14/02/2020

Hãy cứ là tình nhân

Valungtung năm nay chẳng mấy ai còn đầu óc nghĩ đến hoa hoét hay dắt nhau đi lung tung đâu đó .. Có lẽ chỉ trừ Hà Nội. Ở đó nam thanh nữ tú vẫn đầy tinh thần lạc quan cách mạng mang khẩu trang đi nghe hát Hãy cứ là tình nhân ..


live show "Hãy cứ là tình nhân" ở TTHNQG Ha Nội hôm 9/2/2020

Hãy cứ là tình nhân vốn là tên một bài hát của Tú Minh. Mời nghe chính tác giả trình bày

24/01/2020

Chiều cuối năm


Chiều cuối năm đứng bên dòng sông buồn
Nhìn nước trôi, nước trôi về đông phương
Chiều cuối năm, tiếng gió như gọi hồn
Ai tha hương lạc loài, xưng xăng không kịp về
Cội nguồn xưa dấu yêu.

Chiều cuối năm tiếng con tàu lăn đều
Làm xốn sang những linh hồn cô liêu
Chiều cuối năm khói bếp ai vật vờ
Theo mây lên bầu trời bay lang thang một đời
Tựa đời ta lãng du.

Chiều cuối năm rồi, lòng nhớ tơi bời
Nào bóng quê hương, nào bóng yêu thương
Chiều cuối năm rồi, một bóng bên trời
Một bóng chơi vơi, nhìn cánh chim bay
Bay về đâu chiều cuối năm.



Chiều cuối năm là nhạc phẩm của Đynh Trầm Ca. Ông tên thật là Mạc Phụ, sinh năm 1941 tại Điện Bàn Quảng Nam. Tốt nghiệp ĐHSP Sài gòn, trước 4/1975 đi dạy. Sau đó thì về quê làm ruộng một thời gian rồi lang bạt vào Sài gòn, về miền Tây làm đủ nghề kiếm sống. Sau khi có vợ (198x) thì trở về lại quê nhà mở quán cafe.
Ông làm thơ từ hồi 1960, theo học nhạc với Lê Trọng Nguyễn (tác giả Nắng Chiều), được mọi người biết từ 1967 với tác phẩm Ru Con Tình Cũ.
Tính đến nay ông đã cho xb mấy tập thơ và gần trăm ca khúc, trong đó có một số kí tên Mã Thu Giang (tên vợ ông)

Chú
1. Bút danh của ông là Đynh Trầm Ca, Đynh viết với y dài. Dù khác chuẩn chính tả tiếng Việt, thì đấy là tên (bút danh) riêng, và cần tôn trọng, viết đúng - chứ không phải như wikipedia bảo là sai và tự ý sửa lại thành Đinh. (dù Đinh vốn là họ mẹ của ông).
2. .. xưng xăng không kịp về .. Chả hiểu xưng xăng nghĩa là gì. Tra một số từ điển có trong tay ko thấy. Đoán là tiếng địa phương Quảng Nôm. Ai biết nghĩa chỉ giùm nhé. tks.






20/01/2020

Bài 4 Quy tắc “bút thuận”

Chữ Hán mà ta thấy ngày nay là kết quả của một quá trình biến đổi mấy ngàn năm, từ những nét vẽ nguệch ngoạc tùy tiện bằng vật nhọn khắc trên xương thú mai rùa dần được chuẩn hóa thành một số nét cơ bản, viết có thứ tự trước sau, theo những quy tắc nhất quán gọi là quy tắc bút thuận.

1. Nét cơ bản. Chữ Hán có 7 nét cơ bản và các biến dạng của chúng. Cũng có tác giả cho số nét cơ bản nhiều hoặc ít hơn, hoặc gọi tên các nét cơ bản khác nhau; không sao cả, cũng chỉ là các nét ấy thôi, người xếp vào cơ bản, người coi là biến dạng. Vấn đề của ta là phải tập viết chúng sao cho trước đúng, sau đẹp.

Các bạn có thể theo dõi clip sau, để được hướng dẫn viết các nét cơ bản: https://youtu.be/vB09yyTAQxU

Tập viết các nét cơ bản đúng, đẹp là bước đầu để viết chữ Hán đẹp.

2. Quy tắc bút thuận là các quy tắc viết thứ tự các nét chữ Hán sao cho thuận bút, thuận tay. Theo đó:
1) [viết nét] trên trước [viết nét] dưới sau.
Ví dụ: nhị 二 , tam 三 , bộ đầu 亠 , bộ hán 厂 , bộ nghiễm广, bộ phương 匚 , bộ hệ 匸
2) ngang trước sổ sau.
ví dụ: thập 十, công 工 , thổ 土 (chú ý: nét ngang đáy viết sau cùng).
3) phẩy trước mác sau.
Ví dụ: Hựu 又 , phụ父 
4) trái trước phải sau.
Ví dụ: bát 八, nhân 人 , nhập 入 ,  bộ mịch 冖 , bộ bao 勹 , bộ quynh 冂 , bộ khảm 凵 , bộ tư 厶 , kỉ 几  ,  cân 斤
Chú ý: cận 近 : viết 斤 trước, bộ 辶 sau
bộ 辶 nằm bên trái nhưng có nét nằm dưới cùng, nên viết sau theo QT trên trước dưới sau.
5) ngoài trước trong sau. Ví dụ: nguyệt 月, tịch 夕
6) vào trước đóng sau: Ví dụ: nhật 日
7) chấm góc trên bên phải viết sau cùng:
Ví dụ qua戈 ; khuyển 犬   
Một số ngoại lệ: đao 刀 , lực 力, bộ tiết 卩 : nét móc bên phải viết trước (trái QT 4: trái trước)
  thủy 水:    nét giữa viết trước (lệ thường: trái trước phải sau)
  hỏa 火 :    hai chấm hai bên viết trước.
  nữ 女 :     nét ngang viết sau cùng.
  tâm 心 :   Biến thể của bộ tâm 忄   (viết như chữ hỏa)




Quy tắc bút thuận được rút ra từ kinh nghiệm viết chữ của nhiều người để viết chữ Hán được thuận tay. Chúng không phải là những phép tắc bắt buộc mọi người phải tuân thủ. Người Nhật viết chữ  bì皮 theo một thứ tự khác với người Tàu. Còn khá nhiều chữ như thế. Trong thực tế nếu bạn thấy viết khác đi mà vẫn thuận tay thì cứ viết, chả sao. Có điều nên cẩn thận, vì kinh nghiệm bao đời mới đẻ ra các quy tắc ấy, nên chúng vẫn có những giá trị nào đó, có thể mới học ta chưa nhận ra. Nên tốt nhất, mới học, hãy tập viết cho đúng nét, đừng viết tùy tiện thành thói quen khó sửa.

Các chữ mới trong bài: 三 斤 近 父 火 犬 女 心 。

45. 三 tam [sàn] = 3. 
Nhất, nhị, tam là ba chữ chỉ sự, viết thì đơn giản, chỉ gồm các nét ngang, ở đây không hướng dẫn thêm. 
46. 斤 cân [jīn] = cái rìu. Bộ 斤 cân. Chữ tượng hình, vẽ cái rìu   
47. 近 cận [jìn] = gần. Chữ hình thanh. Bộ sước 辵 + âm: cân 斤.
Bộ sước 辵 có nghĩa là chợt dừng chợt đi, khi tham gia tạo chữ thì viết 辶, đứng bên trái chữ và luôn viết sau cùng. 
48. 父 phụ [fù] = cha. Bộ 父 phụ. hình tay cầm cái rìu đá làm nuôi gia đình.
49. 火 hỏa [huǒ] = lửa. TH.   ngọn lửa. Biến thể: 灬 (bốn chấm hỏa).
Cứu hỏa = chữa cháy. Hỏa tiển = tên lửa. Hỏa tốc = khẩn cấp. Hỏa dược = thuốc súng
50. 犬 khuyển [quăn] = con chó. Hình con chó     BT (biến thể): 犭
Giáp cốt văn giống con chó, chữ khải犬 giống người (bị chó đuổi) chạy toát mồ hôi hơn. 
51. 女 nữ (nǚ) = nữ. Bộ 女 nữ.    Hình cô gái quì (bộ ngực to đặc trưng phái nữ)
52. 心 tâm [xīn] = trái tim; tấm lòng. Hình quả tim    
人心 lòng người. Vô tâm: vô tư lự. Tâm tính: tính tình. Viên tâm: tâm đường tròn. Hoa tâm: nhụy hoa. Giang tâm: lòng sông. 
Đố chữ (Hán gì): Đêm thu gió lọt song đào. Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời. (Kiều)



Chú ý: các hình vẽ trong bài này (và tất cả các bài sau này) đều là giáp cốt văn của chữ tương ứng. Nếu không phải giáp cốt văn sẽ ghi rõ.
  

18/01/2020

Gọi người yêu dấu


Nghe lại một bài hát cũ của Vũ Đức Nghiêm. Trong playlist này ngoài một số ca sĩ nổi tiếng, còn có tiếng hát của Vũ Thơ Trinh, là con gái của tác giả (clip cuối). Về câu chuyện tình đằng sau bài hát, xin coi lại entry cũ, ở đây




Gọi người yêu dấu xa vời.
Mà lòng lưu luyến bồi hồi.
Ngày biệt ly đành nhớ nhau thôi khi chiều nhẹ rơi...




15/01/2020

8 điệp khúc


Ngồi nghe lại 8 điệp khúc của Anh Việt Thu

Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Bàn tay năm ngón mưa sa.
Dìu anh trong tiếng thở.
Đưa tiễn anh đi vào đời.
Mẹ Việt Nam ơi, hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về ..

Đã có nhiều người bày tỏ sự ngạc nhiên, rằng vì sao bài hát ra đời năm 1965 Anh Việt Thu lại viết Mẹ Việt Nam ơi, hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về ? Sao lại có con số tròn trịa hai mươi năm, và lại đúng đến thế? Trịnh Công Sơn cũng thế. Trong bài hát Gia Tài Của Mẹ ra đời năm 1965, ông cũng viết Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày ..

Nhưng trong khi TCS mơ màng về một vòng tay lớn sau cuộc chiến thì Anh Việt Thu trong một đoạn sau lại than thở Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời.

Giờ này ngồi nghe lại, có cảm giác như bài hát không phải ra đời vào tháng 12/1965 mà là 12/1975, hay thậm chí 12/1985 ..

Trùng dương sóng nước bao la.
Trùng dương vang tiếng gọi.
Ôi sóng thiêng em về Trời.

8 điệp khúc được in năm 1965, với lời ghi trên đầu tờ nhạc Bài hát dành cho chàng ru khi nàng buồn ngủ. Là một bản tình ca dành cho đôi lứa, nhưng mỗi khi nghe chỉ thấy man mác một nỗi buồn về một quê hương tan tác chia lìa. Những năm đầu 197x trong thời chiến tranh, hay những năm 198x bao người vượt trùng dương ra đi, đã đành. Mà sao cả bây giờ, sau gần nửa thế kỷ hòa bình thống nhất, ngồi nghe lại vẫn cứ cái cảm giác ấy.

Nhất là những ngày nay, sau trận càn Đồng Tâm ..

Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời.





Trùng dương vang tiếng gọi
Ôi sóng thiêng em về Trời ..


Trên biển. Tranh Trần Trung Tín


Anh Việt Thu tên thật là Huỳnh Hữu Kim Sang (1939 - 1975).
Sau khi tốt nghiệp hạng ưu tại trường Quốc gia Âm Nhạc Sài gòn khóa 1 (1963) ông về dạy nhạc tại một trường PTTH ở Tây Ninh. Từ năm 1965 - 1966 ông thành lập đoàn Du ca Phù Sa, đi hát từ Cần Thơ ra Huế. Sau đó ông được mời về Đài Vô tuyến VN phụ trách một số chương trình phát thanh. Đến 1971 ông có một chương trình riêng Giờ nhạc Anh Việt Thu trên đài Vô tuyến Truyền hình VN. Sau đó ông làm việc tại Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh QLVNCH (chung với Trần Thiện Thanh, .. ).
Ông bệnh mất vào tháng 3/1975 ở Sài gòn.

Anh Việt Thu sáng tác nhạc từ rất sớm. Năm 1956 khi mới 17 tuổi, ông đã cho xuất bản Giòng An Giang. Cho đến khi mất, ông viết được hơn 100 ca khúc, trong đó có khá nhiều ca khúc nổi tiếng như Chân Dung, Đa Tạ, Nhớ Nhau Hoài, Trên Đầu Súng, ..

*
Lyrics
1. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Bàn tay năm ngón mưa sa.
Dìu anh trong tiếng thở.
Đưa tiễn anh đi vào đời.
Mẹ Việt Nam ơi, Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về.

2. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Bàn tay đón gió muôn phương.
Bàn tay đan gối mộng
Đưa tiễn anh đi vào đời
Mẹ Việt Nam ơi, Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về.

3. Tiếng hát hát trên môi.
Giấc ngủ ngủ trong nôi.
Một đàn, đàn chim nhỏ bay khắp trời Việt Nam mến yêu.
Ôi tiếng chim muông gọi đàn.
Mẹ Việt Nam ơi, con xin dâng xin hiến trọn cả đời.

4. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Nằm nghe tiếng hát đu đưa.
Dìu anh trong giấc ngủ.
Ôi tiếng ru ru ngọt ngào.
Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời.

5. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Từng đêm ấp ủ trong tim.
Từng đêm khe khẽ gọi.
Anh nhớ thương em từng giờ.
Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời.

6. Tiếng hát hát trên môi.
Giấc ngủ ngủ trong nôi.
Một đàn, đàn chim nhỏ bay khắp trời Việt Nam mến yêu.
Ôi tiếng chim muông gọi đàn.
Mẹ Việt Nam ơi, con xin dâng xin hiến trọn cả đời.

7. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Trùng dương sóng nước bao la.
Trùng dương vang tiếng gọi.
Ôi sóng thiêng em về Trời.
Mẹ Việt Nam ơi, con xin ghi xin khắc nguyện lời thề.

8. Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Rừng thiêng lá đổ âm u.
Rừng thiêng vang tiếng gọi.
Ôi núi thiêng em về nguồn.
Mẹ Việt Nam ơi, con xin ghi xin khắc nguyện lời thề.

13/01/2020

Nhạc sĩ Việt

có trong blog tính đến 5/10/19

Anh Bằng
AVT ban nhạc
Anh Việt Thu 8 điệp khúc
Canh Thân Cô hàng cafe
Chung Quân
Cung Tiến
Cung Trầm Tưởng Bài của Thy Nga (RFA)
Diệu Hương Mình ơi
Doãn Nho Năm anh em trên một chiếc xe tăng
Dương Thiệu Tước
Đặng Thế Phong
Đinh Thìn sáo
Đức Huy

Bài 3. Bài đọc thêm. Thuyết văn giải tự

Thuyết Văn Giải Tự, thường được gọi tắt là Thuyết Văn (Shuowen) là cuốn từ điển chữ Hán ra đời vào đầu thế kỉ thứ 2 do Hứa Thận (khoảng 58 - 148) một học giả thời Đông Hán biên soạn.
Sách gồm hơn một trăm ngàn chữ, chia thành 15 chương, trong đó 14 chương đầu dành cho từ điển với hơn 9 ngàn mục từ. Chương cuối gồm Lời cuối sách và Bảng liệt kê các bộ thủ chữ Hán.

Thuyết Văn không phải là một cuốn từ điển như thường thấy. Nó không cho nghĩa thông dụng của từ, nghĩa nó cho, trong một số trường hợp, thậm chí đã không còn được dùng.
Ví dụ chữ bát 八 được cho nghĩa là 別也 biệt dã ( = chia, tách ra). Nghĩa này dựa trên hình chữ, là tượng hình hai người quay lưng lại với nhau. Có thể nói đây là nghĩa gốc của chữ bát 八, nhưng từ xa xưa bát 八 đã được mượn dùng (giả tá) để chỉ số 8; nghĩa "chia, tách" chỉ tồn tại, là nghĩa góp vào, khi nó làm thành phần cấu tạo của một chữ khác.
Thuyết Văn là một cuốn từ điển từ nguyên, căn cứ trên triện thư của một chữ mà chỉ ra cấu tạo của nó, từ đó chỉ ra ý nghĩa mà nó biểu thị. Tên sách Thuyết Văn Giải Tự hàm ý phân biệt hai loại chữ: văntự. Văn chỉ những chữ có tự dạng là một đồ hình không thể chia nhỏ được nữa. Tự là chữ có tự dạng là kết hợp của hai hay nhiều thành phần, có thể tách ra được.
Với văn thì thuyết giảng (thuyết văn), chỉ ra cấu tạo của nó. Ví dụ chữ thượng 上 được thuyết giảng là 指事也 chỉ sự dã (= chữ chỉ sự). Với chữ nhân 人 thì được thuyết giảng là 象臂脛之形 tượng tí hĩnh chi hình = phỏng theo hình cánh tay cẳng chân (chữ tượng hình). Chỉ sự và tượng hình là hai trong 6 cách cấu tạo chữ Hán (lục thư)
Với tự thì chiết tự, tách nó ra (giải tự), rồi chỉ ra thành phần cấu tạo của nó, đâu là hình bàng, thanh bàng (với chữ hình thanh), hoặc chỉ ra đâu là các thành phần góp nghĩa (với chữ hội ý). Hình thanh và hội ý cũng là hai cách cấu tạo chữ Hán trong lục thư.
Lục thư có từ hàng trăm năm trước đó, nhưng chỉ đến Thuyết Văn mới được định nghĩa tường minh (chương 15, Lời cuối sách), và được ứng dụng để thuyết, giải các chữ Hán thu thập được. Cho đến ngày nay, phần lớn những kiến giải về lục thư trong Thuyết Văn vẫn còn nguyên giá trị. Một số ít chữ khác thì kiến giải của Thuyết Văn tỏ ra không đủ thuyết phục sau khi các nhà khảo cổ khám phá ra giáp cốt văn, kim văn - những dạng chữ có trước triện thư (là dạng chữ mà Hứa Thận lấy làm cơ sở để thuyết, giải).

Một đóng góp to lớn hơn nữa của Thuyết Văn là cách phân loại chữ Hán theo bộ. Trước đó, từ điển chữ Hán được phân loại khá lỏng lẻo theo ngữ nghĩa, ví dụ trong cuốn Nhĩ Nhã, người ta chia ra nhóm các từ về thiên văn, các từ về địa lí, về y phục, về cây cỏ, v.v. ; dùng học tập thì cũng được, nhưng nếu dùng tra cứu thì khá khó khăn. Ở Thuyết Văn, hơn 9 ngàn chữ Hán được chia thành 540 nhóm, gọi là bộ. Chữ đứng đầu mỗi bộ gọi là bộ thủ, các chữ trong cùng một bộ thì trong tự dạng đều có chứa bộ thủ này. Tên bộ được gọi theo tên bộ thủ: bộ nhất, bộ đại, bộ thủy, .. 
Với sáng kiến phân nhóm theo hình thức, dựa vào bộ thủ này, việc sắp xếp từ điển thuận tiện hơn, người dùng tra cứu cũng dễ dàng hơn hẳn. Đáng tiếc là vì muốn có số bộ thủ tròn con số 540 (được gán cho ý nghĩa huyền bí, là tích của số âm lục 6, số dương cửu 9 và thập thiên can 10) nên việc phân bộ nhiều khi không hợp lý, có hàng chục bộ chỉ có mỗi bộ thủ! Dù vậy, cách chia nhóm theo bộ thủ tiện lợi này vẫn được các nhà làm từ điển về sau tiếp thu, cải tiến; số chữ Hán trong các từ điển ngày càng tăng nhưng được sắp xếp hợp lý hơn, số bộ thủ ngày càng giảm, và ổn định ở con số 214 bộ từ thời Minh đến nay.

Tuy có một số điểm chưa được như thế, Thuyết Văn đã có những đóng góp lớn về học thuật, đến nay bộ sách gần hai nghìn năm tuổi này vẫn là tài liệu tham khảo quý giá cho người muốn nghiên cứu, học tập chữ Hán cổ.