Cao Khải thác tâm sự ông mà viết. Lại theo một tài liệu khác cho biết vua Minh Mạng cũng có một bài thơ gần giống, chỉ sai khác một số chữ.

Phiên bản chữ Hán trên đây lấy từ trang báo Van nghệ, có khác với bản thấy chép trên trang thivien . net

Những đứa trẻ rắc muối. Hình trên mạng.