Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Duy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Duy. Hiển thị tất cả bài đăng

28/11/15

Nhìn từ xa... Tổ quốc


Nhìn từ xa... Tổ quốc được Nguyễn Duy viết xong tháng 5/1988 tại Matxkva, in lần đầu trên tạp chí Sông Hương (số 37, tháng 4/5-1989, Huế), sau đó được in lại trong tập thơ Ðường xa (nxb Trẻ, 1989), Thơ Nguyễn Duy (Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn, 2010). Bài thơ cũng được chính tác giả đọc trên đài phát thanh Matxkva trong một chương trình tiếng Việt tháng 6/1990; được Phan Huy Đường dịch qua tiếng Pháp, sau đó được chọn in trong một tuyển tập thơ thế giới.

Mới đây, trong Đêm nhạc dân gian với thơ Nguyễn Duy tổ chức tại Trung tâm văn hóa Pháp ở Hà Nội 24/10.2015 bài thơ được tác giả và một số nghệ sĩ trình diễn. Xem cho biết



29/1/15

Chuyện tình ở Đà lạt và Huế


Mời nghe hai bài thơ tình viết tại hai địa phương nổi tiếng thơ mộng - Nguyễn Duy với Đà Lạt một lần trăng và Thu Bồn với Tạm biệt Huế:



Đà lạt một lần trăng

Trăng ảo ảnh lập lờ trong sương trắng
ngọn gió nhà ai thấp thoáng ở bên đồi
tiếng móng ngựa gõ ròn trên dốc vắng
nghe mơ hồ một chiếc lá thông rơi

Em nhóm bếp bằng củi ngo chẻ nhỏ
ngọn lửa lấp đi khoảng vắng giữa hai người
tôi lơ đãng nhìn em nhìn lơ đãng
siêu nước pha trà vừa ấp úng sôi

Em biết chứ, chả ai lơ đãng cả
hòn than kia đang đỏ đến hết lòng
mà ngọn lửa cứ giả vờ le lói
mùi nhựa thông theo sợi khói đi vòng
...

Đà Lạt, 1984

*

Tạm biệt Huế

Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ
nên chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng
mặt trời vàng và mắt em nâu

xin chào Huế một lần anh đến
để ngàn lần anh nhớ hư vô
em rất thực nắng thì mờ ảo
xin đừng lầm em với cố đô

áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền
nón rất Huế mà đời không phải thế
mặt trời lên từ phía nón em nghiêng

nhịp cầu cong và con đường thẳng
một đời anh đi mãi chẳng về đâu
con sông dùng dằng con sông không chảy
sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
anh trở về hóa đá phía bên kia.


Huế 1980

Nguyễn Quang Lập có lần kể lại hoàn cảnh Thu Bồn sáng tác Tạm Biệt Huế, trích lại một đoạn đọc cho vui

Ít ai yêu đương mất thời gian như anh. Hễ mê cô nào Thu Bồn đeo đến cùng dù có mất cả năm trời. Mình đã chứng kiến Thu Bồn đứng dưới cửa sổ nhà chị H. ròng rã ba tháng trời, bất kể nắng mưa xứ Huế. Đêm nào cũng vậy, cứ 6 giờ là anh đến, đứng khoanh tay ngửa mặt nhìn lên cửa sổ và đọc thơ, đọc hết bài này sang bài khác cho đến 3 giờ sáng mới lủi thủi ra về. Tháng tám mưa Huế dai dẳng từ đầu hôm cho đến sáng, Thu Bồn cứ khoanh tay ngửa mặt giữa mưa hết đêm này sang đêm khác, thật sợ quá đi mất.

Vụ tình ái này Thu Bồn thất bại thảm hại. Mặc kệ Thu Bồn ngửa cổ nhìn lên dưới mưa lạnh xứ  Huế, chị H. trùm chăn ngủ ngon lành, không một lần mở cửa sổ nhìn xuống nói với anh một câu, dù là câu chê trách mắng mỏ. Ít khi Thu Bồn thất bại đắng cay như vậy, anh không được một chút gì kể cả một nụ cười của chị H. Bù lại anh có bài thơ Tạm biệt Huế cực kì nổi tiếng. Nhiều người bảo bài thơ đó Thu Bồn  viết tặng cô Châu, một người đẹp Huế. Không phải. Có thể Thu Bồn chép tặng cô Châu bài thơ Tạm biệt Huế nhưng bài này được ra đời sau vụ ái tình thất bại thảm hại của anh.  Giống Trịnh Công Sơn, những bài hát  tình hay nhất của anh Sơn đều là kết quả những mối tình đắng cay phần nhiều là thất bại; Thu Bồn chỉ có thơ hay với cô nào làm cho anh đau khổ. Yêu đương dễ dàng quá Thu Bồn chẳng có thơ, hoặc thơ cực dở.

(Nguyễn Quang Lập - quechoablog.wordpress.com)

Xuân An đã phổ nhạc bài thơ. Mời nghe Bảo Yến ca



Vài nét về nhà thơ Thu Bồn

Thu Bồn tên thật là Hà Đức Trọng sinh năm 1935 tại Quảng Nam. đi bộ đội từ năm 12 tuổi, ban đầu là liên lạc, sau là lính xung kích, pháo ... Rồi làm phóng viên chiến trường ở Liên khu 5, sau đó về làm ở Tạp chí Văn Nghệ. Ông mất năm 2003

Ông được biết đến nhiều với trường ca Bài ca chim Chơ Rao (1962). Trích một đoạn:


"Xưa kia tráng sĩ hề da ngựa
Ta nay uống cạn mấy rừng mưa
Độc huyền tráng sĩ xưa ca cẩm
Ta ôm xích đạo gãy vòng cung
Môi hôn ngọn gió thơm hoa trái
Núi cũng chiều ta đứng trập trùng.
Ta cũng không ham chi nghiệp lớn.
Bồ đào không có chẳng giai nhân
Cửa nhà thông thốc muôn phương gió
Túi rỗng nhiều phen bạn đỡ đần
Bơi qua biển lửa ta về lại.
Gọi Thái Bình Dương đến dạo đàn.
Những cung xưa cũ lời em hát.
Còn cháy lòng ta lửa thử vàng...
Ta như con dế nằm trên cỏ
Đợi uống từng đêm giọt ngọc sương
Châu báu trọn đời con dâng mẹ
Là trái tim đau lấm bụi đường
...”.


Nguồn các bài thơ: cop lại từ thivien.net, hình : net


21/3/14

Được yêu như thể ca dao . Secret Garden

1

"Tôi vẫn thích những bài thơ nho nhỏ, những câu lục bát bình dị, còn những bài thơ thế sự mang đậm cái tình cảm, tinh thần công dân có một tiếng nói với đất nước vào cái thời mà mình sống. Tôi nghĩ là nó ở trong những cơn bực dọc, phẫn nộ, bất bình, cáu kỉnh... mà mình lớn lối đại ngôn. Nó giống như là quát lên, la lên, bức xúc... Chứ còn thật tình là tôi không muốn làm những bài thơ như vậy. "

Ta đã đọc khá nhiều thơ về thời cuộc, đất nước .. của Nguyễn Duy. Những bài thơ mà ông gọi là thơ hạng nặng. Hôm nay mời đọc vài bài thơ nhẹ nhàng của ông cho vui.

18/3/14

Nghe tắc kè kêu trong thành phố

Mấy hôm nay đọc thấy nhắc nhiều đến vụ Tàu đánh chiếm đảo Gạc ma (14/3/1988), rồi Crimea đòi tách khỏi Ukraina để sáp nhập vào Nga ..  Chợt nhớ đến mấy bài thơ viết về chiến tranh của Nguyễn Duy.

1.

Nghe tắc kè kêu trong thành phố



(click) đọc thơ

Tắc kè...
tắc kè...
tôi giật mình
nghe
trên cành me góc đường Công Lý cũ
cái âm thanh của rừng lạc về thành phố
con tắc kè
sao mày ở đây?

Sáng ra nhìn soi mói mỗi cành cây
chả thấy con tắc kè đâu cả
khi chùm đèn thuỷ ngân xanh lên trong vòm lá
tắc kè kêu như tiếng vọng về

Chợt hiện về, thăm thẳm núi non kia
dưới lá là hầm, là tăng, là võng
là cơn sốt rét rừng vàng bủng
là muỗi, vắt, bom, mìn, vực sâu, đèo trơn...

Những đoàn quân đi xuyên Trường Sơn
ngủ ôm súng suốt một thời tuổi trẻ
đêm trăn trở đố nhau:
bao giờ về thành phố?
con tắc kè nhanh nhảu nói: sắp về!

Sắp về!...
sắp về!...
người bạn tôi rung võng cười khoái trá
ấy là lúc những cánh rừng trút lá
mùa khô năm một nghìn chín trăm bảy tư

Ăn tết rừng xong
từ giã chú tắc kè
chúng tôi xuôi - ào ào cơn lũ đổ
các binh đoàn tràn vào thành phố
đang mùa thay lá những hàng me

Lá me vàng lăn tăn trải thảm phố hè
chồi xanh lăn tăn nơi đầu cành run rẩy
cơn gió thoảng chút hương rừng đâu đấy
hạt mưa đầu mùa trong suốt giữa lòng tay

Người bạn tôi không về tới nơi này
anh gục ngã bên kia cầu xa lộ
anh nằm lại trước cửa vào thành phố
giây phút cuối cùng chấm dứt cuộc chiến tranh

Đồng đội, bao người không "về tới" như anh
nằm lại Cầu Bông, Đồng Dù, và xa nữa...
tất cả họ, suốt một thời máu lửa
đều ước ao thật giản dị:
sắp về!

Qua hai mùa thay lá những hàng me
cái tết hoà bình thứ ba đã tới
chao ôi nhớ tết rừng không hương khói
đốt nhang lên
chợt hiện tiếng tắc kè

Tôi giật mình
nghe
có ai nói ở cành me:
sắp về!
...

tp. Hồ Chí Minh, Tết Mậu Ngọ, 1978
Nguồn: thivien.net


2.
Bài thơ trên viết vào Tết Mậu Ngọ 1978. Khoảng một năm sau, tháng 3/1979 Trung quốc xua quân đánh phá các tỉnh biên giới phía Bắc. Mười năm sau, 1989 Nguyễn Duy viết bài thơ Lạng Sơn 1989. Nguyễn Duy kể lại hoàn cảnh ra đơi bài thơ:

Năm 1979 biên giới Lạnh Sơn có chiến tranh, tôi có mặt ở đó từ những ngày đầu tiên và một trong những người rút lui cuối cùng khỏi mặt trận Lạng Sơn. Rồi đến năm 1989, kỷ niệm 10 chiến thắng biên giới tôi được mới trở về dự lễ kỷ niệm ấy. Lúc đó tôi thấy trên đống gạch đổ nát ngày xưa đã mọc lên những quán xá, người Việt người Hoa ngồi uống rượu nhậu nhoẹt với nhau rất là vui, hàng nông thồ sản được gùi sang Trung Quốc, rồi bia Vạn Lực từ Trung Quốc lại được gùi qua bên này. Lúc đó tôi chạnh nghĩ giá 10 năm trước đừng có đánh nhau, mà cứ nhậu nhoẹt như thế này thì có khi cuộc đời hay hơn. Tôi cứ tiếc mãi. Hồi đó tôi có làm một bài thơ là Lạng Sơn 1989, tặng một cô giáo ở trường Đông Kinh Phố, trong tổ giáo viên chốt trụ lại trường khi xảy ra chiến tranh và khi chúng tôi rút lui thì cũng họ rút về xuôi. Tôi hình dung cái cuộc đánh nhau năm 1979 là cuộc đánh nhau của hai anh A.Q và Chí Phèo, mà rồi cuối cùng chả anh nào thắng cả, anh nào cũng thua.

Lạng Sơn 1989
(Tặng một người dưng)

Ta về thăm chiến trường xưa
Em - hoa đào muộn Kỳ Lừa mùa xuân
gió đi để lại mưa dầm
người đi để buốt dấu chân trên đường
Đồng Đăng... Aỉ Khẩu... Bằng Tường...
chợ trời bán bán buôn buôn tít mù
ta đầy một bị ưu tư
giá như cũng bán được như bán hàng
Trớ trêu nỗi Hữu Nghị Quan
giá như máu chẳng luênh loang mặt đèo
A Qui túm tóc Chí Phèo
để hai bác lính nhà nghèo cùng thua
Nỗi Tô Thị xót xa chưa
giá như đừng biết ngày xưa làm gì
giá như đá chả vô tri
để ta hỏi lối trở về thiên nhiên
Giá như ta chớ gặp em
để không mắc nợ cái duyên Kỳ Cùng
giá như em đã có chồng
để bòng bong khỏi rối lòng người dưng.


3.
Cũng năm 1989, Nguyễn Duy có mặt trong đợt rút quân cuối cùng của bộ đội VN khỏi Campuchia. "Tôi nhìn những người dân Campuchia đen đúa, đói khổ và nghĩ: Sau khi bộ đội Việt Nam rút đi, quân của Polpot, Hunsen, Ranahdit... phe này phe kia đánh nhau lung tung beng cả lên thì những người dân đói khổ kia sẽ ra làm sao? Tự nhiên tôi thấy xót lắm. Cái lúc mà mình ở trong một cuộc chiến tranh mình không cảm thấy hết, bằng khi mình đứng ở ngoài nhìn vào cuộc chiến tranh của một dân tộc khác." Và ông viết

Đá ơi

Ta mặc niệm trước Ăng-co đổ nát
đá cũng tàn hoang huống chi là kiếp người
Đá ơi
xin tạc lại đây lời cầu chúc hoà bình!
Nghĩ cho cùng
Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại...





13/9/13

Nguyễn Duy - Nhìn từ xa .. Tổ Quốc

Nguyễn Duy có một số bài thơ ông gọi là "thơ hạng nặng". Đấy là những bài thơ đậm chất thời cuộc, thể hiện rõ những day dứt, bức xúc của ông trước những vấn đề xã hội. Những bài thơ ông  phải viết ra dù "thật tình là tôi không muốn làm" vì mỗi bài ông phải mất vài năm trăn trở sắp ý xếp lời, và khi viết ra thì bị đủ thứ phiền hà ..

Nguyễn Duy - Thơ tặng người ăn mày

nhà thơ Nguyễn Duy
qua nét bút Trịnh Công Sơn
Hồi hôm trời mưa, ngồi nghe Đoàn Chuẩn Từ Linh chọn nhạc cho entry sắp post, vừa lang thang lướt net. Vào facebook thấy link này Xả súng kinh hoàng tại UBND TP Thái Bình: Bắn bốn cán bộ rồi tự sát  tự dưng hết muốn nghe nhạc, tìm đọc lại bài Thơ tặng người ăn mày của Nguyễn Duy.

Bài thơ nguyên có tên Nhà Thơ và Người Ăn Mày, sau đem in mới đổi lại tên thành Thơ Tặng Người Ăn Mày. Hãy nghe Nguyễn Duy kể lại hoàn cảnh ra đời của bài thơ

25/8/13

Nguyễn Duy

nhà thơ Nguyễn Duy - tranh mục tàu của Ba Tỉnh
Nguyễn Duy tên thật Nguyễn Duy Nhuệ, sinh 1948, người Thanh Hóa.
Nhập ngũ 1966 làm lính thông tin, tham gia các chiến trường Đường 9, Khe Sanh, Nam Lào .. Sau khi giải ngũ, ông làm trưởng đại diện Tuần báo văn Nghệ ở phía Nam.
Từng đoạt giải nhất Thơ báo văn Nghệ (1973), Giải thưởng nhà nước về VHNT (2007).
Đã xuất bản hơn 10 tác phẩm gồm thơ, kịch thơ, tiểu thuyết, bút ký; nhưng chủ yếu vẫn là thơ.

Từ lâu thơ Nguyễn Duy đã được đưa vào sách giáo khoa phổ thông, và là một trong số ít tác giả có thơ được học ở cả ba cấp - cấp I với Tre Việt Nam, cấp II với Ánh Trăng và cấp III với Đò Lèn ..
Mùa Vu Lan, mời nghe một bài thơ về mẹ của Nguyễn Duy qua giọng ngâm Trần Thị Tuyết, với bình luận của nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn