11/4/24

Ngộ đạo thi

 

悟道詩
盡日尋春不見春,
芒鞋踏遍隴頭雲。
歸來笑拈梅花嗅,
春在枝頭已十分。
宋代尼姑

Âm

Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân,
Mang hài đạp biến lũng đầu vân.
Quy lai tiếu niễm mai hoa khứu,
Xuân tại chi đầu dĩ thập phân.
Một ni cô đời Tống

Chú

-                 拈 niêm: nhón lấy (dùng ngón tay lấy đồ). 拈花微笑 niêm hoa vi tiếu: cầm hoa mỉm cười, 拈鬮兒 niêm cưu nhi: bắt thăm. 

CChú ý 拈 có pinyin là /nián/ hoặc /niān/,  /niǎn/,  /diān/ nhưng âm Hán Việt chỉ có "niêm". Để hợp luật bằng trắc của thơ Đường luật, không bị khó đọc, "niêm" được đọc là "niễm"

宋代尼姑 Tống đại ni cô: Một ni cô đời Tống. Có thuyết cho vị ni cô này là Vô Tận Tạng  (無盡藏). Ni người Khúc Giang, xuất gia tu ở chùa Sơn Giản, thường tụng kinh niết bàn nhưng không hiểu nghĩa. Một hôm tìm đến Lục tổ Huệ Năng đang tu ở thôn Tào Đầu gần đó, đưa cuốn kinh nhờ giảng. Tổ bảo không biết chữ. Nhưng muốn thì đọc lên, giảng nghĩa cho. Ni sư ngạc nhiên: "Không biết chữ, sao hiểu nghĩa". Tổ nói:  "Diệu lý của chư Phật chẳng quan hệ gì với văn tự".
Bài thơ trình bày quá trình ngộ đạo của nhà tu.

Giản thể

尽日寻春不见春,茫鞋踏遍垄头云,
归来笑拈梅花嗅,春在枝头已十分
.

Nghĩa

Suốt ngày tìm xuân chẳng thấy xuân,
Đôi giày gai đã đi khắp, đến tận chốn núi cao mây phủ (cũng không thấy).
Trở về cười, đưa tay với lấy một bông mai ngửi,
Thấy Xuân đã tràn về trên đầu cành.

Tạm dịch

Suốt buổi tìm xuân chẳng thấy xuân,

Gót giày đạp khắp suối mây nguồn.

Trở về cười níu bông mai ngửi,

Chợt thấy đất trời rợp bóng xuân.


10/4/24

Văn thiền

聞蟬 

送君曾此地,
一別欻經年。
愁殺長亭柳,
秋風起暮蟬。

從善王      

Âm

Tống quân tằng thử địa, Nhất biệt hốt kinh niên.
Sầu sát trường đình liễu, Thu phong khởi mộ thiền.

Chú

-          欻 hốt (phó từ), như hốt 忽: thình lình, hốt nhiên, bỗng chốc.  欻然火起, 焚燒舍宅 (Kinh Pháp hoa) Hốt nhiên hỏa khởi, phần thiêu xá trạch: Lửa bỗng nổi lên, đốt cháy nhà cửa.

-          長亭 trường đình: nhà trạm đặt dọc đường đi cho khách bộ hành nghỉ chân, thường được dùng làm nơi tiễn đưa nhau.

Nghĩa. Nghe ve kêu

Từng đưa tiễn người ở nơi này, bỗng chốc mà đã qua năm.
Nhìn cây liễu nơi nhà trạm mà buồn chết người, gió thu đưa đến tiếng ve kêu lúc cuối ngày.

Tạm dịch

Đây chỗ chia tay bạn,

Thoáng mà đã quá năm.

Bên đình buồn liễu rủ,

Theo gió chiều ve ran.

Giản thể. 送君曾此地,一别欻经年。愁杀长亭柳,秋风起暮蝉。




7/4/24

Mộ xuân tức sự

 

暮春即事
雙雙瓦雀行書案,
點點楊花入硯池。
閒坐小窗讀周易,
不知春去幾多時。
葉採

Âm

Song song ngõa tước hành thư án,
Điểm điểm dương hoa nhập nghiên trì.
Nhàn tọa tiểu song độc Chu Dịch,
Bất tri xuân khứ kỉ đa thì.

Chú

-          瓦雀: chim sẻ trên mái ngói. 行書案: ở đây chỉ bóng những con chim sẽ di động trên án sách. 書案,書桌 án sách, bàn nhỏ để đọc sách, viết lách.

-          楊花:柳絮 hoa dương, chỉ tơ liễu. 入: bay vào. 硯池: nghiên mực.

-          周易:còn gọi 《易經》 hay 《易》,một trong năm kinh điển trọng yếu của nhà Nho.

-          去:離去。幾多時:多少時間。

葉採 Diệp Thái (? - ?), đỗ tiến sĩ năm 1141, quan đến Xu mật viện kiểm thảo 樞密院檢討, Hàn lâm viên học sĩ kiêm thị độc, là nhà lí học, học trò của Chu Hi, và nhà thơ thời Nam Tống.

Nghĩa

Bóng đôi chim sẻ trên mái ngói di động trên bàn sách,
Tơ liễu lấm tấm bay vào nghiên mực.
Thư thả ngồi bên song cửa nhỏ đọc Chu Dịch,
Không biết mùa xuân đã qua được bao lâu.

Tạm dịch

Án thư đôi bóng chim qua lại,

Nghiên mực một vài tơ liễu bay.

Bên cửa thảnh thơi ngồi đọc Dịch,

Xuân qua không biết đã bao ngày.

Giản thể

双双瓦雀行书案,点点杨花入砚池。
闲坐小窗读周易,不知春去几多时
。

  



6/4/24

Chuyện tình buồn - Phạm Văn Bình






nhà thơ Phạm Văn Bình (1939 - 2018)
Phạm Văn Bình sinh năm 1939 tại Đông Hà, Quảng Trị, nhưng quê gốc ở Truồi, Thừa Thiên. Từng học trung học ở Nguyễn Hoàng, ĐH Văn khoa Huế, rồi đi dạy ở Trường Trung học bán công Đông Hà. Sau đó bị động viên học Trường Bộ binh Thủ Đức, ra trường làm SQ Tâm lí chiến ở SĐ TQLC. Sau 4/1975 bị đi cải tạo 8 năm, tha về thì qua Mỹ, mất ở Cali 22/7/2018.

Trước 1975 làm thơ đăng lai rai trên các tạp chí ở Sài gòn. Nổi tiếng với bài thơ Chuyện tình buồn được Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Anh dặm trường mê mải
Đời chia hai nhánh sông.

Những thư tình ngây dại
Những vai mềm, môi ngoan
Những hẹn hò cuống quýt
Trên lối xưa thiên đàng
Thôi cũng đành chôn kín
Dưới đáy huyệt thời gian.

Ngày nhà em pháo nổ
Anh cuộn mình trong chăn
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn
Ngày nhà em pháo nổ
Tâm hồn anh nhuốm máu
Ôi nhát chém hư vô
Ôi nhát chém hư vô.

Năm năm rồi đi biệt
Anh chẳng về lối xưa
Sân giáo đường cỏ mọc
Gác chuông nằm chơ vơ
Chúa buồn trên thánh giá
Mắt nhạt nhoà mưa qua
Trên cánh buồm ký ức
Sóng thời gian lô xô.

Ngồi bâng khuâng nhớ biển
Bên bãi đời quạnh hiu
Anh mang hồn thuỷ thủ
Cùng năm tháng phiêu du.

Anh một đời rong ruổi
Em tay bế tay bồng
Chiều hắt hiu xóm đạo
Hồi chuông giáo đường vang.

Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Bao kỷ niệm chôn kín
Dường như đã lãng quên.

Năm năm rồi trở lại
Một màu tang ngút trời
Thương người em năm cũ
Đêm goá phụ bên song.

12 Tháng Anh Đi

Tháng Giêng xuôi quân ra xứ Huế
Cố đô hoang vu, gạch ngói điêu tàn
Bãi học sân trường chiều em vắng bóng
Tóc thề thơ ngây đã quấn vội khăn tang

Tháng Hai về trấn giữ ven đô
Chong mắt hỏa châu, ghì súng giữ cầu
Gió thoảng ngạt ngào về hơi rượu mạnh
Qua màn sương đêm, lơi lã ánh đèn màu !!!

Ba lô lên vai tới miền Tây đô
Quê hương em xanh, xanh rợp bóng dừa
Đêm ngủ bìa rừng thèm làn môi ấm
Ngọt trái sầu riêng vườn đã sang mùa

Bây giờ trời mây rủ nhau vào Hạ
Mẹ, em chắc bận, cùng đi lễ chùa
Chắp tay em nguyện cầu cho chiến sĩ
Góc bể chân trời, sáng nắng chiều mưa

Tháng Năm trở về theo vì sao biếc
Em dấu yêu chắc phượng thắm sân trường
Ngày xưa đó trao nhau tờ lưu bút
Bây giờ gói quà, phong thư ấp ủ yêu thương

Tháng Sáu, em ơi ! Anh vẫn miệt mài
Muốn về thăm em nhưng bận hành quân
Đừng khóc em yêu như ve sầu mùa Hạ
Xa thì xa nhưng vẫn không quên

Sang Thu mưa ngâu nước mù bay mau
Ô hay lòng ta sao bỗng rưng sầu
Tráng sĩ xưa hề vượt cầu xưa ấy
Đầu sông cuối sông làm sao thấy nhau?

Bây giờ còn đâu huyền thoại
Hằng Nga của em bé thơ
Tất cả bầu trờ thơ ấu
Ai làm tháng Tám cằn khô

Tháng Chín quân ta về Cửu Long
Trái vú sửa căng như mạch sống mẹ hiền
Anh đi cho đồng thêm xanh trái thêm ngọt
Chiến công này xin gởi tặng em!

Về Cà Mâu anh viết vội thơ
Nhớ quá em yêu! Ngày tháng đợi chờ
"Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội"
Anh lính áo rằn yêu em gái ngây thơ

Trờ đã lạnh rồi mùa Đông đan áo
Gởi ra chiến trường sưởi ấm hơi nhau
Anh biết mùa này rộn ràng áo cưới
Chuyện chúng mình, em nhé đợi năm sau

Hoa mai nở đầy, em đang chờ đợi
Mười hai tháng rồi dài ước mơ say
Nhớ má cho hồng, nhớ môi cho ngọt
Vui đón giao thừa tay ấm trong tay.

Bài này cũng đã được Phạm Duy phổ nhạc. Duy Quang ca



Do chính tác giả ca.

Vịnh mẫu đơn

Sau 1975, nhiều vườn hoa, thậm chí nhiều vỉa hè Saigon bị phá đi trồng sắn. Nghĩ thầm đây chắc là sáng kiến của CM, tận dụng mỗi tấc đất sao cho có ích nhất để dân giàu nước mạnh. Hóa ra không phải. Một ông tể tướng đời Tống cũng đã có suy nghĩ rất thực tế như thế

詠牡丹

棗花至小能成實,
桑葉雖柔解吐絲。
堪笑牡丹如斗大,
不成一事又空枝。

王溥

Âm

Táo hoa chí tiểu năng thành thực, Tang diệp tuy nhu giải thổ ti.
Kham tiếu mẫu đơn như đẩu đại, bất thành nhất sự hựu không chi.

Chú

-          牡丹 mẫu đơn: loại hoa bông to sắc đẹp, thơm nồng, từ xưa ở Tàu được xưng tụng là quốc sắc thiên hương, vua của loài hoa; biểu tượng của phú quý cát tường.

-          桑葉 tang diệp: lá dâu.

-          斗大 đẩu đại: to như cái đấu. 斗: 盛酒器, 木瓢为斗。đẩu: đồ dùng uống rượu. Bầu lớn thì gọi là đẩu. (Nghĩa thường dùng: đẩu: đấu, đơn vị đo lường xưa)

-          堪笑 kham tiếu: 可笑 khả tiếu: đáng cười.

王溥 Vương Phổ (922 - 982) sống vào đầu đời Tống, từng làm đến tể tướng.

Nghĩa

Hoa táo rất nhỏ nhưng có thể kết trái, Lá dâu tuy mềm yếu nhưng có thể nuôi tằm lấy tơ.
Đáng cười là hoa mẫu đơn to như cái đấu, không làm được việc gì, chỉ mọc cành vô ích.

Tạm dịch

Hoa táo nhỏ nhưng cho quả ngọt,
Lá dâu mềm vẫn biến thành tơ.
Mẫu đơn to lớn như bầu rượu,
Mà chẳng ích chi chỉ sống thừa.

Giản thể

枣花至小能成实,桑叶虽柔解吐丝。堪笑牡丹如斗大,不成一事又空枝。



bông trang -- mẫu đơn ta.


3/4/24

Góp Phần Dựng Tiểu Sử Nhà Thơ Phạm Văn Bình (1940-2018)

Hoàng Đằng

Chuyện Tình Buồn
Thơ: Phạm Văn Bình
Nhạc: Phạm Duy
Trình bày: Vũ Khanh



Góp Phần Dựng Tiểu Sử
NHÀ THƠ PHẠM VĂN BÌNH
(1940 – 2018)
Hoàng Đằng


Nhà thơ Phạm Văn Bình - người quê tôi – đã qua đời ngày 22/7/2018. Đông Hà – quê tôi – có nhiều người làm thơ. Mà không riêng gì quê tôi, trên cả nước Việt Nam, nơi nào cũng vậy; ViệtNam là “cường quốc thơ” mà!
Tôi không có may mắn và điều kiện đọc nhiều, nên không biết trong số người làm thơ ở quê tôi những ai có tác phẩm hay; chỉ biết anh Phạm Văn Bình từng nổi tiếng về thơ trong thập kỷ 1960 và thập kỷ 1970, đặc biệt, anh có 2 bài thơ được nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy phổ nhạc: Đó là bài “Chuyện Tình Buồn” và “Mười Hai Tháng Anh Đi”; và có lẽ với hai bài thơ này, anh sẽ lưu danh thiên cổ.
Sau này, sự nghiệp của anh đã có tác phẩm của anh làm chứng; còn cuộc đời của anh chắc sẽ ít người biết rõ. Vì vậy, là người đồng hương với anh, tôi muốn góp phần dựng lại tiểu sử của anh qua tìm hiểu những mảnh đời, chặng đời của anh mà người Đông Hà và một số thân nhân của anh biết kẻo rồi thời gian có thể xoá mất.


* Về năm sinh của Phạm Văn Bình
Võ Văn Cẩm – bạn đồng khoá 24/SQTB Thủ Đức với Phạm Văn Bình – cho biết là năm 1942; tờ Cáo Phó khi anh mất của gia đình bên Mỹ ghi 1939; một thân nhân của anh ở Việt Nam cho biết anh tuổi Canh Thìn (1940). Tôi nghĩ năm 1942 là năm khai lại để học hành; anh học ở nhiều nơi, nhiều trường cả bậc Tiểu Học lẫn bậc Trung Học: ở Huế, ở Đông Hà, ở Đà Nẵng, ở tỉnh lỵ Quảng Trị. Còn Cáo Phó ghi năm 1939 là do cách tính; anh mất năm nay (2018), thọ 79 tuổi; theo cách tính của phương Tây, anh phải sinh năm 1939, còn theo cách tính của người Việt Nam là năm 1940. Thế nên, theo tôi, Phạm Văn Bình sinh năm 1940 – tuổi Canh Thìn.


* Về quê quán và dòng dõi,
Phạm Văn Bình sinh ra ở Đông Hà; nhưng quê gốc Bát Sơn, Lương Điền, Thừa Thiên (nay là xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế).
Vào thập kỷ 1920, thuở thanh niên, thân phụ anh, cụ Phạm Tề, ra làm công nhân xây dựng cầu Quảng Trị, kết duyên với một thôn nữ làng Như Lệ (nay là thôn Như Lệ, xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị). Rồi ông bà ra lập nghiệp ở thị trấn Đông Hà, mở một quán cơm ở ga Đông Hà vào lúc mà tại Đông Hà, việc giao thương Bắc - Nam, việc giao thương miền Trung Việt Nam - Lào nhộn nhịp.
Trong thập kỷ 1930, cụ Phạm Tề kết hôn thêm với bà Hoàng thị Căn (1909 – 1984), còn có tên thường gọi là Hoàng thị Cháu, một thôn nữ làng Điếu Ngao (nay là phường 2 – TP. Đông Hà). Phạm Văn Bình là con bà Hoàng thị Căn.
Phạm Văn Bình có người anh đầu cùng cha khác mẹ – con của mẹ làng Như Lệ - tên Phạm Ga hoạt động cho Việt Minh, từng giữ chức chủ tịch Uỷ Ban Hành Chánh Kháng Chiến khu vực Đông Hà, rồi Chánh Văn Phòng Uỷ Ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh Quảng Trị. Khi kháng chiến chống Pháp bùng lên, Phạm Ga được điều động ra Việt Bắc và, sau đó, đã mất trên đường công tác ở tỉnh Cao Bằng. Phạm Văn Bình còn có người anh cùng mẹ cùng cha tên Phạm Vinh tập kết ra Bắc; Phạm Vinh học âm nhạc, chuyên ngành về đàn violon, trong chiến tranh, trở lại miền Nam, công tác ở đoàn Văn Công Quân Khu 5, hiện đã nghỉ hưu.
Ở chế độ miền Nam thời đó, ngoài bản thân là sĩ quan, Phạm Văn Bình còn có em trai cùng cha cùng mẹ tên Phạm Như Trị cũng là sĩ quan quân đội Cộng Hoà, nay định cư ở Mỹ theo diện HO.
Về bên ngoại – phía mẹ của Phạm Văn Bình - ở làng Điếu Ngao, các cậu các dì đều theo Việt Minh.
Dòng dõi của Phạm Văn Bình như thế đã góp phần tạo tứ thơ của anh.


* Về con đường đến với thơ của Phạm Văn Bình,
Phạm Văn Bình có năng khiếu và đam mê văn nghệ từ nhỏ. Tuy nhiên, điều đó chỉ bạn bè biết chứ “người ngoài” chưa biết.
Sau khi hoàn tất bậc Trung Học – có bằng Tú Tài II, Phạm Văn Bình về quê, dạy Việt Văn tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà từ 1963; anh đứng trên bục giảng từ 1963 đến 1966 – năm mà anh phải rời bụi phấn để thi hành lệnh động viên của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà. Trong thời gian dạy ở quê nhà, anh có cộng tác với Đài Truyền Thanh Quân đội ở Đông Hà và gởi thơ đăng ở báo Lập Trường.
Xin mở ngoặc để giới thiệu đôi nét về báo Lập Trường:
Phong trào Phật Giáo bùng lên chống chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm bị cáo buộc phân biệt đối xử tôn giáo bùng lên ở Huế từ tháng 5 năm 1963; phong trào được nhiều giới trong xã hội ủng hộ, trong đó có một số không nhỏ các giáo sư Đại Học Huế; sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ tháng 11 năm 1963, cả miền Nam lâm vào cảnh xáo trộn nhiều mặt, đặc biệt là về chính trị. Năm 1964, báo Lập Trường do một nhóm giáo sư Đại Học Huế chủ trương ra đời; ban điều hành báo gồm GS Tôn Thất Hanh, khoa trưởng Đại Học Khoa Học, làm chủ nhiệm, GS Lê Tuyên giảng dạy tại Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa làm chủ bút và GS Cao Huy Thuần giảng dạy ở Đại Học Luật Khoa làm thư ký toà soạn. Lập Trường là tuần báo Chính Trị - Văn Hoá – Xã Hội; báo bày tỏ thái độ chống đối chiến tranh, chống đối cách điều hành đất nước của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, chống đối sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam; Phạm Văn Bình gởi thơ vào và được đăng với tần suất khá dày; điều đó chứng tỏ tứ thơ của Phạm Văn Bình đã hoà nhập vào lập trường của báo; chủ bút chọn bài là GS Lê Tuyên - người có cách nhìn, cách lý giải mới các tác phẩm văn học cổ Việt Nam bằng cách đem triết học hiện sinh rọi vào. Nhờ báo Lập Trường, Phạm Văn Bình được giới thơ văn biết đến càng ngày càng nhiều. Thành thử, có thể trước đó Phạm Văn Bình đã có làm thơ, nhưng chính báo Lập Trường đã nâng cánh cho thơ của anh.
Nhờ vai trò cộng tác viên đài Truyền Thanh Quân Đội Đông Hà và tiếng tăm về thơ qua báo Lập Trường, Phạm Văn Bình thi hành lệnh động viên, thụ huấn xong ở quân trường, được bổ nhiệm làm sĩ quan tâm lý chiến của sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến. Khi đã làm việc ở Sài Gòn, Phạm Văn Bình có cơ hội quen biết với giới văn nghệ sĩ, thơ anh xuất hiện trên các tạp chí, được đánh giá cao, được Phạm Duy chọn phổ nhạc; nhờ thế, anh có chân trên thi đàn.


* Người phụ nữ trong bài thơ “Chuyện Tình Buồn” là ai?
Trong văn học, tác giả ký tên T.T.KH của bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn” nổi tiếng hơn 80 năm qua vẫn còn là nghi án – giới nghiên cứu văn học đã đoán nhiều tên, nhưng chưa chắc chắn một tên nào. Từ đó, tôi lo tương lai có người muốn biết thật sự tên người phụ nữ trong bài thơ “Chuyện Tình Buồn” sẽ gặp khó khăn, trong khi hiện giờ bà con và người thân quen quê gốc Đông Hà thì biết rõ, nhưng không ai chịu lên tiếng hoặc không có điều kiện lên tiếng. Tôi xin phép lên tiếng thay.
Không biết mối tình giữa Phạm Văn Bình và người phụ nữ này chớm nở từ lúc nào, nhưng mối tình này vỡ lỡ giữa thập kỷ 1960:
Năm năm rồi không gặp,
Từ khi em lấy chồng,
Anh dặm trường mê mải,
Đời chia hai nhánh sông …
Phạm Văn Bình “dặm trường mê mải” từ năm 1966 – năm thi hành lệnh động viên vào lính.
Nhà Phạm Văn Bình và nhà người phụ nữ cùng ở trong con hẻm đường Phan Bội Châu thị trấn Đông Hà. Người phụ nữ này có một người anh – bạn thân cùng trang lứa với Phạm Văn Bình. Qua lại giao du, thấy người phụ nữ này có nhan sắc, có học vấn (cô này không học ở Đông Hà mà học ở Trung Học Bán Công Huế), lại biết trang điểm, ăn diện bắt mắt, Phạm Văn Bình vừa ý, đem lòng yêu đương. Hai người yêu nhau; người Đông Hà thấy mối tình của họ “da diết” lắm, ngay cả Phạm Văn Bình cũng thổ lộ:
Những thư tình ngây dại,
Những vai mềm, môi ngoan,
Những hẹn hò cuống quýt …
Không ai ngờ mối tình ấy tan vỡ. Người trong cuộc bảo rằng do hai người khác biệt về tôn giáo: gia đình Phạm Văn Bình theo Phật Giáo, gia đình người phụ nữ này theo Thiên Chúa Giáo. Thôi, chúng ta cứ tin như vậy, chứ trên đời, không thiếu gì người khác tôn giáo kết hôn với nhau; về sống với nhau, hoặc vợ theo tôn giáo của chồng, hoặc chồng theo tôn giáo của vợ, hoặc, cùng lắm, mỗi người cứ giữ tôn giáo của mình.
Người phụ nữ này “sang ngang”, lấy một người chồng đồng đạo; ông chồng là sĩ quan quân y, trước đó, tốt nghiệp cán sự y tế, bị động viên vào quân đội; hai vợ chồng có 4 người con (?). Rủi! Ông chồng tử trận, Phạm Văn Bình viết trong thơ: “Anh một đời giong ruỗi; em tay bế tay bồng” là vậy.
Việc bất thành trong mối tình giữa Phạm Văn Bình và người phụ nữ này không biết do gia đình bên nào gây ra; nhưng trong thơ và trong đời thực, Phạm Văn Bình ôm nỗi đau cho riêng mình mà không một lời oán hận:
Ngày nhà em pháo nổ,
Anh cuộn mình trong chăn,
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn.
Ngày nhà em pháo nổ,
Tâm hồn anh nhuốm máu,
Ôi nhát chém hư vô,
Ôi nhát chém hư vô.
……………………
Năm năm rồi trở lại,
Một màu tang ngút trời,
THƯƠNG người em năm cũ,
THƯƠNG goá phụ bên song.
Và sau này, mỗi lần có dịp, Phạm Văn Bình vẫn ghé thăm gia đình người phụ nữ này. Ngay trong lễ tang Phạm Văn Bình vừa rồi, người bà con của Phạm Văn Bình cho tôi xem một bức ảnh chụp chung 3 người con của Phạm Văn Bình với một người con gái của người phụ nữ này. Tình của Phạm Văn Bình và người phụ nữ này đã vượt lên sự nhỏ nhen của hờn ghen để thăng hoa. Đẹp quá! Đúng là “đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ”.
Xin tiết lộ: Người phụ nữ này có tên là Nguyễn thị Tuý sinh năm 1945, nguyên là một cư dân Đông Hà, hiện giờ còn sống và định cư bên Mỹ.


* Về tạng người và lối sống,
Phạm Văn Bình có gien văn nghệ từ gia đình; như trên đã nói Phạm Văn Bình có ông anh ruột hoạt động trong lãnh vực âm nhạc.
Phạm Văn Bình không đua đòi theo thiên hạ về bề ngoài, anh thích ca hát vui chơi, không quan tâm đến của cải vật chất. Từ khi ra trại cải tạo cho đến khi đi Mỹ theo diện HO, thời gian dài cả 10 năm, thế mà không thấy anh làm gì để mưu sinh, trong khi những người gặp hoàn cảnh như anh phải làm bất cứ gì để giúp nuôi sống gia đình: xe thồ, xe kéo, bán nước chè, làm thuê … Anh rong chơi không phải với bạn bè cùng lứa - vì không có - mà với bạn bè ít tuổi hơn anh nhiều; anh gặp họ trong các quán cà phê, trong những tiệc cưới, ca hát vui nhộn cùng họ, nhiều khi quá chén, cũng say sưa.
Nghe nói anh uống cà phê không phải trả tiền theo lần mà có bao nhiêu trong túi anh giao cho chủ quán, hàng ngày anh tới uống khi nào chủ quán tính là số tiền hết thì báo cho anh biết.
Thời gian anh chuẩn bị đi Mỹ, nhiều phụ nữ muốn đem tình và tiền ra để “quá giang”, anh từ chối, chắc anh quá ngán ngẩm rồi!
Khi qua Mỹ, với tuổi đời ngấp nghé 55, anh cũng không chạy vạy kiếm công ăn việc làm như thiên hạ, anh sống với người con trai trưởng của anh trong sự bảo bọc của cả 3 đứa con và tiền trợ cấp của chính phủ Mỹ.
Xin mở ngoặc để nói đôi điều về gia đình anh. Sau khi mối tình với Nguyễn thị Tuý không thành, anh lập gia đình với một cô học trò trẻ, đẹp của anh tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà. Vợ chồng sinh được 3 con. Do hoàn cảnh nghiệt ngã sau năm 1975, vợ chồng cũng không sống với nhau trọn đời. Người vợ đem ba con qua Mỹ trước, anh qua sau, và được sự quan tâm chu đáo của cả ba con.
Phạm Văn Bình có lối sống và tạng người khác đời như thế, cộng thêm sống trong bầu không khí gia đình và đất nước mà thân thích kẻ Bắc người Nam, anh luôn mang tâm trạng buồn đau – buồn đau cho đất nước tang thương, cho tình người tan vỡ vì chiến tranh. Dù là một sĩ quan (cấp bậc cuối cùng đại uý) tâm lý chiến, thay vì kích động hận thù để tuyên truyền cho phe ta, chống phe địch, anh không làm thế; bằng chứng là trong bài thơ “Hành Trình Thuỷ Quân Lục Chiến” (tên khác: “Mười Hai Tháng Anh Đi”) - dài 58 câu - chỉ nói lên nỗi đau, niềm khắc khoải, tình yêu lỡ làng do chiến tranh mà người lính cảm nhận khi đi qua đất nước điêu tàn.
Sau thời gian dài khổ cực trong trại cải tạo, được trở về sống trong cộng đồng, nhà không, vợ nỏ có, anh cũng không một lời oán thán ai:
Trở về nhà cũ, nhà thay chủ.
Em đâu? – Đã bỏ chốn thiên đường.
Sang sông, em nỡ lên thuyền khác.
Thôi nhớ làm gì? “Chinh phụ ngâm” …
(Trích từ bài thơ “Đầu Xuân Khai Kiếm”)
Tóm lại, Phạm Văn Bình là nhà thơ nhân văn.
*
* *
Tôi viết bài này với ý nghĩa tích cực; tôi đã hỏi thông tin từ nhiều người: bà con của Phạm Văn Bình có, những người Đông Hà thân quen với Phạm Văn Bình có. Tôi đã đối chiếu, đánh giá thông tin từ nhiều nguồn, cố gắng để có những thông tin chân thật.
Hy vọng bài viết này sẽ làm cho Phạm Văn Bình vui nơi chín suối và góp phần hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về nhà thơ Phạm Văn Bình sau này.


Hoàng Đằng
30/7/2018 (18/6/Mậu Tuất)
Nguồn: fb Hoàng Đằng

1/4/24

Tạp cảm. Tùng Thiện Vương

 

雜感 
鷓鴣啼可哀,
子規啼更苦。
修書謝百舌,
生成不自主。
從善王                   

Âm

Giá cô đề khả ai, Tử quy đề cánh khổ. Tu thư tạ bách thiệt, Sinh thành bất tự chủ.

Nghĩa. Cảm nghĩ linh tinh

Chim đa đa kêu nghe ai oán, chim cuốc kêu nghe khổ não (mỗi con một giọng riêng để bày tỏ tâm nguyện của mình).
Viết sách thì cũng nên như vậy, đừng như chim khướu, một đời không tự chủ.

Tạm dịch

Chim đa kêu áo não,

Chim cuốc giọng buồn phiền.

Viết lách đừng như khướu,

Đời không có giọng riêng.

Chú

鷓鴣 chá cô: chim đa đa, còn gọi gà gô. Theo truyền thuyết, là hồn Bá Di và Thúc Tề đời nhà Thương vì phản đối nhà Chu, chết hoá thành chim kêu "Bất thực Chu túc" (không ăn thóc nhà Chu). Người ta còn đặt ra câu có âm tương tự tiếng kêu của chim: hành bất đắc dã ca ca 行不得也哥哥 đi không được anh ơi. Trong văn thơ thường dùng hình ảnh chim này để ẩn dụ lòng nhớ quê. (Thương nhà mỏi miệng cái gia gia - Bà Huyện Thanh Quan).

子規 tử quy: còn gọi là đỗ quyên, đỗ vũ, tức chim cuốc cuốc. Truyền thuyết kể vua Thục mất nước, hồn hoá chim luôn luôn kêu: cố quốc, cố quốc. (Nhớ nước đau lòng con quốc quốc - Bà Huyện Thanh Quan)

百舌 bách thiệt, tức 百舌鳥 bách thiệt điểu: chim khướu, loài chim có thể hót nhiều giọng. 百 bách: trăm. 舌 thiệt: lưỡi.

Giản thể. 杂感 
鹧鸪啼可哀,子规啼更苦。
修书谢百舌,生成不自主。
从善王