30/7/24

Thương xuân

 傷春 

準擬今春樂事濃,
依然枉卻一東風。
年年不帶看花眼,
不是愁中即病中。

楊萬里                                  

Âm

Chuẩn nghĩ kim xuân lạc sự nùng,
Y nhiên uổng khước nhất đông phong.
Niên niên bất đái khan hoa nhãn,
Bất thị sầu trung tức bệnh trung.

Nghĩa. Cảm thương mùa xuân.

Dự liệu xuân này chắc có nhiều chuyện vui, nhưng như cũ lại phụ lòng làn gió xuân.
Năm nào cũng không ngắm hoa thì nếu không phải buồn lòng thì ắt là trong người có bệnh vậy.

Tạm dịch

Cũng nghĩ xuân này chắc hẳn vui,

Dè đâu lại uống gió đông rồi.

Bao năm chẳng muốn nhìn hoa nở,

Chẳng phải lòng buồn ắt bệnh thôi.

Giản thể

准拟今春乐事浓,依然枉却一东风。年年不带看花眼,不是愁中即病中。

Chú

-          準擬 chuẩn nghĩ: dự liệu. 準 chuẩn: sửa soạn. 準備 chuẩn bị: sắp sẵn đầy đủ. 擬 nghĩ: liệu tính, định.

-          依然 y nhiên: như xưa; bịn rịn, lưu luyến

-          枉卻 uổng khước: phụ lòng. 枉 : phí công vô ích. 卻 , cũng viết 却: từ chối, lùi về.

-          不帶 bất đái: không có, không mang.

-          東風 đông phong: gió từ hướng đông thổi, tức 春風 xuân phong: gió mùa xuân.

楊萬里 Dương Vạn Lí (1127 - 1206), nhà thơ đời Tống.

28/7/24

Hạnh Viên hoa hạ thù Lạc Thiên kiến tặng.

 

杏園花下酬樂天見贈

二十餘年作逐臣,歸來還見曲江春。
遊人莫笑白頭醉,老醉花間有幾人。
劉禹錫

Âm

Nhị thập dư niên tác trục thần, Quy lai hoàn kiến Khúc Giang xuân.
Du nhân mạc tiếu bạch đầu túy, Lão túy hoa gian hữu kỷ nhân.

Chú.

-          杏園 Hạnh Viên: Vườn Hạnh. Vào tháng ba mỗi năm, khi hoa hạnh nở rộ, các tân khoa tiền sĩ đều tụ tập tại đây làm tiệc gọi là Khúc Giang yến hoặc Hạnh Viên yến. 酬 thù:đáp trả. 樂天 Lạc Thiên, hiệu của Bạch Cư Dị, nhà thơ cùng thời và là bạn thân của Lưu Vũ Tích. 見贈 kiến tặng: (Bạch Cư Dị) làm thơ tặng.

-          二十餘年:Lưu Vũ Tích bị biếm vào năm 805, đến năm 827 được triệu về kinh, tổng cộng hai mươi ba năm. 逐臣: chỉ những quan lại bị triều đình giáng chức và đày đi xa, ở đây nhà thơ tự chỉ mình.

-          曲江 Khúc Giang,  một thắng cảnh ở kinh thành (nay ở đông nam thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây), vào dịp lễ tết dân chúng tới thăm chơi rất đông.

Nghĩa. Dưới hoa trong vườn Hạnh làm bài thơ đáp lại bài thơ Lạc Thiên đã tặng

Hơn hai mươi nam làm kẻ bề tôi bị đày, Nay về lại gặp xuân trên sông Khúc. Những người đi chơi gặp chớ cười người đầu bạc say rượu. Già mà say rượu dưới hoa thì được mấy người?

Tạm dịch

Hai chục năm hơn chịu đọa đày,
Tiết xuân về lại Khúc Giang đây.
Chớ cười đầu bạc mà say nhé,
Già dưới hoa say được mấy tay.

Giản thể.

二十余年作逐臣,归来还见曲江春。游人莫笑白头醉,老醉花间有几人。

Bài thơ này được sáng tác khi Lưu Vũ Tích đang giữ chức Học sĩ tại điện Tập Hiền ở Trường An.  Bấy giờ ông 57 tuổi, vừa trở về kinh đô sau hơn 20 năm bị biếm, đi làm quan xa. Lưu Vũ Tích cùng với Bùi Độ, Bạch Cư Dị và những người khác tổ chức tiệc và ngắm hoa tại vườn Hạnh bên bờ tây Khúc Giang. Dịp này, Bạch Cư Dị làm bài thơ "Hạnh Viên Hoa Hạ Tặng Lưu Lang Trung" để tặng Lưu Vũ Tích, và Lưu Vũ Tích viết bài thơ này để đáp lại.

27/7/24

Thẩm Viên 2

 沈園其二 

夢斷香消四十年,
沈園柳老不吹綿。
此身行作稽山土,
猶吊遺蹤一泫然。

陸游

Âm

Mộng đoạn hương tiêu tứ thập niên,
Thẩm Viên liễu lão bất xuy miên.
Thử thân hành tác Kê sơn thổ,
Do điếu di tung nhất huyễn nhiên.

Chú

-          四十年 40 năm, tính từ khi Đường Uyển mất.

-          不吹綿 tơ liễu không bay. 綿 miên: bông, cũng dùng chỉ vật thể như bông. Ở đây chỉ tơ liễu.

-          行 hành, phó từ: như 將 sẽ, sắp.

-          稽山 núi Kê, nay ở đông nam Thiệu Hưng, Chiết Giang.

-          猶 do, phó từ: còn, vẫn

-          吊 điếu: thăm viếng, tưởng nhớ người đã khuất.

-          泫然 huyễn nhiên: (mặt mũi) đầy nước mắt. 泫 huyễn: nước mắt ròng ròng.

Nghĩa

Mộng đứt hương tàn đã bốn mươi năm, cây liễu ở Thẩm Viên cũng già nua, không còn nhả tơ bay như xưa nữa. Thân này sắp trở thành một nắm đất ở núi Kê, đến viếng thăm chốn xưa vẫn còn nước mắt đầm đìa.

Tạm dịch.

Bốn chục năm qua giấc mộng buồn,
Thẩm Viên liễu cỗi hết tơ buông.
Thân này sắp sửa về cùng đất,
Đến chốn xưa nhìn lệ lại tuôn.

Giản thể.
梦断香消四十年,沈园柳老不吹绵。
此身行作稽山土,犹吊遗踪一泫然
。




陸游 (1125 - 1210)nhà thơ thời Nam Tống, từng tham gia quân đội ra trận chống quân Kim, từng giữ chức quan đến Bảo Chương Các đãi chế. Ông giỏi về thơ, từ, văn và nổi tiếng về sử học. Lục Du cùng với Vưu Mậu, Dương Vạn Lý, và Phạm Thành Đại được gọi là Tứ đại gia Nam Tống. Thơ ông còn lưu lại hơn chín ngàn bài.

Lục Du kết hôn với Đường Uyển, con gái của cậu mình, khi ông 20 tuổi (1144). Mẹ của Lục Du không thích con dâu, ép họ phải li hôn sau khoảng ba năm chung sống.

Gần mười năm sau, ông tình cờ gặp lại Đường Uyển ở Thẩm Viên, phía nam chùa Vũ Tích. Đường Uyển đi với chồng mới, kể lại cho chồng nghe chuyện và gửi rượu cùng thức ăn tới cho Lục Du. Lục Du buồn bã viết một bài từ lên tường. Đường Uyển sau khi đọc bài từ cũng viết một bài đáp lại, không lâu sau đó buồn mà qua đời. Sự kiện này làm Lục Du đau đớn khôn nguôi, viết khá nhiều thơ từ giãi bày tâm sự, trong đó nổi tiếng nhất là chùm hai bài tuyệt cú Thẩm Viên nhị thủ, viết khi ông đã 75 tuổi. Trên đây là thứ hai.

25/7/24

Thẩm Viên 1

沈園其一
城上斜陽畫角哀,
沈園非復舊池臺。

傷心橋下春波綠,
曾是驚鴻照影來。

陸游

Âm.

Thành thượng tà dương hoạ giốc ai,
Thẩm viên phi phục cựu trì đài.
Thương tâm kiều hạ xuân ba lục,
Tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai.

Chú

-          沈園:Thẩm Viên, vị trí nay ở nam chùa Vũ Tích, Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang.

-          畫角 tù và, loại nhạc khí làm bằng sừng trâu hay vỏ ốc, tiếng nghe ai oán.

-          驚鴻:Chim hồng bay bổng. 驚 kinh, nghĩa gốc là ngựa lồng lên. Chữ lấy từ bài Lạc thần phú của Tào Thực: “Phiên nhược kinh hồng, uyển nhược du long” 翩若驚鴻,婉若遊龍 (phiêu hốt như chim hồng bay bổng, uyển chuyển như rồng uốn lượn) chỉ dáng vẻ của phụ nữ.

Nghĩa

Trên thành lúc chiều xuống tiếng tu và trổi lên nghe ai oán. Thẩm Viên không còn những đình đài bên ao xưa. Dưới cầu mặt nước ao xuân vẫn xanh biếc một cách đau lòng, Nơi đây từng in hình bóng nàng như chim hồng thoáng bay qua.

Tạm dịch

Thành cổ chiều buông tiếng giốc đưa,
Thẩm Viên lầu gác chẳng còn lưa.
Chân cầu sóng gợn ao xuân biếc,
Một thủa từng in bóng dáng xưa.

Giản thể

城上斜阳画角哀,沈园非复旧池台。
伤心桥下春波绿,曾是惊鸿照影来
。

陸游 (1125 - 1210)nhà thơ thời Nam Tống, từng tham gia quân đội ra trận chống quân Kim, từng giữ chức quan đến Bảo Chương Các đãi chế. Ông giỏi về thơ, từ, văn và nổi tiếng về sử học. Lục Du cùng với Vưu Mậu, Dương Vạn Lý, và Phạm Thành Đại được gọi là Tứ đại gia Nam Tống. Thơ ông còn lưu lại hơn chín ngàn bài.

Lục Du kết hôn với Đường Uyển, con gái của cậu mình, khi ông 20 tuổi (1144). Mẹ của Lục Du không thích con dâu, ép họ phải li hôn sau khoảng ba năm chung sống.

Gần mười năm sau, ông tình cờ gặp lại Đường Uyển ở Thẩm Viên, phía nam chùa Vũ Tích. Đường Uyển đi với chồng mới, kể lại cho chồng nghe chuyện và gửi rượu cùng thức ăn tới cho Lục Du. Lục Du buồn bã viết một bài từ lên tường. Đường Uyển sau khi đọc bài từ cũng viết một bài đáp lại, không lâu sau đó buồn mà qua đời. Sự kiện này làm Lục Du đau đớn khôn nguôi, viết khá nhiều thơ từ giãi bày tâm sự, trong đó nổi tiếng nhất là chùm hai bài tuyệt cú Thẩm Viên nhị thủ, viết khi ông đã 75 tuổi. Trên đây là bài đầu. 

24/7/24

Mộ thu độc du Khúc giang

 暮秋獨遊曲江

荷葉生時春恨生,荷葉枯時秋恨成。
深知身在情長在,悵望江頭江水聲。
李商隱

Chú

-          曲江: nay ở đông nam thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây.

-          春恨:giống như 春愁,春怨。生:bản khác: “起”。

-          深知:十分了解。hiểu rất rõ ràng.

-          悵望:Nhìn ngắm hoặc mong ngóng một cách buồn bã.

Nghĩa. Cuối thu một mình đi chơi trên sông Khúc.

Khi xuân về, lá sen mới nhú, nỗi hờn oán đã phát sinh.
Khi thu đến, lá sen tàn, nỗi oán hờn cũng thành.
Biết rõ ràng, chỉ cần còn sống trên đời, tình cảm sẽ trường tồn mãi mãi.
Buồn bã nhìn nơi đầu sông, nghe tiếng nước chảy không ngừng.

Tạm dịch

Xuân lá sen xanh mối hận sanh

Thu lá sen khô mối hận thành.

Vẫn hay thân có tình còn có

Buồn lặng nghe dòng nước cuốn nhanh.

Giản thể.

荷叶生时春情生,荷叶枯时秋恨成。深知身在情长在,怅望江头江水声。

23/7/24

Vịnh liễu

 詠柳

碧玉妝成一樹高,萬條垂下綠絲絛。
不知細葉誰裁出,二月春風似剪刀。
賀知章

Âm

Bích ngọc trang thành nhất thụ cao,

Vạn điều thùy hạ lục ti thao.

Bất tri tế diệp thùy tài xuất,

Nhị nguyệt xuân phong tự tiễn đao.

Chú.

-          碧玉 ngọc biếc. Hình dung màu sắc cây liễu xanh như màu ngọc bích.

-          妝 trang: 打扮 hóa trang, sắm vai. Liễu thường được ví như phụ nữ, chữ trang (trang điểm) dùng ở đây rất đắt.

-          條 (条) điều: cành nhỏ.

-          絲絛 ti thao: 絲帶 dải tơ. 絛 thao: dây đánh bằng tơ, dải tơ.

Nghĩa.

Ngọc xanh hóa trang thành cây liễu cao, muôn ngàn cành nhỏ rủ xuống như dải thao xanh.
Không biết những chiếc lá nhỏ do ai cắt thành. Gió xuân vào tháng hai giống như những cây dao. 

Tạm dịch

Ngọc biếc hóa thành cây liễu cao,

Muôn cành tơ rủ tựa dây thao.

Chẳng hay lá nhỏ ai người cắt,

Gió tháng hai như những lưỡi dao.

Giản thể

碧玉妆成一树高,万条垂下绿丝绦。
不知细叶谁裁出,二月春风似剪刀。

賀知章 Hạ Tri Chương ( 659 - 744), nhà thơ, đồng thời là nhà thư pháp nổi tiếng thời Sơ Đường, cùng với Trương Húc, Trương Nhược Hư, Bao Dung được gọi là Ngô trung tứ sĩ (Bốn danh sĩ đất Ngô). Ông hơn Lí Bạch 40 t, làm bạn vong niên với Lí Bạch và rất được Lí bạch quý trọng. 

22/7/24

Xuân tuyết

 

春雪 

春雪滿空來,觸處似花開。
不知園裏樹,若箇是真梅。

東方虯

Âm

Xuân tuyết mãn không lai, Xúc xứ tự hoa khai.
Bất tri viên lý thụ, Nhược cá thị chân mai?

Nghĩa.

Đầu xuân bất ngờ tuyết rơi đầy trời, đậu trên cành cây trông như những bông hoa.
Nhìn cây trong vườn, phân vân không biết đâu mới thực là hoa mai.

Chú:

-          觸處 (触处)/chù chù/ : 处处;到处 xúc xứ: khắp nơi. 觸 xúc, tính từ: khắp. 觸處皆是 xúc xứ giai thị: đâu đâu cũng thế.

-          若個:哪個。Nhược cá: cái nào.

-          梅 mai: cây mơ, đầu xuân nở hoa, có loại hoa trắng, có loại hoa đỏ. nở hết hoa rồi mới nẩy lá, quả chua, chín thì sắc vàng.

東方虯 Đông Phương Cầu nhà thơ thời Sơ Đường. Có bản ghi tác giả là 趙嘏 Triệu Hỗ, nhà thơ thời Vãn Đường. 

Tạm dịch

Xuân tuyết bay bời bời,
Như bông nở khắp nơi.
Nhìn trong vườn chẳng biết,
Đâu mới thực hoa mai.

Giản thể.

春雪满空来,触处似花开。不知园里树,若个是真梅。