7/10/22

Độ Hán Giang


渡漢江

嶺外音書絕, Lĩnh ngoại âm thư tuyệt,

經冬復立春. Kinh đông phục lập xuân.

近鄉情更怯, Cận hương tình cánh khiếp,

不敢問來人. Bất cảm vấn lai nhân.

宋之問 Tống Chi Vấn.

Giản thể. 岭外音书断,经冬复历春。近乡情更怯,不敢问来人。

Nghĩa. Qua sông Hán

Nơi Lĩnh Nam không có tin tức người thân,
qua mùa đông rồi đến mùa xuân.
Càng đến gần quê nhà lòng lại càng khiếp sợ,
không dám hỏi những người cùng quê đang qua sông.

Tống Chi Vấn về phe Võ hậu, nên sau khi Võ hậu mất, ông bị biếm đến Lĩnh Nam. Năm sau ông lén về Lạc Dương. Bài này ông viết khi trên đường trở về, qua sông Hán Thủy.

Tạm dịch

Đất khách thư từ bặt,

Qua đông lại đến xuân.

Gần nhà càng khiếp sợ,

Không dám hỏi xa gần.

Chú

漢江 Hán Giang hay 漢水 Hán Thủy: phụ lưu lớn nhất của Trường Giang, bắt nguồn từ Thiểm Tây, chảy qua Hồ Bắc rồi đổ vào Trường giang.

嶺外 Lĩnh ngoại:vùng đất phía nam dãy Ngũ lĩnh ở Quảng Đông. Đời Đường quan lại có tội thường bị biếm đến đấy.

書 thư: thư tín, tin tức.

怯 khiếp: nhát sợ.

來人 lai nhân: chỉ những người cùng quê tác giả gặp khi qua sông Hán.

Tống Chi Vấn là nhà thơ thời Sơ Đường. Cũng có sách ghi tác giả là Lí Tần, nhà thơ thời Vãn Đường.

6/10/22

Hà xuyên độc phiếm



葭川獨泛

倚棹春江上, Ỷ trạo xuân giang thượng,

橫舟石岸前。 Hoành chu thạch ngạn tiền.

山暝行人斷, Sơn minh hành nhân đoạn,

迢迢獨泛仙。 Điều điều độc phiếm tiên.

盧照鄰          Lư Chiếu Lân

Nghĩa. Một mình đi thuyền trên sông Hà

Trên dòng sông xuân gác mái chèo, xoay ngang con thuyền trước bờ đá. Núi tối người đi đường không còn, một mình bồng bềnh nơi cõi tiên xa xôi.

Tạm dịch

Trên sông xuân gác mái,

Bờ đá xoay ngang thuyền.

Núi tối khách đường hết,

Bồng bềnh một cõi tiên.

Chú

倚 ỷ: dựa vào. 倚門而望 ỷ môn nhi vọng: tựa cửa mà trông.

棹 trạo: mái chèo; chèo thuyền; chiếc thuyền. 歸棹 quy trạo: quay thuyền về.

暝 minh: tối tăm, u ám.

迢迢 điều điều, cũng viết 苕苕: xa xôi, triền miên, thăm thẳm, dằng dặc. Điều đệ 迢遞, điều điều 迢迢, điều diêu 迢遙, điều viễn 迢遠: đều có nghĩa là xa xôi, lâu dài cả.

5/10/22

Tống nhị huynh nhập thục



送二兄入蜀

關山客子路, Quan san khách tử lộ,

花柳帝王城。 Hoa liễu đế vương thành.

此中一分手, Thử trung nhất phân thủ,

相顧憐無聲。 Tương cố liên vô thanh.

盧照鄰 Lư Chiếu Lân


Giản thể. 关山客子路,花柳帝王城。 此中一分手,相顾怜无声。卢照邻

Nghĩa Tiễn anh ba vào đất Thục

Con đường anh đi qua nhiều cửa ải và núi cao,
chốn thành đô thì đang hoa tươi liễu biếc.
Nơi đây chia tay rồi,
lại ngoái nhìn nhau ngậm ngùi không nói.

Tạm dịch.

Đèo ải đường xa ngái,

Kinh thành hoa liễu tươi.

Chia tay còn ngoái lại,

Nhìn nhau không một lời.

Chú.

二兄 nhị huynh: người anh thứ hai (tức anh ba theo cách gọi ở miền Nam).

入蜀 nhập Thục: vào đất Thục, nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên.

關山 quan san: cửa ải và núi cao, chỉ đường đi khó khăn vất vả. Xưa đường vào Thục rất gian nan, Lí Bạch có bài thơ "Thục đạo nan" (đường vào đất Thục khó).

客子 khách tử: người khách, đây chỉ anh ba của tác giả.

帝王城 đế vương thành: kinh thành.

分手 phân thủ: chia tay.

相顧 tương cố: quay nhìn nhau. 顧 cố: ngoái đầu lại.
Lư Chiếu Lân: nhà thơ thời Sơ Đường, một trong "Sơ Đường tứ kiệt"

4/10/22

Khúc trì hà

曲池荷

浮香繞曲岸, Phù hương nhiễu khúc ngạn,

圓影覆華池。 Viên ảnh phúc hoa trì.

常恐秋風早, Thường khủng thu phong tảo, 

飄零君不知。 Phiêu linh quân bất tri

盧照鄰 Lư Chiếu Lân.

Giản thể.  浮香绕曲岸,圆影覆华池。 常恐秋风早,飘零君不知。  

Nghĩa. Sen trên ao.

Hương thơm quẩn quanh trên bờ ao cong, 

những chiếc lá tròn che phủ ao nước. 

Thường lo gió thu tới sớm, 

làm hoa tàn úa khiến bạn không ngắm được hoa.

Tạm dịch

Trên bờ hương quẩn quanh,

Dưới nước lá tròn xanh.

Lo gió thu hoa rụng,

Bạn không về kịp xem.

Chú

曲池 khúc trì: ao có bờ uốn lượn quanh co. 曲 khúc: cong queo. Có thuyết cho khúc đây là Khúc Giang, tên ao, một thắng cảnh ở kinh đô Trường An đời Đường.

浮香 phù hương: mùi thơm bốc lên. Đây là hương thơm của hoa sen. 浮 phù: nổi, hiện rõ.

曲岸 khúc ngạn: bờ ao cong.

圓影 viên ảnh: bóng tròn, chỉ bóng lá sen. 

華池 hoa trì: cái ao đẹp. 

飄零 phiêu linh: rơi rụng, tàn tạ.

盧照鄰 Lư Chiếu Lân, một trong Sơ Đường tứ kiệt (Bốn nhà thơ kiệt xuất thời Sơ Đường, gồm Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân và Lạc Tân Vương).


3/10/22

Dạ tống Triệu Túng

夜送趙縱

趙氏連城璧, Triệu thị liên thành bích,

由來天下傳。 Do lai thiên hạ truyền.

送君還舊府, Tống quân hoàn cựu phủ,

明月滿前川。 Minh nguyệt mãn tiền xuyên

楊炯 Dương Quýnh


Giản thể. 赵氏连城璧,由来天下传。送君还旧府,明月满前川。

Nghĩa. Đêm đưa tiễn Triệu Túng

Họ Triệu có một khối ngọc bích trị giá liên thành, 

Xưa nay mọi người đều nghe danh. 

Hôm nay đưa bạn về quê nhà, 

Trăng sáng soi khắp mặt sông trước mặt.

Tạm dịch.

Ngọc liên thành họ Triệu, 

Thiên hạ xưa nay đồn,

Tiễn bạn về quê cũ, 

Trăng vằng vặc bến sông.

Chú

趙縱 Triệu Túng, người Triệu Châu, bạn của Dương Quýnh.

趙氏連城璧 Triệu thị liên thành bích: viên ngọc bích trị giá liên thành của nước Triệu. Thời Chiến quốc, nước Triệu có được khối ngọc đẹp gọi là ngọc họ Hòa. Vua Tần biết, xin đổi 15 thành lấy viên ngọc, nên gọi là ngọc liên thành. 

君 quân: bác, bạn; chỉ Triệu Túng. 

舊府 cựu phủ:nhà cũ, chỉ quê nhà của Triệu Túng ở Triệu Châu. 

楊炯 Dương Quýnh (650 - 692), một trong Sơ Đường tứ kiệt (Bốn nhà thơ kiệt xuất thời Sơ Đường, gồm Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân và Lạc Tân Vương).


1/10/22

Sổ Tay Sửa Lỗi Hành Văn

Tác giả Cao Xuân Hạo và Trần Thị Tuyết Mai.
Phần 1: Thế nào là một lỗi ngữ pháp và câu có trạng ngữ đặt ở đâu; 
Phần 2: Các lỗi cụ thể dễ mắc phải và cách sửa lỗi đó.






Vịnh nga

 

詠鵝  

鵝鵝鵝                Nga nga nga

曲項向天歌      Khúc hạng hướng thiên ca.

白毛浮綠水      Bạch mao phù lục thủy,

紅掌撥清波      Hồng chưởng bát thanh ba.

駱賓王                    Lạc Tân Vương.

Giản thể.  咏鹅. 鹅,鹅,鹅,曲项向天歌。 白毛浮绿水,红掌拨清波。 骆宾王。

Nghĩa. Vịnh ngỗng

Ngỗng ngỗng ngỗng. Cong cổ hướng trời kêu dài. Lông trắng nổi trên làn nước xanh, chân hồng đạp sóng trong.

Tạm dịch.

Ngỗng ngỗng ngỗng

Cong cổ hướng thinh không,

Lông trắng trên hồ biếc,

Chân hồng đạp sóng trong.

Chú

曲項 khúc hạng: cong cổ. khúc: cong; uốn cong, co lại. hạng: gáy; chỉ chung cái cổ.
chưởng: lòng bàn tay; chân động vật. 鼓掌 cổ chưởng: vỗ tay. 易如反掌 dị như phản chưởng: dễ như trở bàn tay. 熊掌 hùng chưởng: chân gấu. 鴨掌 áp chưởng: chân vịt.

bát: bài trừ, khêu, cạy. 撥草 bát thảo: phát cỏ. 撥船 bát thuyền: bơi thuyền. 撥弦 bát huyền: gảy đàn. 撥燈 bát đăng: khêu đèn.

Bài thơ được cho là Lạc Tân Vương làm lúc còn bé, nhân một hôm đang chơi bên cạnh ao đầu làng, có người khách đi ngang, nghe tiếng thần đồng nên đề nghị làm thơ thử tài.

Ở ta lưu truyền một bài thơ rất giống bài thơ trên.

鵝鵝兩鵝鵝,            Nga nga lưỡng nga nga,

仰面向天涯。            Ngưỡng diện hướng thiên nhai. (Lí Giác)

白毛鋪綠水,            Bạch mao phô lục thủy,

紅棹擺青波。            Hồng trạo bạt thanh ba. (Pháp Thuận)

Tương truyền là đối đáp giữa sứ Tống Lí Giác và sư Pháp Thuận. Trần Trọng Kim dịch

Kìa xem một đôi ngỗng,

Ngửa mặt trông trời thanh.

Lông trắng phơi nước biếc,

Chân hồng rẽ sóng xanh.