15/10/22

Ngụy biện



Ngụy biện (fallacy) là các cách lập luận sai, vi phạm các quy tắc logic trong suy luận. Nhiều người cố ý ngụy biện khi tranh luận để giành phần hơn, nhưng cũng có khá nhiều người ngụy biện một cách khá "hồn nhiên", không biết lập luận của mình thật ra là ngụy biện.
Người ta đã liệt kê ra khoảng gần năm chục kiểu ngụy biện: ngụy biện "bỏ bóng đá người", ngụy biện "người rơm", ngụy biện "cá trích", .. Sau đây là trích từ một bài viết của Inra Sara, tóm tắt một cách ngắn gọn về các kiểu ngụy biện.
--------
Ngụy biện dẫu có biến tướng tới đâu vẫn có thể quy vào 2 mối:
1. Ngụy biện trung tâm, tức ngụy biện ở LUẬN ĐIỂM
- Thấy sai, tìm cách né tránh luận điểm đang bàn;
- Biến phụ thành chính, rồi bàn tập trung vào cái phụ kia;
- Về ngôn từ, chẻ sợi tóc làm tư, hay lái độc giả hiểu theo nghĩa khác;
- Bóp méo hay nâng quan điểm của đối tượng: Ông phản đối dự án của Chính phủ tức là ông chống Đảng và Nhà nước;
- Viện dẫn bằng chứng mơ hồ, nguồn tin không đáng tin cậy, hoặc tạo chứng cứ giả; hay viện đến nhân vật uy tín nhưng nặc danh: “Một nhà phê bình hàng đầu hiện nay cũng đồng ý rằng…”
- Suy diễn ẩu, kết luận vội;
- Ngụy biện quy kết kiểu trắng-đen: “Ông không đồng tình với Acar nghĩa là ông chống dân tộc Cham, chứ không thể khác”.
2. Ngụy biên ngoại vi, là ngụy biện BÊN NGOÀI luận điểm.
- Tấn công vào tình cảm, bằng cách: Đánh vào đời tư của đối thủ: “Đạo đức hắn như thế làm gì bàn về giáo dục”; Hay huy động đến tình cảm cộng đồng: “Người hi sinh cả đời cho dân tộc, sao ông lại phê phán như thế”.
- Vận dụng thế lực ngoại vi, như: Bằng cấp: “Ông cỡ nào mà trao đổi với tiến sĩ”; Công trạng: “Làm được như người ta đi rồi nói”; Nhân danh số đông: “Đại đa số độc giả Việt Nam không chấp nhận hậu hiện đại”; Ngoài ra ngụy biện còn xài đến uy thế của tuổi tác, danh vị ngoài lề…
- Xảo ngữ
Ngoài ăn nói to mồm để lấn đài, hay chế giễu thô bạo khiến đối phương lúng túng, kẻ ngụy biện còn dùng cụm từ làm sẵn áp chế đối phương, như:
“Lẽ ra tôi không nói, do anh chị em kêu, tôi mới trao đổi với ông”; “Biết gì mà nói”; “Con lạy các thánh”; “Lẽ nào một công dân bình thường lại đi vu khống công an để mang vạ vào thân”.
Nguồn: http://inrasara.com/.../em-tap-phan-bien-31-phan-bien.../

Sơn giá cô 1

 山鷓鴣詞 其一                      

玉關征戍久      Ngọc Quan chinh thú cửu,

空閨人獨愁      Không khuê nhân độc sầu.

寒露濕青苔      Hàn lộ thấp thanh đài.

別來蓬鬢秋      Biệt lai bồng mấn thu.

蘇頲                          Tô Đĩnh

Giản thể. 玉关征戍久,空闺人独愁.寒露湿青苔,别来蓬鬓秋

Nghĩa

Chồng đi lính thú ngoài ải Ngọc Môn đã lâu,
Vợ phòng không một mình buồn bã.
Sương lạnh ướt đẫm bậc thềm rêu xanh,
Từ khi xa cách đến nay tóc mai rối bù xơ xác.

Tạm dịch

Chàng lính ải xa lâu,

Phòng khuê lẻ bóng sầu.

Thềm rêu sương lạnh đẫm,

Mái tóc rối bù đầu.

Chú

- 山鷓鴣 sơn giá cô: chim giá cô núi, tức chim đa đa, là một loài chim có bộ lông màu sắc rất sặc sỡ, giống như gà gô, có tiếng kêu của nó nghe buồn thảm, từng được bà huyện Thanh Quan nghe thành "gia gia" (Thương nhà mỏi miệng cái gia gia).

- 玉關 tức 玉門關 Ngọc Môn Quan, quan ải xây dựng từ thời Hán, đi qua Tây vực, nằm trên con đường tơ lụa xưa.

- 空閨 không khuê: phòng thiếu phụ chồng đi xa, chỉ ở một mình. khuê: phòng phụ nữ.

- 青苔 thanh đài: rêu xanh. Trước thềm có rêu xanh, ý là đã lâu không ai bước chân đến.

- 別來 biệt lai: từ khi xa cách đến nay.

- 蓬鬢 bồng mấn: tóc mai rối bù. bồng: cỏ bồng, nghĩa rộng: rối, bù xù.

- thu: mùa thu; ở đây làm tính từ, tỉ dụ già cỗi.

14/10/22

Phần thượng kinh thu

 汾上驚秋             

北風吹白雲,         Bắc phong xuy bạch vân,

萬里渡河汾      Vạn lí độ hà phần.      

心緒逢搖落,         Tâm tự phùng dao lạc,

秋聲不可聞      Thu thanh bất khả văn.

蘇頲                          Tô Đĩnh

Giản thể. 北风吹白云,万里渡河汾。 心绪逢摇落,秋声不可闻

Nghĩa: Trên sông Phần thấy e sợ mùa thu.

Gió bấc thổi mây trắng,
trên đường thiên lí đi qua sông Phần.
Trong lòng buồn bã lại gặp lúc lá cây rơi rụng,
nên không thể nghe được tiếng thu.

Tạm dịch:

Gió bấc thổi mây bay,

Qua sông đường hút dài.

Lòng buồn trông lá rụng,

Tiếng thu dường chẳng hay.

Chú

- Phần sông Phần, là một nhánh con của sông Hoàng hà.

- 驚秋 kinh thu = sợ, ngại mùa thu. 

- 河汾 Hà Phần gọi chung sông Hoàng hà và sông Phần.

- tự = đầu mối sợi tơ, như trong 情緒 tình tự = mối tình, 愁緒 sầu tự = mối sầu (ví tình, sầu như sợi dây càng kéo càng dài). 心緒 tâm tự = tâm tư, tâm trạng; ở đây chỉ nỗi buồn u uất, bấn loạn.

- 搖落 dao lạc = lá cây rơi rụng xơ xác.

蘇頲 Tô Đĩnh (670 - 727) nhà thơ thời Sơ Đường, từng giữ chức Tể tướng dưới thời Đường Huyền Tông, được phong Hứa quốc công. Văn chương ngang danh với Yên quốc công Trương Thuyết, người đời tôn xưng “Yên Hứa đại thủ bút”.

13/10/22

Thục đạo hậu kì

蜀道後期

客心爭日月, Khách tâm tranh nhật nguyệt,

來往預期程。 Lai vãng dự kì trình.

秋風不相待, Thu phong bất tương đãi,

先至洛陽城。 Tiên chí Lạc Dương thành.

張說 Trương Thuyết


Giản thể. 客心争日月,来往预期程。 秋风不相待,先至洛阳城。

Nghĩa. Đi Thục về trễ.

Khách muốn tranh thủ thời gian (để về sớm, dù) đi về đều có lịch trình định trước.
Gió thu không chịu chờ nhau, về thành Lạc Dương trước.

Tạm dịch

Công việc cố nhanh nhanh,

Đi về sẵn lịch trình.

Gió thu không đợi được.

Về trước Lạc Dương thành.

Chú

- 蜀道後期 Thục đạo hậu kì: Đi Thục về trễ. Tác giả đi sứ đến đất Thục không về nhà như thời gian đã dự định. 後期 hậu kì: kì sau, sau kì hạn dự định trở về nhưng bị trễ lại. Đây là tác giả được cử đi sứ vào Tây Thục, ngày về bị trễ so với dự định. 蜀 Thục: tên đất, nay là vùng đất Tứ Xuyên.

- 客心 khách tâm: lòng người khách, chỉ tác giả bấy giờ đang làm khách nơi đất Thục.

- 爭日月 tranh nhật nguyệt: tranh thủ thời gian.

- 預期程 dự kì trình: thời gian đi về được dự trù trước.

- 不相待 bất tương đãi: không đợi nhau.

- 洛陽 Lạc Dương: thủ đô nước Tàu đương thời. Vũ Tắc Thiên sau khi xưng đế định đô ở Lạc Dương.

張說 Trương Thuyết (667 - 730), nhà thơ thời Sơ Đường, người Lạc Dương, dưới thời vua Huyền Tông, ông làm chức Trung Thư Lệnh (中書令, tức Tể Tướng) và được phong làm Yến Quốc Công (燕國公). 說 vốn đọc là thuyết, có nghĩa là nói; còn đọc là duyệt, dùng như chữ 悅 duyệt, có nghĩa là vui mừng, nên tên ông có người đọc là Duyệt.

12/10/22

Phong





解落三秋葉, Giải lạc tam thu diệp,

能開二月花。 Năng khai nhị nguyệt hoa.

過江千尺浪, Quá giang thiên xích lãng,

入竹萬竿斜。 Nhập trúc vạn can tà.

李嶠 Lí Kiệu


Giản thể. 解落三秋叶,能开二月花。 过江千尺浪,入竹万竿斜。


Nghĩa. Gió.

Làm rụng lá cây ba tháng thu,
có thể khiến hoa tháng hai nở.
Đi qua sông gây nên sóng cao ngàn thước,
Vào rùng tre khiến hàng vạn cây nghiêng xiêu.

Tạm dịch

Làm mùa thu lá rụng,

Hoa nở tháng hai về.

Qua sông cuồn cuộn sóng,

Vào rừng nghiêng ngả tre.

Chú

解落 giải lạc: cởi bỏ, làm rơi rụng. 解 giải: biết, hiểu được. 了解 liễu giải: hiểu rõ.

三秋 tam thu: ba tháng mùa thu.

二月 nhị nguyệt: tháng hai âm lịch.

過 quá: đi qua.

斜 tà: nghiêng.

李嶠 Lí Kiệu (645 - 714), nhà thơ thời Sơ Đường. Từng làm đến Bình chương sự (tể tướng) dười thời Võ Tắc Thiên, Đường Trung Tông. Khi Huyền Tông lên ngôi thì bị biếm.

10/10/22

Thiền



垂緌飲清潞, Thùy nhụy ẩm thanh lộ,

流響出疏桐。 Lưu hưởng xuất sơ đồng.

居高聲自遠, Cư cao thanh tự viễn,

非是借秋風。 Phi thị tá thu phong.

虞世南 Ngu Thế Nam.


Giản thể. 垂緌饮清露,流响出疏桐。居高声自远,非是藉秋风。


Nghĩa. Con ve

Cái vòi hút sương trong, tiếng kêu ran từ trên cây ngô đồng cành lá um tùm.
Ở nơi cao nên tiếng kêu tự nó lan xa, không cần nhờ vào gió thu lan truyền.


Tạm dịch

Sương ngọt giương vòi hút,

Ngọn cây cất tiếng vang.

Ở cao âm tỏa rộng,

Không mượn gió thu mang.


Chú

垂緌 thùy nhuy: cái xúc tu trên đầu còn ve. 緌 nhuy: lèo mũ, tức phần rủ xuống dưới cằm của cái dải mũ xưa. Trên đầu con ve có cái xúc tu thò ra giống cái lèo mũ, nên gọi là "thùy nhuy".

流響 lưu hưởng: truyền lưu âm thanh, ở đây chỉ tiếng ve kêu không nghỉ.

疏桐 sơ đồng: cây ngô đồng có nhiều cành lá sum sê. 疏 sơ: phân ra, như trong sơ tán. 疏 sơ cũng có nghĩa là thưa.

居高 cư cao: ở trên cao.

藉 tạ /jiè/: đệm, lót; dựa vào. 憑藉 bằng tạ: nương tựa.

秋風 thu phong: ám chỉ quyền thế của vua chúa.

虞世南 Ngu Thế Nam (558 - 638) tự Bá Thi 伯施, nhà thơ đồng thời là nhà thư pháp; cùng các thư pháp gia Âu Dương Tuân 歐陽詢, Chử Toại Lương 褚遂良, Tiết Tắc 薛稷 hợp xưng là Sơ Đường tứ đại gia.

8/10/22

Biệt thân bằng

別親朋
畏途方萬里, Úy đồ phương vạn lí,
生涯近百年。 Sinh nhai cận bách niên.
不知將白首, Bất tri tương bạch thủ,
何處入黃泉? Hà xứ nhập hoàng tuyền.
鄭蜀賓             Trịnh Thục Tân

Giản thể. 畏途方万里,生涯近百年。 不知将白首,何处入黄泉。

Nghĩa: Chia tay bạn bè thân thiết.
Sợ thay con đường đời dài vạn dặm,
gần trăm tuổi còn lo chuyện áo cơm.
Không biết đem cái đầu bạc trắng này
từ nơi nào đi xuống suối vàng.

Tạm dịch:
Sợ thay đường vạn dặm,
Tóc bạc còn chạy ăn.
Không biết mai trăm tuổi,
Đâu gởi nắm xương tàn.

Chú
- 途 đồ: đường đi. 萬里 vạn lí: vạn dặm.
- 生涯 sinh nhai: chỉ phương cách kiếm sống, kế mưu sinh.
- 將白首 tương bạch thủ: đem cái đầu trắng. 將 tương: cầm, đưa. 將酒來 tương tửu lai: đem rượu lại.
- 何處 hà xứ: nơi đâu. 黃泉 hoàng tuyền: suối vàng.
鄭蜀賓 Trịnh Thục Tân là nhà thơ thời Sơ Đường, sở trường thơ ngũ ngôn, nhưng chỉ còn lưu lại trong sách Toàn Đường Thi một bài thơ “Biệt thân bằng” này, làm trong buổi bạn bè tiễn biệt đi nhận chức huyện úy ở Giang Tả lúc tuổi đã lớn. Ít lâu sau ông chết ở đó, lúc đương chức.