15/04/2019

Đàn bầu kể chuyện

Các nước Tàu, Nhật, Kampuchia, Ấn, Indonesia, Nam Phi, Uganda, Kenya, Croatia, .. đều có loại đàn một dây như cây đàn bầu của VN. Nhưng cây đàn bầu vẫn có nét đặc sắc, độc đáo riêng. Theo GS Trần Quang Hải, không có cây đàn một dây nào sử dụng bồi âm như đàn bầu; với âm vực rộng hơn ba quảng tám, rất phù hợp với các giai điệu trữ tình sâu lắng, nhưng vẫn có thể chơi các bài hát tươi vui, rộn ràng; có thể trình diễn tất cả các kĩ thuật rung nhấn luyến láy rất đặc trưng của dân ca Việt.
Chưa xác định được cây đàn bầu ra đời từ bao giờ. Có nhà nghiên cứu cho là có từ thế kỉ thứ X, XI; có người cho là ra đời vào thế kỉ thứ XVIII. Từ lâu đàn bầu đã gắn liền với đời sống tình cảm của người dân Việt, đến mức các cụ phải cảnh báo: Đàn bầu ai gảy nấy nge, làm thân con gái chớ nghe đàn bầu ..

Coi bộ phim tài liệu sau để biết thêm về cây đàn độc đáo này.



12/04/2019

ngấn lệ thôi tìm môi tủi thân!.!




ngấn lệ thôi tìm môi tủi thân!.!
và, Lê Phú Giáp / Nam Phương Nguyễn


tìm nhau, khi lá chưa lìa gốc

mưa chưa hề biết chuyến đò ngang.

hoàng hôn chưa lẩn mình sau núi

nắng có về. nhưng không nhớ nhung.


.

tìm nhau, khi gió còn neo sóng.

ngấn lệ chưa tìm môi tủi thân.

hồn chưa biết gửi buồn lên mắt.

tiếng guốc chưa lìa xa tuổi xuân


.

tìm nhau, trí nhớ chưa lên nước

tựa chút gì như chưa rõ tên?

bàn tay nhấm nhẳng sau tà áo:

những thoáng mơ mòng được  giấu, riêng…


.

tìm nhau, sấp ngửa thời bom, đạn,

mỗi kẻ trôi theo một hướng đời!!!

khăn tang đắp mặt. không bia mộ.

cũng gọi được ư? - một kiếp người?

.

và, năm, tháng ấy, như dao sắc

cắt vụn đời kia. những tưởng xong!.!

ngờ đâu gió trả mây về… mắt.

tay níu tay vào ẩn mật, chung.



tìm nhau, từ đấy như… cổ tích.

đò gọi mưa về ngang bến sông.

hồn bỗng phổng phao như mới lớn.

ngấn lệ thôi tìm môi tủi thân!.!

.

tìm nhau, ai đã tìm nhau nhỉ?

nghe được gì trong tiếng guốc, xưa?


Du Tử Lê,

(Garden Grove, Jan. 2019)

10/04/2019

Thiếu nữ bên hoa sen


(Dân trí) - Nữ sinh Huyền Trang (sinh năm 1997) chọn trang phục áo dài truyền thống, búi tóc thấp, đội mấn và đi guốc mộc để thực hiện bộ ảnh mùa sen tháng Sáu.

Nguyễn Đặng Huyền Trang sinh ra tại huyện Gia Viễn (Ninh Bình), hiện đang là sinh viên trường ĐH Thăng Long.

Nguyễn Đặng Huyền Trang sinh ra tại huyện Gia Viễn (Ninh Bình), hiện đang là sinh viên trường ĐH Thăng Long.

Huyền Trang là một cô gái yêu thích chụp ảnh và cũng đang là một mẫu ảnh tự do tại Hà Nội.

Huyền Trang là một cô gái yêu thích chụp ảnh và cũng đang là một mẫu ảnh tự do tại Hà Nội.

Với gương mặt đẹp, chiều cao 1m70, số đo ba vòng khá chuẩn 84-62-92, Huyền Trang từng tham gia cuộc thi The Face do trường tổ chức và lọt vào đến vòng chung kết. Sắp tới, Trang cũng sẽ thử sức với cuộc thi sắc đẹp ở tỉnh nhà.

Với gương mặt đẹp, chiều cao 1m70, số đo ba vòng khá chuẩn 84-62-92, Huyền Trang từng tham gia cuộc thi The Face do trường tổ chức và lọt vào đến vòng chung kết. Sắp tới, Trang cũng sẽ thử sức với cuộc thi sắc đẹp ở tỉnh nhà.

“Em đang học về quản trị du lịch nên ngoài ước mơ được làm trong các khách sạn lớn em còn mong muốn có một cửa hàng riêng của mình”, Trang chia sẻ về ước mơ trong tương lai.
“Em đang học về quản trị du lịch nên ngoài ước mơ được làm trong các khách sạn lớn em còn mong muốn có một cửa hàng riêng của mình”, Trang chia sẻ về ước mơ trong tương lai.

Yêu thích đi du lịch nên Trang có quan điểm sống thoáng, cô bạn thích tự lập, tự làm chủ cuộc sống.

Yêu thích đi du lịch nên Trang có quan điểm sống thoáng, cô bạn thích tự lập, tự làm chủ cuộc sống.

Thực hiện bộ ảnh sen theo phong cách quý phái với áo dài trắng truyền thống, búi tóc thấp, đội mấn và đi guốc mộc Huyền Trang lý giải: “Áo dài là trang phục em thích, vừa kín đáo, nền nã lại vừa toát ra được vẻ kiêu sang, quý phái, rất hợp với hoa sen”.

Thực hiện bộ ảnh sen theo phong cách quý phái với áo dài trắng truyền thống, búi tóc thấp, đội mấn và đi guốc mộc Huyền Trang lý giải: “Áo dài là trang phục em thích, vừa kín đáo, nền nã lại vừa toát ra được vẻ kiêu sang, quý phái, rất hợp với hoa sen”.

Bày tỏ quan điểm về xu hướng “hở bạo” của các thiếu nữ khi chụp ảnh hoa sen, Huyền Trang cho rằng: “Mỗi người có một quan niệm về cái đẹp theo một cách riêng, em không phê phán hay biểu dương hành động đó”.

Bày tỏ quan điểm về xu hướng “hở bạo” của các thiếu nữ khi chụp ảnh hoa sen, Huyền Trang cho rằng: “Mỗi người có một quan niệm về cái đẹp theo một cách riêng, em không phê phán hay biểu dương hành động đó”.



“Em chỉ nghĩ khi mặc lên mình một bộ trang phục nào đó thì phải làm sao tôn lên nét đẹp của bộ trang phục, phá cách để làm nó đẹp lên chứ đừng làm xấu đi”, Trang nói.

“Em chỉ nghĩ khi mặc lên mình một bộ trang phục nào đó thì phải làm sao tôn lên nét đẹp của bộ trang phục, phá cách để làm nó đẹp lên chứ đừng làm xấu đi”, Trang nói.

Nét kiêu sa của người đẹp đất Cố đô bên hoa sen tháng Sáu - 9



Nét kiêu sa của người đẹp đất Cố đô bên hoa sen tháng Sáu - 10



Nét kiêu sa của người đẹp đất Cố đô bên hoa sen tháng Sáu - 11



Nét kiêu sa của người đẹp đất Cố đô bên hoa sen tháng Sáu - 12



Nét kiêu sa của người đẹp đất Cố đô bên hoa sen tháng Sáu - 13

Kim Bảo Ngân 
ẢnhLương Trung Kiên

26/03/2019

Duyên tình con gái Bắc

đọc lại mấy bài thơ bái hát học trò cho vui
Thơ Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Tâm phổ nhạc. Minh Hùng ca


23/03/2019

Già đầu còn mê nhạc sến

Hồi nhỏ tôi mơ làm…kép cải lương. Ước mơ “khủng” này không xuất phát từ giọng ca đầy “tiềm năng” của tôi mà đơn giản vì… tiền. Một thằng nhóc 8- 9 tuổi mơ số tiền lớn cỡ cát xê danh ca Út Trà Ôn thì hơi không bình thường. Nhưng đó là nguyên nhân gần, chứ nguyên nhân sâu xa là tôi bị nhiễm cái máu giang hồ lục tỉnh.

Coi cải lương thì tôi có cơ hội đi ”ăn theo” mấy bà chị, nhưng xem xi nê, dù xoay sở  cách mấy tôi cũng đành phải coi… cọp. Tôi thường  lê la ở rạp Văn Cầm gần cầu Kiệu, thấy  anh chị nào quởn quởn là lẩn theo như em út  vào xem ké. Giao du với đám nhóc gần đó, tôi cũng biết thêm vài mánh xem cọp, chẳng hạn chỉ cần mua một vé, một thằng vào trước, rồi lẩn ra góc rạp đưa vé đã xé cho thằng khác, có sẵn cái cùi vé vất đi, dán sơ xịa vào, rồi tỉnh bơ chìa cho ông soát vé vào rạp, rồi lại tiếp tục tuồn vé cho thằng sau….

20/03/2019

Khúc hát sông quê

Nghe Anh Thơ ca Khúc Hát Sông Quê và đọc bài của Nguyễn Trọng Tạo kể chuyện sáng tác ca khúc này.




CẢM TẠ LÀNG QUÊ BẰNG KHÚC HÁT SÔNG QUÊ 
NGUYỄN TRỌNG TẠO

Trường hợp tôi viết bài hát “Khúc hát sông quê” cũng là một bất ngờ.

19/03/2019

Tam cương và Nho giáo

Giải oan cho Nho giáo – Lời nói đầu
Giải oan cho Nho giáo – Kỳ 1: Tam cương và Nho giáo
Thế Nhật •Thứ Tư, 15/03/2017

Trong Nho giáo người ta nói rằng có “tam cương”, “ngũ thường”, mà “tam cương” chính là những tiêu chuẩn bị lên án mạnh mẽ nhất, bị những người phản đối Nho giáo cho là các giáo điều “chết người”. Nhưng sự thực có phải là như vậy?

Trong kỳ này, chúng ta sẽ bàn đến tam cương ở bốn khía cạnh chính:


  • Tam cương không phải của Nho giáo.
  • Có thật là “vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung”, “cha khiến con chết, con không chết không hiếu”?
  • Có thật là chồng nói, vợ “phải” theo?
  • Quan niệm về mối quan hệ xã hội trong Nho học.


Tam cương không phải của Nho giáo
Cương (綱), theo nghĩa đen, là sợi dây chính, tức sợi dọc, trong tấm vải hay tấm lưới. Tam cương tức là ba giềng mối chính trong xã hội thời xưa. Tam cương gồm có quân thần (Vua và các quan), phụ tử (cha và con), phu phụ (chồng và vợ). Theo Tam tự kinh thì mối quan hệ vua tôi cốt ở cái nghĩa; mối quan hệ cha con cốt ở cái tình; mối quan hệ vợ chồng cốt ở sự đồng thuận.

Những người phản đối Nho giáo thường giải thích rằng “Tam cương” chủ trương người làm Vua, làm cha và làm chồng có quyền hành tuyệt đối với bầy tôi, con hay vợ. Nhưng điều mà họ không hề nói tới đó là, trong các sách của Khổng Tử, Mạnh Tử không chỗ nào nói đến tam cương cả. Lật khắp Tứ thư Ngũ kinh không hề có khái niệm tam cương. Người đề xuất “Tam cương” rõ ràng là Hàn Phi Tử của Pháp gia, vốn đề cao Pháp trị và tin rằng “nhân chi sơ tính bản ác” (bản tính con người là ác), hoàn toàn khác với Nho giáo vốn đề cao Đức trị của Khổng Tử. Sau này người ta lại trộn lẫn Pháp gia vào Nho giáo, khiến tam cương trở thành một bộ phận của Nho giáo, nhưng những học giả chân chính qua Tứ thư Ngũ kinh vẫn còn có thể phân biệt rõ ràng. Việc gán ghép những thứ cực đoan của “Tam cương” cho Nho giáo chính là phương thức phá hoại “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” điển hình nhất trong thời Đại cách mạng văn hóa mà chúng ta đã nói đến trong Lời nói đầu của loạt Chuyên đề này.

Cũng từ việc gán tam cương cho Nho giáo, những người phản đối Nho giáo đã lấy dẫn chứng những ví dụ rất thảm khốc về việc vua giết bề tôi hay phụ nữ tự sát để giữ tròn trinh tiết trong lịch sử. Có những người chưa từng đọc Tứ thư Ngũ kinh, nhưng khi nghe những lời bình luận đó cũng cảm thấy Nho gia thật là “lạc hậu”, thật là “giáo điều”.

Vậy thì chúng ta hãy thử tìm hiểu tiếp về hai câu nói mà người ta vẫn thường bừa bãi gán cho Nho giáo là:


  • “Vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung; Cha khiến con chết, con không chết không hiếu”.
  • “Chồng nói vợ phải theo”.

Có thật là “vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung”, “cha khiến con chết, con không chết không hiếu”?
“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”, những học giả phản đối Nho gia thường xuyên lấy câu nói trên làm luận cứ cho giáo điều “chết người”. Tuy nhiên tìm trong Tứ thư Ngũ kinh, thậm chí là nhiều học thuyết lớn của Nho giáo sau này cũng không thấy luận điểm ấy.

Thực ra, câu này chính là của Thái tử Phù Tô nói khi nhận lệnh vua cha là Tần Thủy Hoàng bắt phải chết do Lý Tư ngụy tạo di chiếu. Tướng Mông Điềm đề nghị đem quân về kinh đô xem có thực là di chiếu của Tần Thủy Hoàng nhưng Thái tử Phù Tô cản lại bằng câu nói: “Quân sử thần tử ,thần bất tử bất trung; Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu”. Chữ “sử” sau này bị người ta nhầm thành chữ “xử”, bản thân chữ “sử” có nghĩa là sai khiến. Nội điều đó đã cho thấy người phản đối Nho giáo không hề truy xét rõ ràng.

Sau này câu nói trên được sử dụng rất nhiều trong các hình thức kinh kịch thời Minh Thanh của Trung Quốc. Trong Tây du ký của Ngô Thừa Ân, hồi 78, Trư Bát Giới chính là đã từng nói câu này. Nhưng thực sự nguồn gốc của nó không phải là từ Nho giáo, bởi vì nhà Tần chủ trương Pháp gia chứ không phải Nho giáo. Thủ pháp phá hoại quen thuộc, “Râu ông nọ cắm cằm bà kia”.

Đạo quân thần trong Nho giáo không phải như người ta vẫn tưởng.
Vậy đối với luận điểm này, Nho giáo chủ trương thế nào?

Vua Ai công nước Lỗ hỏi Khổng Tử rằng: “Con theo mệnh cha có phải là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là trung không?”. Hỏi ba lần mà Khổng Tử không trả lời. Lúc Khổng Tử ra ngoài, Khổng Tử đem chuyện ấy nói với Tử Cống và hỏi ý Tử Cống thế nào. Tử Cống thưa: “Con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là trung, còn ngờ gì nữa?”

Khổng Tử nói: “Ngươi không biết gì. Đời xưa đấng minh quân làm vua nước vạn thặng có tránh thần bảy người thì vua không làm điều lỗi; làm vua nước thiên thặng có tránh thần năm người, thì xã tắc không nguy; làm chủ một nhà, có tránh thần ba người thì lộc vị không suy. Cha có tránh tử, thì không hãm vào điều vô lễ; kẻ sĩ có tránh hữu, thì không làm điều bất nghĩa. Cho nên con theo mệnh cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là trung. Chỉ có biết xét cái đáng theo mà theo, mới gọi là hiếu, là trung vậy” (Khổng Tử gia ngữ: Tam thứ, IX).

Học giả Trần Trọng Kim bình rằng: “Xem thế làm điều hiếu, không phải cha làm thế nào cũng phải theo. Có khi cha làm điều gì trái lẽ, thì phải hết sức can ngăn, để cho cha khỏi bị những điều lầm lỗi. Nhưng chỉ cốt phải theo lễ mà can ngăn. Hiếu có hợp lễ mới thật là hiếu.” (Nho giáo, Quyển thượng – In lần thứ tư, NXB Tân Việt – Sài Gòn, trang 142-143).

Nho giáo chỉ trung với ông vua có đủ tư cách, đáng cho mình thờ; nếu không thì có thể bỏ mà thờ ông vua khác, như Khổng Tử đã bỏ vua nước Lỗ. Nghĩa quân thần trong Nho giáo có định phận rõ ràng: Vua Định công nước Lỗ hỏi Khổng Tử rằng: “Vua khiến bề tôi, bề tôi thờ vua, phải thế nào?” Khổng Tử đáp rằng: “Vua lấy lễ mà đãi bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua” (Luận ngữ: Bát dật).

Mối quan hệ vua tôi cốt ở cái nghĩa; mối quan hệ cha con cốt ở cái tình, ấy mới là quan điểm của Nho giáo vậy.

Có thật là chồng nói, vợ “phải” theo?
Nguyên câu “Chồng nói vợ phải theo” là “Phu xướng phụ tùy”, nguyên gốc tiếng Hán là “夫唱婦随”. Trong đó, chữ “xướng” (唱) có nghĩa là ca hát hoặc đề ra, còn chữ “tùy” (随) có nghĩa là thuận theo. Ấy vậy mà những người phản đối mặc nhiên thêm một chữ “phải” vào, làm câu nói này hoàn toàn mất đi nghĩa nguyên gốc của nó. Đây cũng không phải là một khái niệm trong Tứ thư Ngũ kinh. Tuy nhiên nếu phải bàn tới, thì “Phu xướng phụ tùy” hoàn toàn có thể mang ý nghĩa tích cực, chính là để chỉ một cảnh giới trong hôn nhân. Nó có hàm ý rằng mối quan hệ vợ chồng cốt ở sự đồng thuận. Trong đó, hợp với lẽ âm dương mà bàn thì người chồng đóng vai trò “xướng”. Điều này sẽ được bàn tới kỹ hơn trong kỳ 4 của loạt bài Giải oan cho Nho giáo có tựa đề: Sự huy hoàng của nữ quyền thời Nho giáo thịnh trị.

Sau khi dẫn chứng câu “Phu xướng phụ tùy” xong, những người phản đối Nho giáo tiếp tục dẫn chứng những câu có lực phá hoại mạnh hơn như “chồng Chúa vợ tôi”, điều này lại càng không hề có trong kinh điển Nho học. Rồi tiến tới, người ta còn đưa ra chuyện phụ nữ ở góa, hay thậm chí tự sát vì giữ tròn trinh tiết rất thảm khốc. Những ví dụ này thực chất chẳng hề liên can gì tới Khổng Tử. Trong “Lễ ký” có ghi con dâu và cháu dâu của Khổng Tử đều tái giá. Nhưng xuyên suốt bối cảnh chung phê phán Khổng Tử, người ta bắt đầu đổ những thảm kịch lên đầu Nho giáo.

Một lần nữa, chúng ta lại thấy một hình thức phá hoại Nho gia khác chính là “Phóng đại phía phụ diện của đạo lý”. Thật ra, người ta không chỉ hiểu sai ý nghĩa của “đạo phu thê” thành một cương trong “tam cương”, mà còn hiểu sai ý nghĩa của quan hệ hôn nhân thành “tam tòng”. Việc này cũng sẽ được bàn đến trong kỳ 4 của loạt bài Giải oan cho Nho giáo.

Quan niệm về mối quan hệ xã hội trong Nho học
Trong Luận Ngữ, thiên 12 (Nhan Uyên), câu thứ 11, Tề Cảnh Công hỏi Khổng Tử về chính trị Khổng Tử đáp: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”. Trong mỗi cặp trên, chữ thứ nhất là danh từ, chữ thứ hai là động từ: Vua làm đúng việc ông vua; tôi làm đúng việc bầy tôi; cha làm đúng việc của cha; con làm đúng việc của con. Nghĩa là Vua, tôi, cha, con đều phải làm cho trọn đạo.

Mạnh Tử nói: “Phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín, thử nhân chi đại luân dã. Dã tựu thị ngũ luân”. Chính là cha con có tình thân, vua tôi có cái nghĩa, vợ chồng có sự khác biệt, huynh trưởng và trẻ nhỏ có trật tự trên dưới, bạn bè thành thật tin tưởng, đây cũng chính luân thường đạo lý.

“Phu thê hữu biệt” ở đây không hề nói người chồng có quyền tuyệt đối trên người vợ. Trong gia đình, thuận lẽ âm dương, người nam phải nuôi sống gia đình, bảo hộ thê tử con cái của mình; người nữ cần nhu hòa, sinh thành và giáo dưỡng con trẻ; ai làm tốt phận người ấy. Nếu ai cũng muốn là người quyết định, ai cũng đòi phần thắng thì gia đình tự nhiên sẽ bất hòa.

Vậy nên “Phu thê hữu biệt” chính là một thỏa thuận ngầm giữa hai vợ chồng trong công việc gia đình. Nếu thực sự có mâu thuẫn, thì người phụ nữ có thể dùng cái nhu của mình để đối đãi, có thể lấy nhu mà nhẫn chịu, cũng có thể lấy nhu mà thắng cương, nhưng nhất quyết vẫn nên là người phụ nữ. Người phụ nữ có đức lớn, là bởi vì người phụ nữ có sức mạnh bên trong sự nhu thuận, có trí tuệ bên trong sự khiêm nhường.

Do vậy, Nho giáo cũng bàn đến rất nhiều mối quan hệ xã hội, chứ không chỉ là quân thần, phụ tử, phu phụ như người ta vẫn tưởng. Quan niệm chân chính của Nho giáo cũng không hề cực đoan như nhiều người vẫn nghĩ. Nói cách khác, Nho giáo cũng có tam cương, nhưng không phải cái gọi là “Tam cương” mà người ta gán ghép.

Tựu chung lại, chúng ta có thể bình rằng: Không đề xuất “Tam cương”, nhưng lại nhận mọi loại sỉ nhục vì “Tam cương”, chỉ vậy thôi đã đủ thấy nỗi oan của Nho giáo lớn nhường nào. Nhưng đó vẫn chưa phải là tất cả!

Thế Nhật
Nguồn: https://trithucvn.net/van-hoa/ai-gan-tam-cuong-cho-nho-gia.html


18/03/2019

Giải oan cho Nho giáo

Lời nói đầu
Thế Nhật •Thứ Tư, 15/03/2017

Thế kỷ 21 là kỷ nguyên của khoa học và công nghệ hiện đại, nhưng điều người Việt đang thiếu vắng không hẳn là những giá trị vật chất. Sau một thời kỳ chuyển biến đau thương từ cận đại sang hiện đại, chúng ta đã vô tình ruồng bỏ và đổ hết mọi tội lỗi cho Nho gia bằng những cụm từ đầy miệt thị như “phong kiến”, “lạc hậu”, “bảo thủ”, “trì trệ”. Và người Việt đang phải trả giá cho điều đó…

Nho giáo, một thứ gì đó thật lạ lùng giữa thế kỷ 21. Nho giáo đã là quá khứ. Vậy tại sao cần phải giải oan cho Nho giáo? Có phải là chúng tôi đang muốn phục hưng Nho giáo? Có phải là chúng tôi đang muốn làm một điều ấu trĩ? Không, nói về Nho giáo không phải là ấu trĩ, và viết ra những điều trong quá khứ thì không hẳn đã là phục hưng Nho giáo. Điều chúng tôi mong muốn là phục hưng những giá trị đạo đức truyền thống mà chúng ta đang thiếu vắng.

Chúng tôi sẽ đề cập tới những khía cạnh sau trong Chuyên đề này:


  • Tam cương có phải là những giáo điều “chết người”?
  • Nho giáo có gây ra sự bất bình đẳng giai cấp?
  • Nho giáo có phải là văn hóa truyền thống của người Việt?
  • Sự huy hoàng của nữ quyền thời Nho giáo thịnh trị.
  • Nho giáo có làm lạc hậu giáo dục?
  • Nho giáo và lối tư duy quay về quá khứ.
  • Nho giáo tại một số quốc gia trên thế giới.

Học giả Trần Trọng Kim đã từng đánh giá rằng: “Nước Việt Nam ta xưa kia tôn sùng Nho giáo, cho là chính đạo độc tôn. Luân lý, phong tục, chính trị, bất cứ việc gì cũng lấy Nho giáo làm cốt” – Sách Nho giáo, Nhà xuất bản Văn học, 2003.

(Nguồn: Everystockphoto)
Văn miếu Quốc Tử Giám đánh dấu sự ghi nhận của lịch sử đối với những giá trị giáo dục của Nho giáo, gắn với bậc hiền Nho Chu Văn An, một người thầy nổi tiếng sử Việt 

Mặc dù trong cuốn “Nho giáo”, Trần Trọng Kim có đưa ra những cái dở của đạo Nho, nhưng ông đã nhìn nhận rất khách quan về cái hay của Nho học. Đó là khởi điểm khiến chúng tôi phải thực sự nhìn nhận lại về những đạo lý chân chính mà Nho giáo kết tinh từ văn hóa truyền thống. Và chúng tôi mong rằng, độc giả cũng có một cái nhìn cởi mở hơn với loạt Chuyên đề này.

Nho giáo đã là quá khứ
Phải, Nho giáo đã là quá khứ, bởi vì có những giá trị của Nho giáo đã không còn có thể áp dụng trực tiếp vào thời hiện đại. Nhưng…

Người Việt vẫn luôn ao ước giảm bớt sự căng thẳng giữa người với người, mong muốn những mối quan hệ bình yên, không đố kỵ, ganh ghét, ghen tuông, ngờ vực, mà tràn ngập tình yêu thương, sự bao dung, lòng nhân ái. Đó chính là Nhân.

Người Việt cũng khinh ghét những kẻ chỉ chạy theo cái lợi trước mắt, mong muốn người làm quan đừng tham nhũng mà biết lo cho dân chúng, muốn người đồng nghiệp làm việc có thủy có chung, muốn con người trong xã hội biết làm điều đúng đắn. Đó chính là Nghĩa.


Chỉ mới những năm 50 của thế kỷ trước thôi, khi Nho giáo vẫn còn được xem trọng, thì trẻ em Việt vẫn rất lễ phép khi sang đường như thế này. Người ta tìm đâu ra hình ảnh đó thời nay? (Ảnh: Robert Capa)

Người Việt lại luôn yêu thích những người biết phép ứng xử lịch sự, có trên có dưới, biết cách ăn mặc, biết nói năng ôn hòa. Bậc phụ huynh nào mà chẳng mong muốn con mình như thế. Đó chính là Lễ.

Người Việt càng khát vọng rằng những người có trí tuệ sẽ dám lên tiếng vì cái sai, biết phân biệt được thiện ác, biết dũng cảm dẫn hướng lương tri của xã hội, để xứng là trí thức của nước nhà. Đó chính là Trí.

Người Việt cũng hướng về một cuộc sống nơi con người có thể tin tưởng lẫn nhau, nơi nhà nhà không phải đề phòng trộm cắp, nơi đồng nghiệp không phải coi nhau như kẻ thù, nơi quan chức không phải nói dối về những gì đã đạt được và hứa hẹn về những điều viển vông. Đó chính là Tín.

Nho giáo đã là quá khứ, nhưng người Việt vẫn thầm khát vọng những giá trị đạo đức của Nho giáo, vì bao hàm trong đó là những giá trị phổ quát của toàn nhân loại.

Nho giáo là một phần của văn hóa truyền thống
Văn hóa là linh hồn của dân tộc. Đối với nhân loại thì nhân tố tinh thần này cũng quan trọng không kém các nhân tố vật chất như giống nòi và đất đai. Sự phát triển văn hóa định ra lịch sử nền văn minh của một đất nước. Sự phá hủy hoàn toàn văn hóa của một dân tộc dẫn tới sự tiêu vong của dân tộc đó. Những dân tộc cổ xưa sáng tạo ra các nền văn minh huy hoàng bị coi như đã biến mất khi nền văn hóa của họ biến mất, mặc dù người của các dân tộc đó có thể vẫn tồn tại.


Nho giáo đã từng đóng vai trò to lớn trong việc giữ ổn định trật tự xã hội của người Việt xưa. (Ảnh: Tonkin)

Không giống như pháp luật đặt ra các quy định cứng nhắc, văn hóa có tác dụng như một chế ước mềm mại. Pháp luật thi hành việc trừng phạt sau khi tội ác đã xảy ra, trong khi văn hóa ngăn ngừa không cho tội ác xảy ra bằng cách trau dồi đạo đức. Đạo đức của một xã hội thường được thể hiện trong nền văn hóa của nó.

Vậy mà đối với những giá trị văn hóa truyền thống của Nho giáo, người Việt lại đang dùng những cụm từ đầy miệt thị như “phong kiến”, “lạc hậu”, “bảo thủ”, “trì trệ” để ruồng bỏ. Hai chữ “ruồng bỏ” có vẻ như nặng nề, nhưng liệu chúng ta có nhìn nhận về Nho giáo đúng đắn?

Những chính trị gia cho rằng Nho giáo là “phong kiến”, rằng Nho giáo là sự “chuyên chế”. Nhưng họ lại quên rằng ngày nay dù không có Nho giáo nhưng Việt Nam vẫn có những ông “vua con” làm quan chức, dù không có Nho giáo nhưng thế giới cũng chẳng thiếu những kẻ độc tài.

Lại có những người cho rằng Nho giáo là bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị. Nhưng họ lại quên rằng, xã hội vốn luôn tồn tại vấn đề giai cấp. Mấy chục năm về trước chẳng phải chúng ta vẫn hô hào giải phóng công nhân và nông dân, khiến họ trở thành giai cấp “tiên phong” đó sao? Vậy mà ngày nay, ai vẫn là những người khổ nhất trong xã hội?

Có người còn cho rằng Nho giáo khiến mối quan hệ gia đình trở nên gia trưởng và độc đoán. Nhưng họ lại quên rằng những tấm gương hiếu thảo cảm động lòng người lại chính là trong tư tưởng Nho giáo mà phát triển. Ngày nay có được mấy người con dám nằm trên băng để dụ cá cho mẹ kế?

Một số phụ nữ thì cho rằng Nho giáo là thứ đã hủy hoại cuộc đời của người phụ nữ. Nhưng họ lại không biết rằng, vào thời Nho giáo thịnh trị nhất, không thiếu hoàng hậu và thái hậu đã được quần thần mời nhiếp chính trợ giúp vương triều và được suy tôn như những “Nữ trung Nghiêu Thuấn”.

Cũng có kẻ tự coi mình là “yêu nước” với tư tưởng bài Trung, nhất mực phản đối Nho giáo. Bài Nho giáo thì lấy gì để thấu hiểu tấm lòng Trung – Nghĩa của những anh hùng trong lịch sử, như Trần Quốc Toản mới mười lăm tuổi lấy việc không được đầu quân làm xấu hổ; như Trần Bình Trọng thà bị hành hình chứ nhất định không chịu làm Bắc Vương; như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn vì nợ nước quên thù nhà, đến khi đất nước thái bình danh tiếng vang dội vẫn không hề có ý tạo phản.

Nho giáo đã trở thành một phần trong văn hóa truyền thống của dân tộc có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới xã hội Việt Nam thời xưa. Để hiểu được bản chất của những đạo lý mà Nho giáo đề cập đến, chúng ta cần thật khách quan và lý trí hơn trong cách nhìn nhận. Hơn nữa, chúng ta còn phải đặt mình vào hoàn cảnh thời bấy giờ, bởi vì chúng ta sẽ không cách nào hiểu được người xưa nếu như đặt đạo lý truyền thống vào trong cách tư duy của thời hiện đại.

Sự phá hoại Nho giáo một cách có hệ thống

Muốn giải oan được cho Nho giáo, thì chúng ta không thể không đề cập đến sự phá hoại Nho giáo trong lịch sử. Tại sao ngày nay người Việt nhìn nhận Nho giáo tiêu cực như thế? Thật ra, người Việt đã không tự biết mà tiếp nhận một làn sóng ảnh hưởng từ cuộc Đại cách mạng văn hóa tại Trung Quốc những năm 60 và 70 của thế kỷ trước.

Thời bấy giờ, với khẩu hiệu “Phá tứ cựu”, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã đổ cho văn hóa truyền thống mọi loại tội lỗi, khiến Nho – Phật – Đạo đều chịu thiệt hại nặng nề. Ác ý này tuyệt đối không phải là xuất phát từ nhiệt huyết công nghiệp hóa của ĐCSTQ, cũng không phải là từ sự ngu dốt đơn thuần trong việc tôn thờ nền văn minh phương Tây. Mà nó xuất phát từ sự đối nghịch cố hữu về ý thức hệ của ĐCSTQ đối với văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì vậy, việc phá hoại văn hóa Trung Hoa của ĐCSTQ đã được tổ chức vô cùng kỹ lưỡng, có hệ thống, và được hỗ trợ bởi việc sử dụng bạo lực trên toàn quốc gia.


Đại cách mạng văn hóa, theo một cách vô tiền khoáng hậu, đã hủy hoại và bôi nhọ văn hóa truyền thống Trung Hoa. Bản thân nó cũng lan sang Việt Nam, gây ra những hậu quả tai hại.

Cách thức phá hoại có ba hình thức chính sẽ được bàn tới chi tiết trong loạt bài này, bao gồm:


  • Đoạn chương thủ nghĩa: Lấy ra một câu trích dẫn trong kinh sách, nhưng vứt bỏ đi toàn bộ ngữ cảnh mà nó đang biểu đạt.
  • Râu ông nọ cắm cằm bà kia: Lấy lời của người nọ gán cho miệng của người kia, từ đó làm đảo lộn giá trị và chụp mũ Thánh nhân.
  • Phóng đại phía phụ diện của đạo lý: Mỗi đạo lý đều có hai mặt của nó, việc nhìn nhận đạo lý một cách phiến diện sẽ khiến đạo lý đó bị chụp mũ thành “phong kiến”, “lạc hậu” một cách dễ dàng.

Thậm chí còn hèn hạ hơn cả việc phá hoại văn hóa truyền thống là việc lạm dụng và lén lút thay đổi có chủ ý đối với văn hóa truyền thống. ĐCSTQ đã cố ý làm nổi bật những phần đồi bại trong lịch sử của Trung Quốc, những thứ đã xảy ra khi con người xa rời các giá trị truyền thống, như tranh giành quyền lực trong nội bộ gia đình hoàng tộc, việc sử dụng các thủ đoạn và âm mưu, và việc thực hiện chế độ độc tài và chuyên quyền. Việc sử dụng các ví dụ lịch sử một cách phiến diện này đã tạo nên một bộ chuẩn mực đạo đức, các cách tư duy, và hệ thống lý luận “mới”, tạo ra một ấn tượng sai lầm để kích động người ta từ bỏ hơn nữa đối với văn hóa truyền thống đích thực.

Người ta kéo đổ tượng thờ những Thánh nhân của Nho giáo hay Phật và Bồ tát của Phật giáo trong Đại cách mạng văn hóa.

Và thật không may thay, những tuyên truyền phỉ báng Nho gia của ĐCSTQ lại du nhập sang Việt Nam, và khiến người Việt không còn đủ tỉnh táo để hiểu và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nếu như ở Trung Quốc người ta đào mộ gia quyến Khổng Tử, kết tội Khổng Tử là “kẻ mị dân láu cá và lừa bịp”, thì ở Việt Nam người ta phỉ báng Nho giáo. Nếu như ở Trung Quốc người ta đập phá tượng Phật, đốt đền chùa, thì ở Việt Nam, một số ngôi chùa cũng bị xâm phạm. Những hành động cực đoan đó tạo ra một thứ lửa ngầm âm ỉ, lan rộng và ăn mòn niềm tin vào văn hóa truyền thống của người Việt.

Và như chưa đủ, ĐCSTQ còn tận dụng triệt để cái vỏ Nho giáo, và sự yêu thích Nho giáo của người nước ngoài để tạo ra một thứ quyền lực mềm vì mục đích chính trị. Từ đó, các Học viện mượn danh Khổng Tử càng khiến Nho giáo bị người dân các nước, đặc biệt là Việt Nam ghét bỏ. Liệu người Việt có thể sáng suốt phân biệt tinh hoa của Nho giáo trong văn hóa truyền thống của dân tộc và những phá hoại tinh vi của ĐCSTQ?

Trong hoàn cảnh đó, loạt bài Giải oan cho Nho giáo mong muốn góp một con sóng nhỏ vào mơ ước phục hưng những giá trị truyền thống chân chính của người Việt.

Không phải là phục hưng Nho giáo,
mà là góp phần phục hưng truyền thống.

Thế Nhật
nguồn: https://trithucvn.net/van-hoa/giai-oan-cho-nho-gia-loi-noi-dau.html

16/03/2019

Vào Thiền

Doãn Quốc Sỹ sinh năm 1923 tại Hà Đông. Sau 1954 ông di cư vào Sài gòn, dạy học, viết văn; từng cùng Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo .. thành lập tờ Sáng Tạo, tạp chí văn học nghệ thuật ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn học miền Nam.
Sau 1975 ông bị bắt tù hơn 10 năm. Năm 1995 ông được con trai bảo lãnh qua Mỹ, hiện sống ở Garden Grove, Cali.
Ông đã cho xb khoảng vài chục cuốn sách đủ loại, truyện dài, truyện ngắn, tùy bút, biên khảo.

Thời còn học tiểu học đã đọc Gìn vàng giữ ngọc, Dòng sông định mệnh. Lên cấp hai tiếp tục đọc bộ trường thiên Khu rừng lau của ông. Nói chung, sách DQS trước 1975 đọc hầu như không sót, kể cả mấy cuốn sách giáo khoa Khảo luận về .. (các tác giả hồi ấy học như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, .. ), kể cả cuốn tùy bút Vào Thiền dưới đây.

DQS viết giản dị, trong sáng; nhân vật của ông hồn hậu, đơn giản. Truyện của ông dễ đọc, rất gần với truyện của Tự lực văn đoàn, cái văn đoàn tiền chiến mà các bạn ông trong nhóm Sáng Tạo hô hào đòi phải vứt bỏ, vượt qua ..  gì gì đấy. Đọc DQS rồi sau này đọc Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền, đọc Con sâu của Dương Nghiễm Mậu, chả hiểu sao họ lại cùng nhóm với nhau. Sau này biết thêm DQS là con rể của Tú Mỡ, nhà thơ trào phúng nổi tiếng của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Hồi ấy có theo học ông một chứng chỉ "Các vấn đề văn học VN". Ông cao, gầy, ăn nói nhẹ nhàng, lịch lãm. Học ông vui. Với mỗi vấn đề, ông nói qua về nội dung, lịch sử của nó, giới thiệu sách tham khảo. SV về chịu khó đọc, hơi nhiều, vì STK ít cũng cả chục cuốn, xong viết tiểu luận. Ông hứa ai viết hay, ông sẽ giúp đăng báo. Buổi học sau, ông chọn một hai người viết tốt nhất, lên thuyết trình trước lớp, xong mọi người chất vấn, tranh luận, ông ngồi lắng nghe, tổng kết.

Sau 1975 cứ tưởng ông đi Mỹ. Thời trước ông cũng từng qua Mỹ du học mấy năm về Giáo dục. Mấy năm sau mới nghe bạn bè kể ông ở lại và bị tù. Khoảng 199x tình cờ đọc một cuốn truyện loại hình sự của nxb CA (?), thấy trong đó có nhân vật giống hệt ông. Nhà văn biệt kích, viết bài chửi rủa quê hương đất nước rồi gởi lén qua tây với bút hiệu Hành Khô, Hồ Khanh, .. kiếm đô về sống phè phỡn, .. nhưng làm sao qua được tai mắt nhân dân, trí tuệ của các chiến sĩ CA, v.v. Rặc một giọng bôi bác đại khái thế, nhưng qua một số chi tiết trong truyện, vẫn ko dấu được sự khâm phục của người viết trước lối sống của ông trong tù. Vẫn nhã nhặn, chừng mực, vẫn hành thiền hàng ngày, tám năm trời, là lần tù thứ hai ..

Cũng sau này, còn biết ông là anh ruột của đại tá nhạc sĩ Doãn Nho, tác giả của Người con gái sông La, Chiếc khăn piêu, ..



15/03/2019

Làm sao để không thấy mập?


Hôm trước có lần chúc các cô các bà ăn nhiều ko mập, ko tập vẫn thấy thon; nhiều người tưởng đùa. Thật ra thật đó. Mời nghe Kỳ Duyên hướng dẫn



14/03/2019

Giovanni Marradi




Giovanni Marradi sinh năm 1952, con một nhạc trưởng Ý, học nhạc từ lúc lên 5. Lên 8 ông được gởi tới học sáng tác và kĩ thuật với nhà soạn nhạc đồng thời là dương cầm thủ nổi tiếng người Nga Chesnikov.  Thành niên, ông đi biểu diễn khắp châu Âu, Trung Đông, và sau đó, Mỹ. Tại Las Vegas, ông gặp và kết bạn với Frank Sinatra, được Sinatra giúp đỡ, Giovanni nhanh chóng được nhiều người biết đến, trở thành một trong số nghệ sĩ biểu diễn dương cầm thành công nhất trên thế giới, với kỉ lục bán được 120 ngàn CD chỉ trong vòng 2 giờ đầu tiên phát hành trên kênh bán hàng QVC (*).

Ông đã cho phát hành hàng trăm album, hiện vẫn tiếp tục sáng tác, dạy học, thu dĩa và đi biểu diễn nhiều nơi trên thế giới.


(*) QVC (Quality, Value, Convenience - phẩm chất, giá trị, tiện lợi) là một kênh mua bán truyền thông số rất phổ biến được Joseph Segel lập ra tại Mỹ năm 1986, và năm 1993 tại nước Anh.

09/03/2019

Mộng dưới hoa . Phạm Đình Chương

[Bài từ 27/11/14. Post lại, nghe Tự Tình Dưới Hoa]

Hôm trước đã có dịp nghe Bảo Cường ngâm bài thơ Tự Tình Dưới Hoa của Đinh Hùng. Hôm nay mời nghe Hồng Vân ngâm lại bài thơ theo điệu hò Huế

Tự tình dưới hoa - Hồng Vân ngâm


Tự Tình Dưới Hoa

I' ll  wait for you. tranh Volegov (2013)
Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng,
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,
Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng.

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,
Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?
Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,
Nửa như hoài vọng, nửa như say.

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ,
Hương ngàn gió núi động hàng mi.
Tâm tư khép mở đôi tà áo,
Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi.

Em muốn đôi ta mộng chốn nào?
Ước nguyền đã có gác trăng sao
Truyện tâm tình: dưới hoa thiên lý,
Còn lối bâng khuâng: Ngõ trúc đào

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,
Nắng trong hoa với gió bên hồ
Dành riêng em đấy. Khi tình tự,
Ta sẽ đi về những cảnh xưa

Rồi buổi ưu sầu, em với tôi
Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời
Vai kề một mái thơ phong nguyệt
Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười


Như ta biết, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã dựa vào bài này, cùng bài Suôi Dòng Mộng Ảo (sic), cả hai bài đều nằm trong tập Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng, để soạn lời cho bản nhạc Mộng Dưới Hoa. Mời nghe Vũ Khanh ca. [link VK đã bị block. Thay bằng Tuấn Ngọc. 8/3/2019]



*

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh ngày 14/11/1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Về nhạc ông tự học theo sách vở là chính, bắt đầu tập tành sáng tác năm 1947, lúc mới 18 tuổi, nhưng nhạc của ông vẫn thường được xếp vào dòng nhạc tiền chiến do phong cách trữ tình lãng mạn. 

Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng với anh chị em trong nhà Phạm Đình Viêm, Thái Hằng, Thái Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV, rồi lập ban hợp ca Thăng Long. trong đó Phạm Đình Chương vừa viết nhạc, vừa là ca sĩ với nghệ danh Hoài Bắc, còn Phạm Đình Viêm là Hoài Trung. Năm 1951, ông cùng ban Thăng Long chuyển vào Saigon. Sau 1975 ông qua định cư ở Mỹ, mất năm 1991.

Phạm Đình Chương sáng tác không nhiều, khoảng chưa tới 100 bản nhạc, nhưng có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng: Tiếng dân chài, Hội trùng dương, Ly rượu mừng, .. đặc biệt ông được coi là một trong vài nhạc sĩ có biệt tài phổ nhạc cho thơ Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê) ...


Năm 1991, ngay sau khi ông mất, Thụy Khuê đã thực hiện một chương trình tưởng niệm trên đài RFI. Mời nghe

Phần 1 (1/9/1991)


Phần 2 (8/9/1991)


nguồn audio: thuykhue.free.fr

Chú: Trước có cuốn Đường Vào Tình Sử của ĐH, giờ thất lạc nên ko check lại tên bài thơ là Suôi dòng mộng ảo hay Xuôi .. Nhớ là Suôi (sic). Trên mạng thì có cả hai.

08/03/2019

Đề ảnh

8/3 chúc chị em luôn vui khỏe trẻ đẹp ăn nhiều ko mập ko tập vẫn gầy.



(nguồn ảnh trên mạng)

                                                    Có mái nhà tranh có lu nước
                                                    Mà tim vàng một trái nữa mô
                                                    Rầu rĩ sờ râu râu nỏ có
                                                    Áo trắng chờ ai buốt lạnh hồ


07/03/2019

Hội trùng dương

"Đỉnh cao nhạc thuật của ông được thời gian đánh giá, ghi nhận, qua trường ca bất tử Hội Trùng Dương, và ca khúc Ly rượu mừng. "

Du Tử Lê đánh giá, và chắc nhiều người khác cũng đồng ý với ông. Hôm tết nghe Li rượu mừng rồi. Hôm nay nghe lại bản trường ca tuyệt vời này.



Ca khúc “Ly rượu mừng” phẩm-vật-tinh-thần trong truyền thống Tết Việt Nam

Đề cập tới sự nghiệp âm nhạc giá trị của cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương, nếu chỉ nói tới khía cạnh thơ phổ nhạc (dù cho ông được ghi nhận như một thiên tài) mà không đề cập tới những lãnh vực khác, tôi cho là một thiếu sót không thể tha thứ. Vì từ ngày bắt đầu sáng tác, ở tuổi 17, tới ngày từ trần, ở tuổi 62, cuộc trường chinh âm nhạc của họ Phạm là, những ngọn cờ đã cắm được trên nhiều đỉnh cao nghệ thuật.

Khởi đầu với những ca khúc lấp lánh tin yêu lồng ngực tuổi trẻ, Phạm Đình Chương đi lần tới những ca khúc mang nhiều tính hiện thực, như “Tiếng dân chài,” “Được mùa,” hoặc đất nước, ca dao như “Anh đi chiến dịch,” “Lá thư người chiến sĩ,” “Khúc giao duyên,” “Mười thương”… Và, dĩ nhiên, tình ca, một đỉnh ngọn cao ngất khác của ông.

Dù ở núi non âm nhạc nào, ca từ Phạm Đình Chương cũng đều thấm đẫm thi tính. Ngay tự những ca khúc thời khởi đầu sự nghiệp, khi chỉ mới 17, 18 tuổi, người ta đã thấy ông như một thi sĩ, viết lời cho ca khúc của mình.

Thí dụ: “Bình minh xuyên qua khe núi (ú u ú u) / Nguồn vui leo tia nắng đây rồi / đem hơi ấm cho đời / trẻ như đôi mươi.” (Sáng rừng) Hay: “Có suối uốn thân ven chân núi ngân / hòa câu sơn nữ hát mong tình quân” (Đất Lành)…

Sau này, chúng ta có: “Em ơi đừng khóc sầu chia ly / vì lệ tuôn rơi làm héo xuân thì / dù đêm sâu như hồn chúng mình” (Đêm cuối cùng). Hay: “Ai chia tay ai đầu xóm vắng im lìm / Ai rung lên tia mắt ngàn câu êm đềm / Mong sao cho duyên nghèo mai nắng reo thềm / Đẹp kiếp sống thêm” (Xóm đêm). Hoặc nữa: “Chiều nay nước xuôi dòng đại dương có em tên sông Hồng dâng sóng tuôn trên nguồn. Vẩn vơ nắng quái vươn trên phù sa có những cô thôn mờ xa đón bầy dân đánh cá.” (Hội Trùng Dương / Tiếng sông Hồng). Hay: “Miền Trung vọng tiếng, em xinh em bé tên là Hương giang, đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than. Hò ơi, phiên Đông Ba buồn qua cửa chợ, bến Vân Lâu thuyền vó đơm sâu.” (Hội Trùng Dương / Tiếng sông Hương) v.v…

Riêng với ca khúc “Xóm đêm,” tôi nghĩ, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương không chỉ hiển lộng bản chất thi sĩ, ông còn cho thấy khía cạnh nhà văn, hiểu theo nghĩa quan sát, ghi nhận một cách nhậy bén những chi tiết mà người bình thường (thậm chí một nhà văn tầm tầm…) khó thể nhận ra.

Nói chung, “Xóm đêm” như tên gọi, vốn là cảnh đìu hiu của một khu lao động. Ở điểm này, Phạm Đình Chương không phải là nhạc sĩ duy nhất viết về sự nghèo khó hay, khốn khổ của giai tầng lao động. Trước và sau ông, có nhiều nhạc sĩ đã, vẫn và sẽ còn khai thác đề tài ấy.

Tuy nhiên, dù cho đó là những ca khúc viết về đời nghèo, kiếp nghèo, số hoặc phận nghèo thì, đa số ca từ của những ca khúc này, thường rơi vào một trong hai trường hợp: Hoặc thậm xưng tức, cực tả cảnh nghèo. Hoặc thô thiển với những hình ảnh, ghi nhận hời hợt. Có thể, do nơi các tác giả kia, chỉ đề cập tới cái nghèo như một phông, nền cho chủ tâm khác. Nên chúng dễ mang tính trừu tượng, lãng mạn, chứ không phản ảnh một nét thực trạng nào của cảnh đời.

Căn bản ca khúc “Xóm đêm” là một tình ca, một tình ca xiển dương thương yêu (hay tin yêu), nơi bản chất thiện lương của con người dù ở hoàn cảnh nào, y cứ trên tính chung thủy – – Nhưng, nghe kỹ, trong “Xóm đêm” của họ Phạm có một cụm từ, chỉ 5 chữ thôi, ông đã vẽ lại (bằng ca từ và nốt nhạc) một trong những nét tiêu biểu nhất của sinh hoạt xóm nghèo. Đó là câu “Hắt hiu vàng ánh điện câu,” nằm trong đoạn nhạc mở đầu: “Đường về canh thâu / đêm khuya ngõ sâu như không màu / qua phên vênh có bao mái đầu / hắt hiu vàng ánh điện câu…”

Ở cụm từ “qua phên vênh,” chữ “vênh” là chữ “đắt” nhất – – Nó không chỉ mang tính tượng hình (vật chất) mà, nhờ sự vênh = cong, hé mở, chúng ta được dẫn tới hình ảnh kế tiếp: “có bao nhiêu mái đầu” (con người) – – Một hình thức ảnh-dẫn hay thông-ngữ  – – (Chữ dùng trong lãnh vực thi ca về phương diện kỹ thuật) – – Cho thấy họ Phạm đã là một diệu-thủ. Mặc dù, tôi không loại bỏ trường hợp khi viết xuống, tác giả không hề có chủ tâm như tôi vừa trình bày.

Trường hợp này, chúng ta vẫn có thể dùng một trong những định nghĩa về thiên tài: Người tình cờ “bắt được” những điều mang ý nghĩa to lớn hay đơn giản, nhỏ bé mà, người khác không “bắt được!”

Nhưng khi chuyển từ ngữ-cảnh “qua phên vênh có bao mái đầu” tới “hắt hiu vàng ánh điện câu,” theo tôi, cả một thực tại xóm nghèo, đã được họ Phạm ghi khắc bằng những nhát búa cuối cùng, hoàn tất bức tượng ba chiều của cảnh đời hiu hắt này.

Ở đây, tôi xin mở một dấu ngoặc, để bạn đọc sinh trưởng ngoài Việt Nam hiểu rằng, tại những nước chậm tiến (như Việt Nam, nhất là những xóm nghèo), không phải ai cũng có được cho gia đình mình một đường giây điện riêng. Muốn có điện dùng, người nghèo phải dùng giây câu điện từ những nhà có đường giây điện chính. Vì thế, dòng điện trở nên quá yếu. Những ngọn đèn vẫn sáng lên, nhưng nó cũng chỉ có thể cho những gia đình này, một thứ ánh sáng yếu ớt, vàng vọt!…

Tuy nhiên, tài hoa của cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương không dừng ở “Xóm đêm.” Đỉnh cao nhạc thuật của ông được thời gian đánh giá, ghi nhận, qua trường ca bất tử “Hội Trùng Dương,” và ca khúc “Ly rượu mừng.”

Với tôi, trường ca “Hội Trùng Dương” của Phạm Đình Chương là bức tranh toàn cảnh Việt Nam nghìn đời, với tất cả nét đẹp của phong tục, tập quán, truyền thống dùm bọc, thương yêu…được ông mượn hình ảnh 3 con sông của ba miền, chảy trôi trên nền dân ca từng phần đất nước; trước khi chúng nắm tay nhau, cùng chảy ra biển lớn.

Vẫn theo cảm nhận của tôi thì, trường ca “Hội Trùng Dương” của Phạm Đình Chương còn tàng-ẩn ý nghĩa hợp nhất, chấm dứt cuộc phân ly, đoạn bào theo huyền sử trăm con của Việt tộc, với 50 con lên núi, 50 con xuống biển nữa. Phải chăng, đó là tính vĩ đại của trường ca này?

Dù vậy, cũng ở trường ca vừa kể, tôi biết có người đã đặt vấn đề:

-Nơi đoạn thứ hai “Tiếng sông Hương” của trường ca, có câu: “Ngày vui tan đao binh, mẹ bồng con sơ sinh, chiều đầu xóm, xôn xao đón người trường chinh,” là một khuyết điểm lớn, không thể chấp nhận được! Số người này lý luận rằng, khi tác giả tả người chồng đi lính lâu năm (trường chinh), người vợ ở nhà, thủy chung chờ chồng thì, không thể có con mới đẻ (sơ sinh). Trừ phi…ngoại tình!

Tới giờ, tôi vẫn còn kinh ngạc trước cái gọi là “khám phá” người phát ngôn kia! Họ đã không phân biệt được hiện thực trong văn nghệ, không hề là hiện thực trong đời thường!

Theo tôi, một sự thực trăm phần trăm trong đời thường, khi được thi sĩ, nhạc sĩ… mang vào văn bản, sáng tác của họ, lập tức, nó không còn là sự thực “nguyên mẫu.” Nó đã bị khúc xạ. Tôi muốn gọi đó là sự-thực-khúc-xạ. Cách khác, chúng ta luôn có nhiều hơn một sự thật. Nhất là với văn học, nghệ thuật, Huống hồ chi, hình ảnh người vợ bồng con sơ sinh, đón chồng chinh chiến trở về, trong trường ca “Hội Trùng Dương” chỉ có tính biểu tượng (symbolization). Một biểu tượng đoàn viên. Gia đình. Hạnh phúc.

Tôi không nghĩ, một người có trình độ hiểu biết trung bình nào, lại đi tìm tính xác thực trong “Chinh phụ ngâm khúc,” hay “Đoạn trường tân thanh”… Tôi cũng không nghĩ, một người chưa mất trí nào, lại đi đo đếm độ chân xác trong “Thơ say” của Vũ Hoàng Chương, “Lửa thiêng” của Huy Cận, “Mê hồn ca” của Đinh Hùng, hoặc “Hòn vọng phu” của Lê Thương…

Trở lại ca khúc “Ly rượu mừng” ở tỷ lệ (scale) nhỏ hơn, ca khúc này theo tôi, đã như một phẩm-vật-tinh-thần dâng cúng tổ tiên mỗi độ Xuân về. Vẫn theo tôi, đó là “ly rượu” đất nước gấm hoa, “ly rượu” tổ quốc độc lập, “ly rượu” ước mơ quê hương muôn đời thanh bình, được chia đều cho “anh nông phu,” “người thương gia,” “người công nhân,” qua tới “người chiến sĩ,” “bà mẹ già,” “đôi uyên ương” “người nghệ sĩ”…Một phân chia bình đẳng, đồng đều cho mọi tầng lớp. Tôi muốn nhấn mạnh thêm, người ta có thể tìm thấy đặc tính phân biệt giai cấp ở nhiều dân tộc, nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng Việt Nam thì không.

Nếu nhớ lại câu ca dao “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ,” ta sẽ thấy mọi cố tình phân chia giai cấp trong xã hội Việt Nam, là một áp đặt kiên cưỡng, trá ngụy theo mô hình xã hội tây phương. Và, người chỉ ra sự cưỡng chế vừa kể, chính là Phạm Đình Chương, tác giả “Ly rượu mừng” vậy.

Với thời gian, một số tục lệ đón mừng Nguyên Đán của chúng ta, có thể đã hay sẽ phải thay đổi. Như chúng ta đang bỏ dần tục “xông đất” đầu năm. Như nhiều gia đình người Việt ở hải ngoại, vì lý do gia cư, đã bắt đầu “thắp” những nén nhang điện (không mùi hương); đốt những giây pháo điện (không xác pháo)…Nhưng, ca khúc “Ly rượu mừng” tôi tin, sẽ còn, mãi còn như một phẩm-vật-tinh-thần không thể thiếu của tập thể ta, mỗi mùa xuân về.

Bởi vì, đó là “ly rượu… mừng!” Ly rượu tâm thức. Chúng ta không chỉ cùng nhau nâng cao ly rượu ấy, những dịp mừng Xuân – – Mà, chúng ta còn có thể chia nhau ly rượu tâm thức này, bất cứ lúc nào; khi hoan lạc mỉm cười với chúng ta.

Rất mong, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương, ở đâu đó trong cõi vô hình, hiểu rằng, chúng tôi đã tiếp nhận một ca khúc của ông, như thế!

Du Tử Lê
(May 9-2011)
Nguồn: dutule.com

Nghe lại với Thái Thanh và ban nhạc Thăng Long



02/03/2019

Xóm đêm




Riêng với ca khúc “Xóm đêm,” tôi nghĩ, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương không chỉ hiển lộng bản chất thi sĩ, ông còn cho thấy khía cạnh nhà văn, hiểu theo nghĩa quan sát, ghi nhận một cách nhậy bén những chi tiết mà người bình thường (thậm chí một nhà văn tầm tầm…) khó thể nhận ra.

Nói chung, “Xóm đêm” như tên gọi, vốn là cảnh đìu hiu của một khu lao động. Ở điểm này, Phạm Đình Chương không phải là nhạc sĩ duy nhất viết về sự nghèo khó hay, khốn khổ của giai tầng lao động. Trước và sau ông, có nhiều nhạc sĩ đã, vẫn và sẽ còn khai thác đề tài ấy.

Tuy nhiên, dù cho đó là những ca khúc viết về đời nghèo, kiếp nghèo, số hoặc phận nghèo thì, đa số ca từ của những ca khúc này, thường rơi vào một trong hai trường hợp: Hoặc thậm xưng tức, cực tả cảnh nghèo. Hoặc thô thiển với những hình ảnh, ghi nhận hời hợt. Có thể, do nơi các tác giả kia, chỉ đề cập tới cái nghèo như một phông, nền cho chủ tâm khác. Nên chúng dễ mang tính trừu tượng, lãng mạn, chứ không phản ảnh một nét thực trạng nào của cảnh đời.

Căn bản ca khúc “Xóm đêm” là một tình ca, một tình ca xiển dương thương yêu (hay tin yêu), nơi bản chất thiện lương của con người dù ở hoàn cảnh nào, y cứ trên tính chung thủy – – Nhưng, nghe kỹ, trong “Xóm đêm” của họ Phạm có một cụm từ, chỉ 5 chữ thôi, ông đã vẽ lại (bằng ca từ và nốt nhạc) một trong những nét tiêu biểu nhất của sinh hoạt xóm nghèo. Đó là câu “Hắt hiu vàng ánh điện câu,” nằm trong đoạn nhạc mở đầu: “Đường về canh thâu / đêm khuya ngõ sâu như không màu / qua phên vênh có bao mái đầu / hắt hiu vàng ánh điện câu…”

Ở cụm từ “qua phên vênh,” chữ “vênh” là chữ “đắt” nhất – – Nó không chỉ mang tính tượng hình (vật chất) mà, nhờ sự vênh = cong, hé mở, chúng ta được dẫn tới hình ảnh kế tiếp: “có bao nhiêu mái đầu” (con người) – – Một hình thức ảnh-dẫn hay thông-ngữ  – – (Chữ dùng trong lãnh vực thi ca về phương diện kỹ thuật) – – Cho thấy họ Phạm đã là một diệu-thủ. Mặc dù, tôi không loại bỏ trường hợp khi viết xuống, tác giả không hề có chủ tâm như tôi vừa trình bày.

Trường hợp này, chúng ta vẫn có thể dùng một trong những định nghĩa về thiên tài: Người tình cờ “bắt được” những điều mang ý nghĩa to lớn hay đơn giản, nhỏ bé mà, người khác không “bắt được!”

Nhưng khi chuyển từ ngữ-cảnh “qua phên vênh có bao mái đầu” tới “hắt hiu vàng ánh điện câu,” theo tôi, cả một thực tại xóm nghèo, đã được họ Phạm ghi khắc bằng những nhát búa cuối cùng, hoàn tất bức tượng ba chiều của cảnh đời hiu hắt này.

Ở đây, tôi xin mở một dấu ngoặc, để bạn đọc sinh trưởng ngoài Việt Nam hiểu rằng, tại những nước chậm tiến (như Việt Nam, nhất là những xóm nghèo), không phải ai cũng có được cho gia đình mình một đường giây điện riêng. Muốn có điện dùng, người nghèo phải dùng giây câu điện từ những nhà có đường giây điện chính. Vì thế, dòng điện trở nên quá yếu. Những ngọn đèn vẫn sáng lên, nhưng nó cũng chỉ có thể cho những gia đình này, một thứ ánh sáng yếu ớt, vàng vọt!…

Du Tử Lê (trích bài viết)


Ảnh mạng. Cô gái nghèo trong một xóm đêm


19/02/2019

Giải ảo lịch sử


Nghe Trần Quốc Vượng (1935 - 2005) nói về một số vấn đề lịch sử VN. Bài phát trên BBC từ 2003, nghe lại



Đọc thêm một tác phẩm của ông.
Trong Cõi được xb đầu tiên tại Mỹ năm 1993, hiện cũng đã được phép xb tại VN, tuy nhiên bị luoc5 bỏ chương 15, viết về dòng dõi HCM. Bản pdf sau đây là bản đủ



17/02/2019

10 mẫu chuyện ngắn

Đọc được trên mạng, cop về mọi người đọc cho vui. Sau mỗi câu chuyện có phần cảm ngộ, đại khái là bài học rút ra từ câu chuyện ấy, tôi đã bỏ đi. Cuối tuần đọc chơi thôi, ko học. Ai đọc xong thích thì ngẫm, được gì thì tùy.

1. Trong bữa tiệc

Trong bữa tiệc Mark Twain ngồi đối diện với một phụ nữ trẻ, theo phép lịch sự ông nói:

– Cô quả thật rất đẹp!

Quý cô này không hiểu thiện ý của ông, bèn cao ngạo nói:

– Đáng tiếc là tôi không thể nào dùng lời như thế để khen ông được.

Mark Twain bình thản nói:

– Không sao, cô có thể làm giống như tôi, cứ nói dối một câu là được rồi.

Người phụ nữ đó không biết làm gì hơn, đành cúi đầu xấu hổ.


2. Khi vợ nấu ăn

Trong bếp, vợ đang lúi húi nấu ăn. Người chồng đứng bên cạnh nói liên hồi:

– Chậm một chút!

Lát sau anh nói:

– Cẩn thận, lửa to quá rồi! Mau mau lật cá đi. Dùng thìa lật nhanh lên, sao mà nhiều dầu quá.

Chưa được bao lâu, anh lại kêu lên:

– Cắt đậu phụ bằng phẳng một chút, chứ sao lại lem nhem thế này.

Cuối cùng, anh nói:

– Ái chà, em biết nấu ăn như thế nào mà.

Người vợ thấy trong lòng khó chịu, bèn buột miệng nói:

– Dĩ nhiên là em biết rồi!

Lúc này người chồng mới nháy mắt nói với vợ rằng:

– Anh chỉ muốn để em biết rằng khi anh đang lái xe, em ngồi bên cứ liên chi hồ điệp thì cảm giác của anh như thế nào.

3. Bác thợ sắp nghỉ hưu

Bác thợ già sắp nghỉ hưu, ông chủ quý mến không nỡ xa bác, bèn bảo bác làm thêm một căn nhà nữa rồi hãy về nghỉ. Bác thợ già miễn cưỡng nhận lời, nhưng không còn để tâm vào công việc. Vì để nhanh chóng được về quê, bác thợ chỉ làm quấy quả cho xong.

Khi nhà mới hoàn thành, ông chủ cười tươi nói rằng đây là quà nghỉ hưu của bác. Bác thợ không ngờ ngôi nhà này lại là nhà của chính mình, trong lòng vừa xấu hổ vừa hối hận.


4. Cụ già trên tàu cao tốc

Trên chuyến tàu cao tốc, một cụ già bất cẩn làm văng chiếc giày mới mua ra ngoài cửa sổ tàu, mọi người xung quanh ai nấy đều cảm thấy nuối tiếc thay cho cụ. Nào ngờ cụ già cầm chiếc giày còn lại ném qua cửa sổ…

Hành động này khiến mọi người kinh ngạc. Cụ già giải thích:

– Chiếc giày này dẫu có đắt giá đến mấy thì đối với tôi cũng là vô dụng. Nếu có ai đó nhặt được một đôi giày, chưa biết chừng họ còn có thể đi được.


5. Thỏ con câu cá

Ngày thứ nhất đi câu cá, thỏ con không câu được con nào. Ngày thứ hai thỏ con lại đi câu, nhưng kết quả vẫn như cũ. Ngày thứ ba, khi thỏ con vừa đến nơi thì một con cá lớn ở dưới sông nhảy lên quát to:

– Nếu ngươi vẫn còn dùng cà rốt làm mồi câu thì ta sẽ…


6. Người bạn là tiến sỹ y khoa

Một bác sĩ làm phẫu thuật ung thư cho người bạn cũ của mình. Sau khi mổ ra mới phát hiện rằng khối u này không thể cắt được, anh đành phải khâu lại.

Sau đó anh giải thích tình hình với bệnh nhân. Bệnh nhân không hiểu các thuật ngữ y học, cứ tưởng rằng đã mổ xong thì bệnh sẽ khỏi.

Bác sĩ không làm cách nào giải thích cho người bạn cũ của mình hiểu được, đành phải cấp giấy cho xuất viện. Sau một năm người bạn cũ quay lại khám, bác sĩ kinh ngạc phát hiện ra rằng bệnh đã khỏi rồi, tế bào ung thư cũng hoàn toàn biến mất.

7. Tình cờ gặp nhau ở quán cà phê

Cô bước tới hỏi:

– Anh là người mà dì Vương giới thiệu phải không?

Anh ngẩng đầu nhìn cô, quả đúng là mẫu người mà anh thích. Trong lòng anh thầm nghĩ: “Đã nhầm thì nhầm một thể”, thế là vội vàng trả lời:

– Vâng, mời cô ngồi.

Hôm kết hôn, anh thẳng thắn thừa nhận rằng anh không phải người dì Vương giới thiệu, và hôm đó anh đến cũng không phải để gặp mặt làm quen. Vợ anh cười và nói:

– Em cũng không phải đến gặp mặt làm quen, chỉ là em lấy cớ để bắt chuyện với anh…

8. Hai con hổ

Có hai con hổ: một con trong chuồng và một con trong rừng. Cả hai con hổ đều cho rằng hoàn cảnh của mình không tốt, kẻ này luôn ngưỡng mộ kẻ kia.

Thế là chúng quyết định đổi chỗ cho nhau. Ban đầu chúng vô cùng vui sướng hạnh phúc. Nhưng không lâu sau, cả hai con hổ đều chết: Một con chết vì đói, một con chết vì buồn rầu.


9. Nữ sinh chọn hoa khôi

Một cô gái dung mạo bình thường đã có bài diễn thuyết như sau:

– Nếu tôi được chọn làm hoa khôi thì mấy năm sau, các chị em hiện đang ngồi tại đây có thể tự hào nói với chồng mình rằng: “Khi em học đại học, em còn đẹp hơn hoa khôi của lớp”.

Kết quả cô đã chiến thắng với số phiếu bầu tuyệt đối.


10. Chuột sa chĩnh gạo

Một con chuột vô tình rơi vào chĩnh gạo. Sự cố bất ngờ này khiến nó vui sướng khôn nguôi. Sau khi xác định không có nguy hiểm gì, nó bèn ăn ngốn ăn ngấu, ăn no rồi lại nằm ngủ, ngủ dậy rồi lại ăn no.

Cứ như thế, nó ở trong chĩnh gạo ăn rồi ngủ, ngủ rồi lại ăn. Cuộc sống hạnh phúc êm đềm trôi đi khoan khoái.

Đến khi chĩnh gạo vơi dần, vơi dần và lộ đáy, nó vẫn không thoát khỏi sức quyến rũ của những hạt gạo ngon lành còn sót lại. Cuối cùng nó đã ăn hết sạch sành sành. Lúc đó nó mới phát hiện ra rằng, nhảy ra khỏi chĩnh gạo chỉ là giấc mộng xa vời, hết thảy đều đã vô phương bất lực rồi.


Theo Cmoney
Nam Phương biên dịch

10/02/2019

Gởi đôi mắt




Bài hát Phú Quang viết lời trên ý thơ Từ Kế Tường.

Gửi về đôi mắt

Từ Kế Tường

Có điều gì làm nhói lòng ta sau đôi mắt ấy
Đôi mắt em ôi thăm thẳm nỗi sầu xưa
Như đời ta cứ lầm lũi những mùa mưa
Căn phỏng cũ lẻ loi ngày thiếu nắng.


Tiếng chim hót chiều nay càng quạnh vắng
Nằm ở đây ta đợi tiếng chân về
Như đã bao lần thao thức dưới mưa khuya
Đèn hiu hắt cùng ta chung một bóng.

Hạnh phúc tìm đâu trong mơ hồ ảo mộng
Những cuộc tình hôm sớm đã phôi pha
Tỉnh giấc nhàn du hiu hắt lá ngô già
Con chim phượng lại độc hành qua vạn dặm

Những cơn say dốc đời ta vào mây trắng
Nên ngàn năm phiêu dạt một dòng sông
Hết buổi lang thang đến sầu quán vắng
Có ngờ đâu em lại đến bên lòng.


Em là ai - có phải đã hóa thân làm một cánh mai trong
Màu hoa ấy rưng rưng ngày hạnh ngộ
Đôi mắt một màu sương đã theo chân ta về viễn phố
Gỡi lại chút buồn vui cho ngôi quán bên đường

Gặp gỡ làm chi trong vô vị đời thường
Hỡi cánh mai trong, xanh một màu kỉ niệm
Những cơn mưa lại về, những nhớ nhung lại đến
Trái đắng trên môi cười lại ngọt lúc bên nhau

Ôm em trong tay để nhớ mãi ngàn sau
Ai biết được nỗi đau ngày viễn cách
Vị ngọt trên môi em ta biết lần đầu
Sẽ ở lại như những giọt mưa ngậm ngùi tháng 6

Có điều gì ngỡ như là mộng ảo
Đôi mắt em vời vợi ở bên đời
Ta vẫn lẻ loi như chiếc lá cuối trời
Căn phòng vắng tiếng căn phòng vắng chân em xa khuất

Từ Kế Tường tên thật Võ Tấn Tước sinh năm 1946 tại Bến Tre. Trước 1975 là cây bút quen thuộc trên Tuổi Ngọc, tờ tuần báo dành cho tuổi học trò do Duyên Anh chủ trương. Sau 1975 ông gia nhập Hội Văn Nghệ Giải phóng, làm cho các tờ báo Công an, Văn nghệ thành phố.

Lời bài hát của NS Phú Quang

Gửi đôi mắt

Có điều gì nhói lòng anh sau đôi mắt ấy
đôi mắt em thăm thẳm nỗi buồn xưa
Chiều chơi vơi ta ngồi bên quán vắng
nghe hoàng hôn chết lặng trên phố buồn


Từ bao giờ dạt trôi đời con sóng
những cuộc tình năm tháng đã tàn phai
Ngỡ chỉ còn cơn say bồng bềnh men đắng
sao chiều nay tình chợt dâng đầy

Sẽ còn lại với ta một hoàng hôn ấy
dù mai đây tình như chiếc lá cuối trời
Có điều gì giống như hư ảo
khi mắt em ấm áp một tình yêu


Hình trên mạng


06/02/2019

Bài ca Tết cho em


Đầu năm nghe Bảo Yến trình bày Bài Ca Tết Cho Em. Theo BY thì đây là bài ca Quốc Dũng làm để tán cô. Nhưng nghe lời ca, rõ là qua giai đoạn tán rồi chứ nhỉ.

Tết này anh không thèm kẹo mứt
Vì đã có môi em thơm ngọt tựa sen hồng.

Đã hôn nhau thắm thiết. Chắc bấy giờ chàng nịnh để tính chuyện xa hơn ..



05/02/2019

Ly rượu mừng


Ly rượu mừng của Phạm Đình Chương sáng tác từ 1952, từ lâu đã thành bài ca quen thuộc mỗi dịp xuân về.
Trước đây, bài hát bị cấm, nên thường chỉ nghe lại phiên bản của Ban Thăng Long, hoặc của những ca sĩ hải ngoại.
Ba năm trước, bài hát đã được cấp phép hát trở lại, đã có thêm nhiều phiên bản của các ca sĩ trong nước.
Ngày tết nghe lại bài hát này, và cả tiếng pháo lâu nay vắng, cho vui.



*
năm mới, chúc mọi người vui, khỏe.
riêng các cô các em chúc ăn nhiều ăn ngon người vẫn thon, ko tập người vẫn ko mập.



04/02/2019

Cuối năm nhìn những chuyến xe qua




Bảo Yến trình bày bài hát của Vĩnh Điện phổ nhạc bài thơ cùng tên của Nguyễn Thị Thanh Bình

Cuối năm nhìn những chuyến xe qua

Chuyến xe metro cuối cùng
về trạm hay chưa
cuối năm rồi
cuộc đời thêm trống trải
tôi vẫn làm người di dân
                                                        mong ngóng mãi
chuyến xe nào mang tôi về quê hương

sao lâu quá chuyến xe
không về bến
tôi muốn khóc khi làm người đứng đợi
tuyết miền đông trời bỗng thả
giao thừa
đưa tay hứng
mấy mươi năm trời bạt xứ

tôi nào biết chuyến xe
                                                   không hồi khứ
người tài xế da màu nhìn tôi không do dự:
“chuyến xe này không bán vé khứ hồi”
người lưu vong
sao mua vé một chiều (?)

ngày tháng chết chuyến xe đời
mệt mỏi
dẫu thế nào tôi cũng xin làm người
đứng đợi
hơn nửa đời
kiệt lực với hụt hơi
đêm 30 không đen
                                           mà khoảng tối trắng mờ

bên kia đường gã homeless đưa tay vào mồm
phù phù khoảng trống
điệu sáo miệng nghe rầu rầu
kiếp bô-hê-miêng
tôi cũng đâu còn sinh khí
để thổi vào những chuyến đi
người công dân hạng hai
chỉ muốn biết ơn những con người lương thiện

ai không biết
chuyến xe cuối rồi tạt ngang qua đây
chúng ta chẳng còn thêm cả nửa phút giây
hòng nói lời tiễn biệt chia tay
yêu hay hận
thì cũng lên xe thôi
nổi lửa cho rồi
chờ ấm một chuyến về.

Nguyễn Thị Thanh Bình


Ảnh: vietnamphoto.net

03/02/2019

Chiều cuối năm


Thơ Từ Kế Tường, nhạc Trọng Khôi



KHÚC BA MƯƠI

"Tụi nhỏ không biết, thật sự của Tết là bữa ba mươi này. Khi tụi nhỏ mặc bộ đồ mới đi khoe dài dài xóm, khi ba và anh tắm táp xong ra hàng ba ngơ ngẩn ngắm hoa sao nhái đốt lửa vàng run rẫy trước sân, khi má nhốt than trong những bếp lửa tàn, khi chị đứng chải tóc trước gương, thì Tết đã chớm hết, Mùng Một, Mùng Hai là Tết phai; Mùng Ba Mùng Bốn Tết tàn.

Tụi nhỏ không biết, mãi về sau, khi lớn lên, trong ký ức Tết ấu thơ, những ngày mùng rất nhạt, đơn điệu, chỉ chơi và chơi. Nhưng bữa ba mươi luôn sống động, lung linh những mồ hôi, những nụ cười, những khoan khoái, những ngọt ngào…"


KHÚC BA MƯƠI | Nguyễn Ngọc Tư

----

Năm nào cũng vậy, do thức dậy sớm đi chợ sớm, nên má là người đầu tiên mở ngày ba mươi Tết ra. Không biết có phải số má cực, vía má cực không mà hôm đó cả nhà đều phải làm công chuyện tối mắt tối mũi. Đến nỗi, nhắc tới Tết là thấy chữ “Ba Mươi” chình ình, choán chật cả ký ức.

Đó là cái ngày duy nhất trong năm cả nhà sum họp mà không sum họp. Ai nấy túi bụi với chuyện của mình. Cánh đàn ông con trai (nói cánh cho ham vậy, chỉ hai người thôi, chứ mấy), cánh này quan trọng, lãnh phần dọn dẹp, lau chùi, làm đẹp nhà. Nào là quét mạng nhện trên trần, lau cửa kính, tủ bàn, kỳ cọ mấy cái lư đồng, đem phơi nắng. Mệt phờ. Lúc dọn dẹp, bày biện bàn thờ thì mùi chiên xào dưới bếp bay lên, trời, lại phải bỏ ngang công việc đang làm dở, chuẩn bị mâm bàn cúng rước ông bà. Xế chiều rồi, chớ giỡn…

Cúng kiếng xong, cánh đàn ông tiếp tục chuyển sang đánh trận… ngoài sân, còn má vẫn hì hụi trong bếp, vừa trông chừng nồi thịt kho, vừa làm thịt nguội, sau lưng má, củ cải với dưa leo đang chờ tới phiên mình trở thành món… dưa chua. Tết của má dài thăm thẳm, phải kể từ hôm tát đìa bắt cá làm mắm, xẻ khô. Cá còn phơi trên mấy hàng bông bụp má bắt tay vào làm củ kiệu. Hồi chị còn nhỏ, má lãnh luôn phần làm mứt, nướng bánh kẹp, bánh bông lan. Chị lớn, chị giành lấy, nói để chị làm, nên cả ngày ba mươi tụi nhỏ không thấy chị liếc, chị rầy, bởi chị cũng cắm đầu làm mứt, nào là mứt chùm ruột, mứt gừng, không biết ai ăn cho hết mà ôm đồm, vừa ngào chảo mứt dừa vừa chạy ra coi mớ mứt tắc (quất) phơi ngoài sân không biết có kiến bò lên không. Cái dáng chị khum khum, tay đấm lia lịa vào lưng, than mỏi quá nhưng vẻ mặt thì tươi rói, ngây ngất. Giống hệt cả nhà, miệng kêu cực mà hớn hở, như thể ngày cuối năm này không có việc gì làm mới là niềm đau khổ lớn.

Tụi con nít cũng bận lắm, chạy đi chạy lại, “lấy dùm ba cây bàn chải”, “chặt dùm má mấy trái dừa”, “ê, coi chừng mấy con chó chạy giỡn làm đổ mớ mứt đang phơi…”, “chạy đi mua cho má mấy bịt muối, cho đầy hũ, nhỏ ơi”. Trên đường chạy đầu này đầu nọ, tụi con nít không quên thò đầu vô tủ vuốt ve mấy bộ đồ mới, ứa nước miếng, trông mau tới chiều để mặc, nên có khi má kêu hai ba lần mới chịu đi làm, bịu xịu càu nhàu trong bụng, không biết ông trời sinh ra ba mươi Tết làm chi, công chuyện quá trời.
Mà, việc nào cũng quan trọng, quan trọng khủng khiếp, không thể để đến ngày mai. Tuyệt nhiên, chẳng ai chần chừ, “để làm sau..”. Cứ như là không còn ngày mai nữa, cả nhà làm cho bằng hết việc, đến xanh mặt, mướt mồ hôi, như ai đó đuổi đằng sau, như làm bây giờ để mai mốt không động tay vào bất cứ việc gì nữa.
Tụi con nít buồn cười, vì cữ kiêng lắm thì chỉ thảnh thơi được ngày mùng Một, bữa sau ba má cũng ra vườn tưới rau, chị nhất định phải rửa chén, giặt đồ, anh đến cơ quan, mọi người trở lại với công việc thường ngày của mình, Ba Mươi cũng đâu có thay đổi được gì mà làm muốn nín thở?

Tụi nhỏ không biết, thật sự của Tết là bữa ba mươi này. Khi tụi nhỏ mặc bộ đồ mới đi khoe dài dài xóm, khi ba và anh tắm táp xong ra hàng ba ngơ ngẩn ngắm hoa sao nhái đốt lửa vàng run rẫy trước sân, khi má nhốt than trong những bếp lửa tàn, khi chị đứng chải tóc trước gương, thì Tết đã chớm hết, Mùng Một, Mùng Hai là Tết phai; Mùng Ba Mùng Bốn Tết tàn.

Tụi nhỏ không biết, mãi về sau, khi lớn lên, trong ký ức Tết ấu thơ, những ngày mùng rất nhạt, đơn điệu, chỉ chơi và chơi. Nhưng bữa ba mươi luôn sống động, lung linh những mồ hôi, những nụ cười, những khoan khoái, những ngọt ngào…


02/02/2019

Cherish Kool & The Gang

Let’s take a walk together near the ocean shore
Hand in hand you and I
Let’s cherish every moment we have been given
The time is passing by
I often pray before I lay down by your side
If you receive your calling before I awake
Could I make it through the night

Hãy cùng nhau đi dạo bên bờ bể
Tay trong tay anh và em
Hãy yêu quí từng khoảng khắc chúng ta được tặng
Thời gian đang trôi đi
Anh vẫn thường nguyện cầu trước khi nằm xuống cạnh em
Rằng nếu như em được ơn trên gọi đi trước khi anh thức giấc
Thì anh cũng có thể được đi cùng ngay trong đêm.




E-book sách cũ.


Trùng Dương: Điểm qua vài Web sites lưu giữ sách báo xuất bản trước 1975 tại Miền Nam

Hôm nay, một ngày đầu năm, nơi tôi ở trời lấm tấm mưa và sương mù còn giăng mắc mặc dù đã 10 giờ sáng. Có lẽ không hạnh phúc nào bằng ngồi trước lò sưởi với ly cà phê và vài cuốn sách -- chính xác thì phải nói là với mấy Web sites sách điện tử, hay e-book, trên cái iPad. Bằng hữu ở xa, giờ già cả cũng ít hoặc hết còn đi thăm nhau được. Ngoài trao đổi điện thư ngày một thưa thớt, chỉ còn cái thú làm bạn với sách. Thú thật chưa bao giờ tôi đọc sách báo nhiều như những lúc về sau này.

01/02/2019

Chửi

“Có lẽ không có dân tộc nào trên thế giới văng tục, chửi tục nhiều và hay như dân tộc Việt nam.” (Nguyễn Văn Trung).

Trong tạp bút này Võ Phiến, một cây bút hàng đầu của miền Nam hồi xưa, tìm hiểu cái hay ấy.

Cop về định dành mấy ngày đầu năm rảnh mọi người đọc cho vui, nhưng đầu năm nghe chửi xui, thôi post luôn. Mấy ngày cuối năm ai rỗi thì đọc chơi.

CHỬI

Hồi tiền chiến, báo chí có kể câu chuyện một người ngoại quốc nghiên cứu về lối chửi nhau của các dân tộc, đến Việt nam, nhân đọc một đoạn văn của Thanh Tịnh, đã nhắn hỏi và được Thanh Tịnh cung cấp cho tài liệu. Nhà khảo cứu nhận rằng tài liệu rất quí báu, lối chửi ở Việt nam rất xuất sắc, đã gửi biếu Thanh Tịnh một món quà (hình như là cái máy chụp hình?) để đền ơn.

Hiện thời nghe nói linh mục Trương đình Hòe đang soạn một luận án tiến sĩ ở Pháp về ý nghĩa của cái chửi Việt nam.

Trong cuốn Ngôn ngữ và thân xác vừa xuất bản, Nguyễn văn Trung cũng có nghiên cứu về vấn đề chửi tục. Ông mở đầu: “Có lẽ không có dân tộc nào trên thế giới văng tục, chửi tục nhiều và hay như dân tộc Việt nam.”

Hay ra làm sao? Không thấy ai phân tích. Vả lại, cái hay cái đẹp là chuyện thẩm mỹ; sự nhận định, thưởng lãm, có thể chủ quan. Kẻ yêu thì cho là hay, người không thích lại chê dở. Chờ cho dứt khoát hãy còn lâu.

Cái nhiều dễ chứng minh hơn. Và nguyên một cái nhiều ấy đã mang nhiều ý nghĩa. Nếu Nguyễn văn Trung đã so sánh với các dân tộc trên thế giới và nhận thấy người Việt chửi nhiều, thì thôi, không còn gì để biện luận nữa; đó là sự thực khách quan, chửi là một đặc điểm của dân tộc.

Vấn đề chỉ còn là tìm hiểu đặc điểm ấy.

*​
* *​

Chửi là một cách xung đột bằng lời. Và chỉ bằng lời thôi, chứ không phải bằng những lý luận do lời nói phô diễn ra. Do đó chửi nhau khác với cãi nhau.

Hai kẻ cãi cọ cố thắng địch bằng lý lẽ. Dĩ nhiên khi đôi bên đã to tiếng, mặt mày đã sưng sỉa lên, thì giá trị luận lý của những câu cãi thường không thể xuất sắc. Lúc bấy giờ ở mỗi người chỉ có tình cảm sôi sục hoành hành, chứ lý trí không còn sáng suốt bình tĩnh để đi sâu vào những suy luận tinh tế nữa. Dù sao, nội dung một cuộc cãi nhau cũng là lý luận; kẻ thua cuộc là kẻ “bí". Để khỏi bí, người cãi phải lắng nghe, theo dõi lời lẽ của đối phương, hầu tìm cách bắt bẻ.

Chửi nhau thì, trái lại, không cần nghe gì ở đối phương cả. Cơ sự đã bùng nổ, mạnh bên nào nấy chửi, lấy hơn. Kết thúc cuộc chửi lộn, không ai thua vì bí. Thua ở đây có nghĩa hoặc là không đủ hơi sức để tiếp tục nên phải ngừng lời trước, hoặc là phải lãnh những lời nặng của đối phương mà vốn liếng hiểu biết của mình ít oi không cho phép trả lại những đòn nặng tương đương.

Như thế, một trận chửi lộn giống như một trận đánh lộn. Một đàng vung tay vung chân vung cây vung gậy đập loạn xạ xuống kẻ thù; một đàng đập loạn xạ bằng lời. “Đò bò. Đồ chó. Quân súc sinh. Đ. mẹ mày. Ị vào mặt mày" v.v... Đó là những đòn quất xuống, mong cho kẻ địch bị đau, không mong kẻ địch phải bí. Việc thiết yếu trong trận chiến này là đánh thật mạnh và làm thế nào để chịu đựng nổi những cú đánh của đối phương. Đánh được mạnh hay không là tùy thuộc cái vốn kiến thức chuyên môn của kẻ chửi. Để chịu đòn, người ta cố gắng để khỏi phải nghe tiếng nói kẻ thù; hoặc bịt tai lại, hoặc chửi to và liền hơi để lấp lóng. Trong trường hợp không chửi lại, người ta phớt tỉnh, làm lơ, tỏ vẻ như không hề nghe thấy tiếng chửi của đối phương, như những tiếng đó không ăn nhằm gì, không đụng chạm và làm tổn thương mình chút nào.

Phương thức tấn công cũng như phương thức phòng vệ của chửi lộn cho thấy nó gần với chiến tranh, mặc dù phương tiện của chửi lộn là lời nói vốn có công dụng giúp cho hiểu nhau. Trong tấn công, những câu mà người chửi văng rakhông chứa đựng một lý sự gì. Hoặc ngắn ngủi, cộc lốc như: “Đồ chó đ... Đồ ăn c...”, hoặc dài dòng văn tự như “Cha năm đời mười đời thằng đẻ ra bố đứa nào lấy con vịt của bà, nó mà không đem trả thì bà đào mả ông bà ông vải nó lên, bà bắt nó chui vào váy bà, bà bắt nó liếm 1... bà”, những lởi lẽ như thế cũng không nhằm phân giải một sự thực nào, một lẽ phải trái nào cả. Tác dụng của nó là tác dụng tàn phá, gây đau đớn, như đạn, như mìn. Cuộc trao đổi giữa đôi bên là trao đổi những thứ như vậy: càng nhiều càng tốt, hỏa lực càng mạnh càng hay. Trong phòng vệ, thì bịt tai là khiên, là mộc, là áo giáp, mũ sắt, là công sự, phòng tuyến v.v... Trong một cuộc chửi lộn, có kẻ nói qua người nói lại, nhưng rõ ràng không có đối thoại. Cãi nhau thì phải vểnh tai nghe, chửi nhau phải vít tai lại. Trong trường hợp này không cần biết gì về ý nghĩ của đối phương nữa, không cần đếm xỉa đến lập trường của họ: Giữa đôi bên, tuyệt đường tương thông.

*​
* *​
Giữa hai người, một khi có sự xích mích phải dùng lời lẽ để giải quyết, sự việc diễn tiến qua nhiều chặng đường trước khi đến chỗ chửi nhau.

Trước hết, đôi bên có thể bình tĩnh, hòa nhã. đối chiếu quan điểm trong một cuộc thảo luận có tính cách xây dựng, nhằm đi đến cảm thông, dàn xếp.

Nếu quan điểm bất đồng, không dàn hòa được, bấy giờ là khởi đầu của xung đột. Lời lẽ được sử dụng dần dà đi xa mục đích biện giải mà nhằm công dụng gây tổn thương; người ta nói mát, nói cạnh, nói khoé, nói kháy, nói bóng nói gió, nói khích, người ta chế giễu, châm chọc. Đó là những hoạt động phá rối, du kích. Nếu không chấm dứt, nó dẫn tới xung đột trực diện: cãi vã om sòm. Cuối cùng chửi nhau. Đến đây là biện pháp mạnh rồi. Là hành hung, là bạo động. Và bạo động (bằng ngôn ngữ cùng vậy) gây cảm tưởng khiếp sợ, ghê tởm. Nghe lời chế giễu, nói cạnh nói khóe, lắm khi thấy thích thú nếu gặp được những đối thủ thông minh, láu lỉnh. Ở đây, còn có sự biểu diễn của lý trí. Trái lại, chửi nhau thì chỉ còn tranh đua ở mức độ tàn nhẫn.

Đi đôi với lời lẽ, ở mỗi giai đoạn có những điệu bộ tư thế tương xứng. Khi chế nhạo, nói mát v.v..., người ta có thể cười mỉa, cười khẩy, giọng nói có thể ôn tồn, ngọt ngào mặc dù giả tạo. Bất chợt tìm được câu hài hước thú vị, chính kẻ nói có thể phát ra cười thực tình. Người ta còn thưởng thức được cái hay ho, còn khinh khoái, thỉnh thoảng còn vượt được lên trên sự tức giận.

Trong khi cãi vã, hai bên đương sự có lúc tức tối, có lúc tỏ thái độ kinh ngạc, có lúc làm ra vẻ khinh thị, mỉa mai v.v... Biểu lộ của con người hãy còn linh động, phong phú.

Nhưng đến độ chửi nhau thì cả con người đơn giản chì còn là phẫn nộ ngùn ngụt. Trong những trận thư hùng như thế diễn ra ngoài đường ngoài chợ, thường trông thấy những đối thủ xắn váy, xắn quần, chổng mông, vỗ vào chỗ kín đôm đốp, mắt long lên sòng sọc, người chồm tới, miệng gào nổi gân cổ... Tư thế của chiến sĩ ở trận tiền.

Vậy chửi là hình thức xung đột mạnh nhất bằng lời.

*​
* *​
Thi sĩ Paul Valéry có ý nghĩ ngộ nghĩnh về chuyện chửi rủa. Theo ông, sở dĩ bị chửi rủa xỉ vả mà thấy đau, ấy là vì ta chỉ nhìn có một phần con người đang làm nhục ta: cái phần bên ngoài lúc hắn đối diện hành hung ta. Hãy hình dung lúc chưa gặp ta, hắn một mình hậm hực, hì hục bấu xé băm vằm một kẻ thù tưởng tượng, một hình ma. Trông thấy trọn vẹn hắn, là trông thấy một tên khùng. (Qui voit donc tout l'insulteur, voit un fou.)

Thiết tưởng chỉ cần trông một nửa con người đang chửi, chửi theo lối Việt nam, cũng thấy được cái gì khá lạ lùng, lý thú.

Xin tưởng tượng hai người đối mặt nhau, xướng lên những câu thế này:

“Mẹ mày, cả nhà mày ra đường bị gà nó mổ mất dái từ già đến trẻ.

— Con khỉ trù, chó nó ăn mất cu, chết đi thành con ma trơi bay dọc đường xó chợ.

— Đ. mẹ mày.

— Tao ỉa vào đầu lâu hoa cái nhà mày.

— Tiên sư mày, tao chẻ xương mày ra.

— Đồ chết tiệt, mày đi ra đường xe nó đè, thuyền nó chìm v.v...”

Ý nghĩa những câu ấy đại loại là:

1/ Nêu lên những nhận định rất bất lợi về giá trị của đối phương (Đồ chó đéo, đồ đĩ điếm, con khỉ trù v.v...)

2/ Nêu lên những tai họa mong xảy đến cho phương (Bị gà mổ mắt dái, chó ăn mất cu, xe đè, thuyền chìm v.v...)

3/ Nêu lên những hành động bạo tàn mà ta muốn tự mình thực hiện đối với chính kẻ địch và những người thân yêu của hắn (Chẻ xương ra, đ... mẹ nhà nó, ị vào mồm, đào mả tiên sư v.v...)

Hà tất ngồi một mình tưởng tượng chẻ xương hay ị vào mồm, một kẻ vô hình mới là khùng? Gặp mặt nhau, cách nhau gang tấc, có thể túm lấy người ta để chẻ xương để ị vào mồm mà không hề túm lấy, chỉ đứng cách xa kê khai những ước muốn, những hành vi mình mong làm, kê khai nhiệt liệt hàng giờ như vậy, đó cũng là một cảnh tượng khác thường chứ, không sao?

Khi chửi, tình cảm trong lòng là thứ tình cảm ngùn ngụt của lúc lâm trận, tư thế bên ngoài là tư thế hầm hầm của chiến đấu, dự tính của hành động là những dự tính cực đoan ác liệt; tuy vậy rốt cuộc bạo động thực sự không xảy ra, tổn thương cụ thể không hề có.

Bảo chửi là hành hung thì quá đáng: kẻ chửi chưa có hành động hung dữ. Nhưng bảo chửi chỉ là ước muốn điều dữ cho kẻ khác thì lại không đủ: kẻ chửi đã đi quá sự ước muốn suông. Hắn đã thét to sự ước muốn đó vào mặt kẻ thù. Như vậy tuy không gây tổn hại cụ thể trên thân xác kẻ thù, hắn cũng làm cho đối phương đau đớn. Không thực hiện hoàn toàn nhũng ước muốn độc hại, nhưng hắn đã đi tới nửa con đường thực hiện.

Bởi không ra tay làm được những điều mình mong muốn cho nên người chửi thường ước mong quá trớn. Trong một trận chửi, có thể nghe kê khai liên tiếp các việc: nào là đ. mẹ kẻ địch, đút c... vào mồm kẻ địch, nào là bắt kẻ địch liếm 1... mình v.v... Giá có thể xông tới thực hiện lấy một chuyện thôi trong bấy nhiêu chuyện thì đã đủ hả giận rồi. Chính vì không làm một chuyện nào cả nên mới ao ước nhiều đến thế.

Một phần vì không phải đánh nhau bằng chân tay gậy gộc, không nhằm một cái đích xác thịt cụ thể; mà đánh nhau bằng lời nên được tha hồ vung vít vào những mục tiêu rộng lớn. Một phần khác vì đánh bằng lời, bằng tưởng tượng, không thỏa mãn được ước muốn, nên người chửi có xu hướng đi quá xa: sau khi giày xéo đối thủ, hắn còn xâm phạm tới tất cả những gì là quí trọng thân yêu nhất của đối thủ. Việc đụng chạm tới mồ mả, tổ tiên kẻ thù, có lẽ là do đó.

Nguyễn văn Trung cho rằng “lời chửi thiết yếu bao hàm một niềm tin tôn giáo dựa trên đạo thờ tổ tiên, vì giả sử một ngày kia người Việt không còn thờ ông bà ông vải, khấn vái, cúng giỗ, thì đã hẳn lúc đó lời chửi sẽ không còn ý nghĩa, tác dụng gì nửa,” và “người ta không thể chửi tục nếu không dựa trên một số niềm tin có tính chất tôn giáo.”

Thật vậy chăng? Nói những câu như “Đồ mất dạy, mày cứ há hốc mồm ra thì ông ị vào!” hay “Mày khôn hồn cút đi, không có tao ị vào mặt bây giờ” thì cần gì phải dựa trên một số niềm tin tôn giáo? Không thờ ông bà ông vải tưởng cũng cứ đòi làm dơ mồm kẻ khác được, đâu có sao. Và không thờ ông bà ông vải, bị kẻ khác đòi làm dơ mồm mình tưởng vẫn chịu một tác dụng đau lắm, đâu phải không tác dụng gì.

Trong chửi rủa, có những hành động bạo tàn muốn nhằm vào đối thủ, có những hành động bạo tàn muốn vượt quá đối thủ nhằm tới thân nhân họ, cũng như có những tai họa mong được do ta gây ra, có những tai họa mong quỷ, thần, gà, chó, xe cộ v.v..., những rủi ro huyền bí gây ra. Như vậy việc chửi rủa có biểu lộ sự tín ngưỡng của dân tộc, và những ai muốn tìm hiểu về tín ngưỡng Việt nam có thể tìm hiểu được một phần qua các câu chửi cũng như qua nhiều phong tục khác; nhưng chửi không đến nỗi thiết yếu bao hàm tín ngưỡng, không đến nỗi không tín ngưỡng không chửi được.

Không có tín ngưỡng, quyền lực của kẻ đánh đá bằng mồm sẽ bị giảm sút đi nhiều. Chỉ có vậy thôi. Và như thế kẻ chửi thiệt thòi tội nghiệp: không ra tay đánh thực mà chỉ đánh gió, hắn nên được đền bù bằng cách tha hồ loạn đả lung tung cho hả.

*​
* *​
Chửi là đi nửa con đường hành hung. Điều làm chúng ta thắc mắc là tại sao lại chỉ đi có nửa đường? Tại sao chọn dừng lại đó?

Bảo rằng gây đau đớn cho đối thủ đến như thế là tột độ, rằng như thế ta đủ trọn vẹn hả giận rồi, nhất định không đúng. Vậy tại sao không thượng cẳng chân hạ cẳng tay.

Đến đây, bất giác nghĩ đến một nhân vật lừng danh khắp Á đông: ả Q.

Ả Q., trong suốt cuốn chính truyện, không thấy có kẻ thân, chỉ thấy người thù, nếu chẳng ra hẳn là thù hằn thì cũng ghét bỏ khinh bỉ ả. Đối với mỗi hạng đối thủ, ả Q. có thái độ khác nhau. Thằng Đôn Oắt Tì và lão già Vương Xồm coi bộ yếu kém, nên vừa gặp nhau ả Q. khiêu khích và vung tay sấn ngang tới hành động. Còn quan tú “Tây Giả Cầy" với quan cử, thì ả chỉ đối phó bằng cách chửi “con mẹ nó." Có một lần ả chửi thành tiếng: “Thằng trọc... con lừa," và bị thằng Tây Giả cầy đập cho mấy cây ba-toong lên đầu, vì vậy để bảo đảm an ninh, ả Q. ưa chọn cách chửi thầm trong bụng. Ả Q. có biết câu “quân tử động khẩu bất động thủ,” nhưng xử sự linh động: gặp kẻ yếu thì ả vui lòng làm tiểu nhân mà gặp phải kẻ mạnh hơn mình, ả đề nghị làm người quân tử.

Như vậy, cái gì ngăn chặn một người chửi rủa đi thẳng tới hành động ấy là sự nguy hiểm.

Nét tâm lý ấy ở ả Q., theo lời ông Giản Chi thì nó tiêu biểu cho cái mà người phương bắc nước Trung hoa gọi là "phạp". Phạp là ươn hèn.

Ở đời, những kẻ khỏe mạnh, không e ngại vũ lực, thường không chịu ngừng mãi ở thái độ quân tử. Vì thế hạng khỏe chửi không phải là hạng vai u thịt bắp; thực vậy, hiếm khi trông thấy cảnh tượng một người đàn ông vạm vỡ chửi bới dai dẳng. Trái lại, chửi rủa ác độc và dông dài thường thường là sở trường của phái yếu.

Thế gọi là phạp? Nhận xét phũ phàng quá. Nhất là khi chửi rủa đã được nhận làm một đặc điểm của dân tộc. Bởi vậy, nên đề nghị một cách giải thích khác. Thiết tưởng chửi có thể coi như hình thức xung đột khôn ngoan của một dân tộc khôn ngoan.

Các va chạm trong cuộc sống một khi không thể thu xếp ổn thỏa, được giải quyết hoặc bằng cách nhịn nhục cho qua hoặc kết thúc bằng vũ lực. Nhịn nhục thì bề ngoài êm thấm đấy, nhưng bên trong nó đầu độc con người do niềm uất hận bị đè nén. Ả Q. đánh nhau thua mãi, về sau không dám đánh ai nữa, mỗi lần tức giận đành cứ quắc cặp mắt im lặng nhìn kẻ thù: sự suy đốn tinh thần của ả có thể một phần do đó mà ra. Nuốt lịm cơn giận, đó không phải là phản ứng thuận với tự nhiên. Trong tự nhiên, con người, cũng như con thú khi bị tấn công đe dọa, cơ thể tự động chuẩn bị để tức khắc đối phó: tim đập mạnh, hơi thở gấp, huyết quản trong phổi căng lên, dưỡng khí được hít vào máu, chất đường được rót vô máu nhiều hơn, máu dồn ra các bắp thịt, bắp thịt co lại, sẵn sàng hành động. Nếu hành động bị chận, các năng lực vừa huy động mà phải kìm hãm không dùng tới nó trở lại phá phách làm ta khó chịu, cáu kỉnh. Ta cáu kỉnh, giận dữ, thì các hạch thượng thận bị kích thích, chất thận tuyến tố (adréaline) tiết ra nhiều, huyết áp cao, mạch máu căng v.v... Cơn giận là cái gì độc hại; giận không nên nuốt; nuốt giận, tất sinh ra bệnh hoạn. Nổi tam bành lên mà được đập nhau một trận mới hả. Nhưng đập nhau thì nhiều khi hỏng việc hết, cho nên để cứu vãn tình vợ chồng trong gia đình người ta đập tạm bát, đĩa, ly, cốc v.v...

Cái cần lúc bấy giờ là cần một hành động mạnh, thật mạnh, có tác dụng giải toả. Những ràng buộc của cuộc sống trong xã hội văn minh không cho phép chúng ta mỗi lúc mỗi bạo động, sự dồn nén làm phát sinh nơi chúng ta nhiều chứng bệnh thần kinh. Bà Laura Archera Huxley nghĩ ra mấy cách chữa bệnh rất ngộ. Bà mách chúng ta mua ở tiệm bán đồ thể thao một trái banh về treo sẵn trong nhà, lúc nào có điều giận ai, có chuyện bực mình, cứ vô phòng mà đấm liên hồi kỳ trận vào trái banh ấy. Bắp thịt co lại đòi hành động? Cứ cho nó hành động. Chất thận tuyến tố kích thích? — Đập cho dữ vào, nó sẽ hết kích thích. Đập banh xong, tâm hồn sẽ thư thái, đời sẽ tươi sáng. Bà L. A. Huxley lại mách ta nhúng chân vào một thùng nước nóng, úp mặt vào một thau nước thật lạnh, rồi cứ thế thổi vào thau nước cho nổi bong bóng lên, càng uất ức càng thổi. Không thét mắng những lời cộc cằn vào kẻ thù, hãy thổi xuống nước, bong bóng sẽ nói thay lời, tha hồ nói mà không xúc phạm ai, không gây đổ vỡ. Nếu uất hận quá, vừa thổi bong bóng vừa khóc cũng được, càng hay.

Chửi là một biện pháp đại khái giống như đấm trái banh, như thổi bong bóng nước, vào những lúc cơ thể đòi hỏi phải lảm một cái gì thật hung dữ mà hoàn cảnh, quyền lợi, không cho phép làm như thế. Chỉ giống đại khái. Thực ra thổi bong bóng so với chửi cũng như chửi bới so với đánh đấm chém giết. Có lẽ nhờ chửi, hay chửi, mà người bình dân Việt nam bị thiệt thòi, áp bức, lại không mang nhiều ẩn ức trong tâm hồn, có thể lập được quân bình tinh thần, bớt cay đắng.

Giữa bọn trẻ chơi ngoài đường, thỉnh thoảng có những cuộc xung đột không cân sức, đứa lớn đánh, đứa nhỏ chửi; lớn càng đánh, nhỏ càng chửi. Vì yếu nên phải chọn chửi, Nhưng chửi là phản ứng can đảm của kẻ yếu.

Nếu cả đôi bên mạnh yếu cùng thỏa thuận dùng chửi để thay thế cho cuộc đấu lực thực sự, thì đó quả là khôn ngoan. Và dân tộc Việt nam khôn ngoan đã sử dụng chửi như một biện pháp giải tỏa, trau dồi nó thành nghệ thuật.

Thực vậy, xem truyện xem phim nước người, nhất là các nước Âu Mỹ thấy họ đánh đấm nhau nhiều quá, dễ dàng quá, như thể trẻ con. Cứ có chuyện xích mích, bên nầy văng qua một lời, bên kia văng lại một lời thô tục, thế là đánh nhau. Nguyên do một phần bởi tính khí, một phần có thể bởi vốn liếng từ ngữ chửi rủa của họ nghèo nàn quá. Trong cuộc chiến đấu bằng lời mỗi bên vừa tung ra mấy món thì đã sạch kho hoả lực rồi, cuộc chiến này bế tắc, đành phải leo thang lên hình thức chiến đấu của đám tiểu nhân.

Trái lại, người Việt có thể kéo dài cuộc chiến bằng mồm rất lâu, có thể tăng cường nó lên nhiều mức độ. Hơn nữa, chúng ta có những câu chửi dài, có vần, có điệu, tiết tấu nhịp nhàng, âm thanh dìu dặt. Những câu chửi như thế có tác dụng trấn ủy, làm nguôi dịu. Một cơn giận được đưa vào âm vận là đã chịu tuân theo một thứ kỷ luật. Cũng như một niềm vui biểu diễn bằng khiêu vũ, một xúc động được biểu hiện trong câu nhạc, câu thơ. Vui mà nhảy cỡn lên là cái vui hoang dại đột ngột. Giận mà thét lên “Đồ chó!" là cái giận phá hoại, nhưng giận một đứa trộm gà mà đã dông dài kể tội nó: “bắt con gà vàng khoan cổ con gà nổ khoan lông, nó nấu nồi đồng, nó nấu nồi đất, nó ăn lật đật v.v...” thì vần ấy điệu ấy xoa dịu cơn giận, sẽ làm cho nó ngoan ngoãn, hiền lành. Trong tiểu thuyết và ngoài xã hội chúng ta, có những người đàn bà hoặc tức hàng xóm hoặc giận con cháu, ban đầu lồng lên thét chửi, rồi lần lần vừa chửi vừa chải đầu gỡ tóc, vừa chửi vừa quét nhà, vừa chửi vừa lặt rau... Cơn giận cứ thế tự kết thúc.

Ở địa vị của một dân tộc mà người này có thể bới mả tam đại người kia, chẻ xương róc thịt người kia, và ngược lại, hai bên được phép băm vằm lẫn nhau thỏa thích hàng giờ mà rốt cuộc không ai sứt mẻ gì, ở địa vị như thế trông xuống những dân tộc cứ hễ lời qua tiếng lại vài câu là xông tới đấm đá, đâm chém nhau, chúng ta thấy họ sao mà nông nổi, rồ dại!

Không ai biết trong lịch sử tục lệ chửi bới đã tránh cho dân tộc ta được bao nhiêu cuộc ẩu đả, bao nhiêu vụ lưu huyết, đã cứu được bao nhiêu ức triệu nhân mạng. Thật đáng tiếc, vì chúng ta ước ao có chút ít số liệu rõ ràng trong tay khi nêu cao một đặc điểm của dân tộc. Dầu sao, không còn nghi ngờ gì nữa: chửi bới, khi thực hiện một cách đứng đắn, theo đúng tinh thần lề thói Việt nam, khi hai bên tham dự đều biết tôn trọng qui tắc của cuộc chơi, không bốc đồng xé rào tiến tới hành động, thì một trận chửi có tác dụng thật lốt đẹp. Trong cuộc đụng độ ấy có mức độ ác liệt đủ giải tỏa uất hận, đủ thỏa mãn những bản năng hung bạo trong người, mà khỏi gây kết quả khốc hại. Cái chửi Việt nam, nó như một cuộc chiến tranh trong đó đạn mã tử được bắn thả cửa, nhưng bắn nhịp nhàng theo điệu nhạc quân hành. Bắn không để giết người mà đề xoa dịu cân não mình.

Dân tộc ta chửi hay. Cái hay ở đó chăng?

Tràng Thiên - Võ Phiến
IV. 1968​