Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Đình Chương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Đình Chương. Hiển thị tất cả bài đăng

3/9/19

khi cuộc tình đã chết


Khi cuộc tình đã chết
Còn lời nào cho vui ..



Nghe nhan đề bài hát, lại nhớ câu trong kịch Hamlet của Shakespeare: Oh love, oh life. Not life, but love in death. Ôi tình yêu ôi cuộc sống. Ko. Ko phải cuộc sống, mà là tình yêu trong cõi chết. Ca từ bài hát trích trong bài thơ của Du Tử Lê có nhan đề Lúc người chết.

LÚC NGƯỜI CHẾT

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy bóng tối
một hồn đầy hương phai
một hồn đầy gió nổi

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy mắt đỏ
mưa nối liền vai người
buồn nối liền thân tôi
tình nối liền nỗi chết

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy bão rớt
một hồn đầy điên mê
một hồn đầy mộ địa

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy môi người
một hồn đầy tóc rối
một hồn đầy máu tươi
một hồn đầy tay siết
một hồn đầy ngực thơm
chân đưa lời cáo biệt

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy côn trùng
một hồn đầy tháp chuông
ngân nga lời báo tử.

hãy mang đi hồn tôi
khi cuộc tình đã chết
còn lời nào cho vui
còn mắt nào cho tủi

hãy mang đi hồn tôi
một hồn đầy trái rụng
đời đã đời chia đôi
tình đã tình khốn nhục

trước khi người phải chết
nhớ một lần đêm nay
mưa đắp mềm vai người
buồn đắp mềm thân tôi
quanh ta đời đã lụn

(10-70)

Trước đó ông cũng có một bài thơ viết về cái chết

KHI NGƯỜI CHẾT TRẺ

Khi kẻ tử trận tuổi chưa ngoài hai mươi mốt
hắn sẽ mang những gì về thế giới bên kia
cây súng nặng hai tay cầm chẳng xuể
lựu đạn thừa không lẽ tặng mẹ cha
hạnh phúc chưa bao giờ bốc đầy vốc tay chim sẻ
tình yêu cũng không ngoài trí tưởng vu vơ

hắn tự hỏi bây giờ vì sao hắn chết
chân lý thường chỉ hiện một lần
ở phút lâm chung

hắn chợt nhớ thì ra mình còn quá trẻ
chết, khi không, chết chả làm gì
nhưng quá muộn đã ngang tầm vĩnh biệt
hơi thở cuối cùng là ân thưởng mang theo

hồn đã đi nhưng mắt còn ngoái lại
nhìn vết chân mình
lắm kẻ đang theo

1967
Du Tử Lê

Hơn nửa thế kỉ qua, ngồi đọc lại bài thơ, thấm hết nỗi buồn chiến tranh. chết, khi không, chết chả làm gì. Bên thắng cuộc hay bên thua cuộc cũng vậy thôi, những người chết, khi không, chết chả làm gì. Nỗi đau họ để lại cho người thân yêu cũng đã nguôi ngoai, còn chăng chỉ là một thoáng kí ức mong manh.
Những năm cuối 196x là những năm chiến tranh khốc liệt. Người thành phố lần đầu thấy xác chết nằm vương vãi trên đường phố, bên hè nhà, của cả hai bên. Và người ta bỗng dưng ngẫm ngợi nhiều về cuộc sống, về cái chết, về tình yêu, về thân phận ..
Khi kẻ tử trận tuổi chưa ngoài hai mươi mốt / hắn sẽ mang những gì về thế giới bên kia.
Ý thơ này sẽ được Du Tử Lê nhắc lại trong bài thơ Khúc Thụy Du viết một năm sau đó (1968), được Anh Bằng phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Nghe lại bài hát Khi cuộc tình đã chết qua tiếng hát Quỳnh Giao


9/3/19

Mộng dưới hoa . Phạm Đình Chương

[Bài từ 27/11/14. Post lại, nghe Tự Tình Dưới Hoa]

Hôm trước đã có dịp nghe Bảo Cường ngâm bài thơ Tự Tình Dưới Hoa của Đinh Hùng. Hôm nay mời nghe Hồng Vân ngâm lại bài thơ theo điệu hò Huế

Tự tình dưới hoa - Hồng Vân ngâm


Tự Tình Dưới Hoa

I' ll  wait for you. tranh Volegov (2013)
Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng,
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,
Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng.

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,
Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?
Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,
Nửa như hoài vọng, nửa như say.

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ,
Hương ngàn gió núi động hàng mi.
Tâm tư khép mở đôi tà áo,
Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi.

Em muốn đôi ta mộng chốn nào?
Ước nguyền đã có gác trăng sao
Truyện tâm tình: dưới hoa thiên lý,
Còn lối bâng khuâng: Ngõ trúc đào

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,
Nắng trong hoa với gió bên hồ
Dành riêng em đấy. Khi tình tự,
Ta sẽ đi về những cảnh xưa

Rồi buổi ưu sầu, em với tôi
Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời
Vai kề một mái thơ phong nguyệt
Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười


Như ta biết, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã dựa vào bài này, cùng bài Suôi Dòng Mộng Ảo (sic), cả hai bài đều nằm trong tập Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng, để soạn lời cho bản nhạc Mộng Dưới Hoa. Mời nghe Vũ Khanh ca. [link VK đã bị block. Thay bằng Tuấn Ngọc. 8/3/2019]



*

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh ngày 14/11/1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Về nhạc ông tự học theo sách vở là chính, bắt đầu tập tành sáng tác năm 1947, lúc mới 18 tuổi, nhưng nhạc của ông vẫn thường được xếp vào dòng nhạc tiền chiến do phong cách trữ tình lãng mạn. 

Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng với anh chị em trong nhà Phạm Đình Viêm, Thái Hằng, Thái Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV, rồi lập ban hợp ca Thăng Long. trong đó Phạm Đình Chương vừa viết nhạc, vừa là ca sĩ với nghệ danh Hoài Bắc, còn Phạm Đình Viêm là Hoài Trung. Năm 1951, ông cùng ban Thăng Long chuyển vào Saigon. Sau 1975 ông qua định cư ở Mỹ, mất năm 1991.

Phạm Đình Chương sáng tác không nhiều, khoảng chưa tới 100 bản nhạc, nhưng có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng: Tiếng dân chài, Hội trùng dương, Ly rượu mừng, .. đặc biệt ông được coi là một trong vài nhạc sĩ có biệt tài phổ nhạc cho thơ Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê) ...


Năm 1991, ngay sau khi ông mất, Thụy Khuê đã thực hiện một chương trình tưởng niệm trên đài RFI. Mời nghe

Phần 1 (1/9/1991)


Phần 2 (8/9/1991)


nguồn audio: thuykhue.free.fr

Chú: Trước có cuốn Đường Vào Tình Sử của ĐH, giờ thất lạc nên ko check lại tên bài thơ là Suôi dòng mộng ảo hay Xuôi .. Nhớ là Suôi (sic). Trên mạng thì có cả hai.

7/3/19

Hội trùng dương

"Đỉnh cao nhạc thuật của ông được thời gian đánh giá, ghi nhận, qua trường ca bất tử Hội Trùng Dương, và ca khúc Ly rượu mừng. "

Du Tử Lê đánh giá, và chắc nhiều người khác cũng đồng ý với ông. Hôm tết nghe Li rượu mừng rồi. Hôm nay nghe lại bản trường ca tuyệt vời này.



Ca khúc “Ly rượu mừng” phẩm-vật-tinh-thần trong truyền thống Tết Việt Nam

Đề cập tới sự nghiệp âm nhạc giá trị của cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương, nếu chỉ nói tới khía cạnh thơ phổ nhạc (dù cho ông được ghi nhận như một thiên tài) mà không đề cập tới những lãnh vực khác, tôi cho là một thiếu sót không thể tha thứ. Vì từ ngày bắt đầu sáng tác, ở tuổi 17, tới ngày từ trần, ở tuổi 62, cuộc trường chinh âm nhạc của họ Phạm là, những ngọn cờ đã cắm được trên nhiều đỉnh cao nghệ thuật.

Khởi đầu với những ca khúc lấp lánh tin yêu lồng ngực tuổi trẻ, Phạm Đình Chương đi lần tới những ca khúc mang nhiều tính hiện thực, như “Tiếng dân chài,” “Được mùa,” hoặc đất nước, ca dao như “Anh đi chiến dịch,” “Lá thư người chiến sĩ,” “Khúc giao duyên,” “Mười thương”… Và, dĩ nhiên, tình ca, một đỉnh ngọn cao ngất khác của ông.

Dù ở núi non âm nhạc nào, ca từ Phạm Đình Chương cũng đều thấm đẫm thi tính. Ngay tự những ca khúc thời khởi đầu sự nghiệp, khi chỉ mới 17, 18 tuổi, người ta đã thấy ông như một thi sĩ, viết lời cho ca khúc của mình.

Thí dụ: “Bình minh xuyên qua khe núi (ú u ú u) / Nguồn vui leo tia nắng đây rồi / đem hơi ấm cho đời / trẻ như đôi mươi.” (Sáng rừng) Hay: “Có suối uốn thân ven chân núi ngân / hòa câu sơn nữ hát mong tình quân” (Đất Lành)…

Sau này, chúng ta có: “Em ơi đừng khóc sầu chia ly / vì lệ tuôn rơi làm héo xuân thì / dù đêm sâu như hồn chúng mình” (Đêm cuối cùng). Hay: “Ai chia tay ai đầu xóm vắng im lìm / Ai rung lên tia mắt ngàn câu êm đềm / Mong sao cho duyên nghèo mai nắng reo thềm / Đẹp kiếp sống thêm” (Xóm đêm). Hoặc nữa: “Chiều nay nước xuôi dòng đại dương có em tên sông Hồng dâng sóng tuôn trên nguồn. Vẩn vơ nắng quái vươn trên phù sa có những cô thôn mờ xa đón bầy dân đánh cá.” (Hội Trùng Dương / Tiếng sông Hồng). Hay: “Miền Trung vọng tiếng, em xinh em bé tên là Hương giang, đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than. Hò ơi, phiên Đông Ba buồn qua cửa chợ, bến Vân Lâu thuyền vó đơm sâu.” (Hội Trùng Dương / Tiếng sông Hương) v.v…

Riêng với ca khúc “Xóm đêm,” tôi nghĩ, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương không chỉ hiển lộng bản chất thi sĩ, ông còn cho thấy khía cạnh nhà văn, hiểu theo nghĩa quan sát, ghi nhận một cách nhậy bén những chi tiết mà người bình thường (thậm chí một nhà văn tầm tầm…) khó thể nhận ra.

Nói chung, “Xóm đêm” như tên gọi, vốn là cảnh đìu hiu của một khu lao động. Ở điểm này, Phạm Đình Chương không phải là nhạc sĩ duy nhất viết về sự nghèo khó hay, khốn khổ của giai tầng lao động. Trước và sau ông, có nhiều nhạc sĩ đã, vẫn và sẽ còn khai thác đề tài ấy.

Tuy nhiên, dù cho đó là những ca khúc viết về đời nghèo, kiếp nghèo, số hoặc phận nghèo thì, đa số ca từ của những ca khúc này, thường rơi vào một trong hai trường hợp: Hoặc thậm xưng tức, cực tả cảnh nghèo. Hoặc thô thiển với những hình ảnh, ghi nhận hời hợt. Có thể, do nơi các tác giả kia, chỉ đề cập tới cái nghèo như một phông, nền cho chủ tâm khác. Nên chúng dễ mang tính trừu tượng, lãng mạn, chứ không phản ảnh một nét thực trạng nào của cảnh đời.

Căn bản ca khúc “Xóm đêm” là một tình ca, một tình ca xiển dương thương yêu (hay tin yêu), nơi bản chất thiện lương của con người dù ở hoàn cảnh nào, y cứ trên tính chung thủy – – Nhưng, nghe kỹ, trong “Xóm đêm” của họ Phạm có một cụm từ, chỉ 5 chữ thôi, ông đã vẽ lại (bằng ca từ và nốt nhạc) một trong những nét tiêu biểu nhất của sinh hoạt xóm nghèo. Đó là câu “Hắt hiu vàng ánh điện câu,” nằm trong đoạn nhạc mở đầu: “Đường về canh thâu / đêm khuya ngõ sâu như không màu / qua phên vênh có bao mái đầu / hắt hiu vàng ánh điện câu…”

Ở cụm từ “qua phên vênh,” chữ “vênh” là chữ “đắt” nhất – – Nó không chỉ mang tính tượng hình (vật chất) mà, nhờ sự vênh = cong, hé mở, chúng ta được dẫn tới hình ảnh kế tiếp: “có bao nhiêu mái đầu” (con người) – – Một hình thức ảnh-dẫn hay thông-ngữ  – – (Chữ dùng trong lãnh vực thi ca về phương diện kỹ thuật) – – Cho thấy họ Phạm đã là một diệu-thủ. Mặc dù, tôi không loại bỏ trường hợp khi viết xuống, tác giả không hề có chủ tâm như tôi vừa trình bày.

Trường hợp này, chúng ta vẫn có thể dùng một trong những định nghĩa về thiên tài: Người tình cờ “bắt được” những điều mang ý nghĩa to lớn hay đơn giản, nhỏ bé mà, người khác không “bắt được!”

Nhưng khi chuyển từ ngữ-cảnh “qua phên vênh có bao mái đầu” tới “hắt hiu vàng ánh điện câu,” theo tôi, cả một thực tại xóm nghèo, đã được họ Phạm ghi khắc bằng những nhát búa cuối cùng, hoàn tất bức tượng ba chiều của cảnh đời hiu hắt này.

Ở đây, tôi xin mở một dấu ngoặc, để bạn đọc sinh trưởng ngoài Việt Nam hiểu rằng, tại những nước chậm tiến (như Việt Nam, nhất là những xóm nghèo), không phải ai cũng có được cho gia đình mình một đường giây điện riêng. Muốn có điện dùng, người nghèo phải dùng giây câu điện từ những nhà có đường giây điện chính. Vì thế, dòng điện trở nên quá yếu. Những ngọn đèn vẫn sáng lên, nhưng nó cũng chỉ có thể cho những gia đình này, một thứ ánh sáng yếu ớt, vàng vọt!…

Tuy nhiên, tài hoa của cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương không dừng ở “Xóm đêm.” Đỉnh cao nhạc thuật của ông được thời gian đánh giá, ghi nhận, qua trường ca bất tử “Hội Trùng Dương,” và ca khúc “Ly rượu mừng.”

Với tôi, trường ca “Hội Trùng Dương” của Phạm Đình Chương là bức tranh toàn cảnh Việt Nam nghìn đời, với tất cả nét đẹp của phong tục, tập quán, truyền thống dùm bọc, thương yêu…được ông mượn hình ảnh 3 con sông của ba miền, chảy trôi trên nền dân ca từng phần đất nước; trước khi chúng nắm tay nhau, cùng chảy ra biển lớn.

Vẫn theo cảm nhận của tôi thì, trường ca “Hội Trùng Dương” của Phạm Đình Chương còn tàng-ẩn ý nghĩa hợp nhất, chấm dứt cuộc phân ly, đoạn bào theo huyền sử trăm con của Việt tộc, với 50 con lên núi, 50 con xuống biển nữa. Phải chăng, đó là tính vĩ đại của trường ca này?

Dù vậy, cũng ở trường ca vừa kể, tôi biết có người đã đặt vấn đề:

-Nơi đoạn thứ hai “Tiếng sông Hương” của trường ca, có câu: “Ngày vui tan đao binh, mẹ bồng con sơ sinh, chiều đầu xóm, xôn xao đón người trường chinh,” là một khuyết điểm lớn, không thể chấp nhận được! Số người này lý luận rằng, khi tác giả tả người chồng đi lính lâu năm (trường chinh), người vợ ở nhà, thủy chung chờ chồng thì, không thể có con mới đẻ (sơ sinh). Trừ phi…ngoại tình!

Tới giờ, tôi vẫn còn kinh ngạc trước cái gọi là “khám phá” người phát ngôn kia! Họ đã không phân biệt được hiện thực trong văn nghệ, không hề là hiện thực trong đời thường!

Theo tôi, một sự thực trăm phần trăm trong đời thường, khi được thi sĩ, nhạc sĩ… mang vào văn bản, sáng tác của họ, lập tức, nó không còn là sự thực “nguyên mẫu.” Nó đã bị khúc xạ. Tôi muốn gọi đó là sự-thực-khúc-xạ. Cách khác, chúng ta luôn có nhiều hơn một sự thật. Nhất là với văn học, nghệ thuật, Huống hồ chi, hình ảnh người vợ bồng con sơ sinh, đón chồng chinh chiến trở về, trong trường ca “Hội Trùng Dương” chỉ có tính biểu tượng (symbolization). Một biểu tượng đoàn viên. Gia đình. Hạnh phúc.

Tôi không nghĩ, một người có trình độ hiểu biết trung bình nào, lại đi tìm tính xác thực trong “Chinh phụ ngâm khúc,” hay “Đoạn trường tân thanh”… Tôi cũng không nghĩ, một người chưa mất trí nào, lại đi đo đếm độ chân xác trong “Thơ say” của Vũ Hoàng Chương, “Lửa thiêng” của Huy Cận, “Mê hồn ca” của Đinh Hùng, hoặc “Hòn vọng phu” của Lê Thương…

Trở lại ca khúc “Ly rượu mừng” ở tỷ lệ (scale) nhỏ hơn, ca khúc này theo tôi, đã như một phẩm-vật-tinh-thần dâng cúng tổ tiên mỗi độ Xuân về. Vẫn theo tôi, đó là “ly rượu” đất nước gấm hoa, “ly rượu” tổ quốc độc lập, “ly rượu” ước mơ quê hương muôn đời thanh bình, được chia đều cho “anh nông phu,” “người thương gia,” “người công nhân,” qua tới “người chiến sĩ,” “bà mẹ già,” “đôi uyên ương” “người nghệ sĩ”…Một phân chia bình đẳng, đồng đều cho mọi tầng lớp. Tôi muốn nhấn mạnh thêm, người ta có thể tìm thấy đặc tính phân biệt giai cấp ở nhiều dân tộc, nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng Việt Nam thì không.

Nếu nhớ lại câu ca dao “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ,” ta sẽ thấy mọi cố tình phân chia giai cấp trong xã hội Việt Nam, là một áp đặt kiên cưỡng, trá ngụy theo mô hình xã hội tây phương. Và, người chỉ ra sự cưỡng chế vừa kể, chính là Phạm Đình Chương, tác giả “Ly rượu mừng” vậy.

Với thời gian, một số tục lệ đón mừng Nguyên Đán của chúng ta, có thể đã hay sẽ phải thay đổi. Như chúng ta đang bỏ dần tục “xông đất” đầu năm. Như nhiều gia đình người Việt ở hải ngoại, vì lý do gia cư, đã bắt đầu “thắp” những nén nhang điện (không mùi hương); đốt những giây pháo điện (không xác pháo)…Nhưng, ca khúc “Ly rượu mừng” tôi tin, sẽ còn, mãi còn như một phẩm-vật-tinh-thần không thể thiếu của tập thể ta, mỗi mùa xuân về.

Bởi vì, đó là “ly rượu… mừng!” Ly rượu tâm thức. Chúng ta không chỉ cùng nhau nâng cao ly rượu ấy, những dịp mừng Xuân – – Mà, chúng ta còn có thể chia nhau ly rượu tâm thức này, bất cứ lúc nào; khi hoan lạc mỉm cười với chúng ta.

Rất mong, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương, ở đâu đó trong cõi vô hình, hiểu rằng, chúng tôi đã tiếp nhận một ca khúc của ông, như thế!

Du Tử Lê
(May 9-2011)
Nguồn: dutule.com

Nghe lại với Thái Thanh và ban nhạc Thăng Long



2/3/19

Xóm đêm




Riêng với ca khúc “Xóm đêm,” tôi nghĩ, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương không chỉ hiển lộng bản chất thi sĩ, ông còn cho thấy khía cạnh nhà văn, hiểu theo nghĩa quan sát, ghi nhận một cách nhậy bén những chi tiết mà người bình thường (thậm chí một nhà văn tầm tầm…) khó thể nhận ra.

Nói chung, “Xóm đêm” như tên gọi, vốn là cảnh đìu hiu của một khu lao động. Ở điểm này, Phạm Đình Chương không phải là nhạc sĩ duy nhất viết về sự nghèo khó hay, khốn khổ của giai tầng lao động. Trước và sau ông, có nhiều nhạc sĩ đã, vẫn và sẽ còn khai thác đề tài ấy.

Tuy nhiên, dù cho đó là những ca khúc viết về đời nghèo, kiếp nghèo, số hoặc phận nghèo thì, đa số ca từ của những ca khúc này, thường rơi vào một trong hai trường hợp: Hoặc thậm xưng tức, cực tả cảnh nghèo. Hoặc thô thiển với những hình ảnh, ghi nhận hời hợt. Có thể, do nơi các tác giả kia, chỉ đề cập tới cái nghèo như một phông, nền cho chủ tâm khác. Nên chúng dễ mang tính trừu tượng, lãng mạn, chứ không phản ảnh một nét thực trạng nào của cảnh đời.

Căn bản ca khúc “Xóm đêm” là một tình ca, một tình ca xiển dương thương yêu (hay tin yêu), nơi bản chất thiện lương của con người dù ở hoàn cảnh nào, y cứ trên tính chung thủy – – Nhưng, nghe kỹ, trong “Xóm đêm” của họ Phạm có một cụm từ, chỉ 5 chữ thôi, ông đã vẽ lại (bằng ca từ và nốt nhạc) một trong những nét tiêu biểu nhất của sinh hoạt xóm nghèo. Đó là câu “Hắt hiu vàng ánh điện câu,” nằm trong đoạn nhạc mở đầu: “Đường về canh thâu / đêm khuya ngõ sâu như không màu / qua phên vênh có bao mái đầu / hắt hiu vàng ánh điện câu…”

Ở cụm từ “qua phên vênh,” chữ “vênh” là chữ “đắt” nhất – – Nó không chỉ mang tính tượng hình (vật chất) mà, nhờ sự vênh = cong, hé mở, chúng ta được dẫn tới hình ảnh kế tiếp: “có bao nhiêu mái đầu” (con người) – – Một hình thức ảnh-dẫn hay thông-ngữ  – – (Chữ dùng trong lãnh vực thi ca về phương diện kỹ thuật) – – Cho thấy họ Phạm đã là một diệu-thủ. Mặc dù, tôi không loại bỏ trường hợp khi viết xuống, tác giả không hề có chủ tâm như tôi vừa trình bày.

Trường hợp này, chúng ta vẫn có thể dùng một trong những định nghĩa về thiên tài: Người tình cờ “bắt được” những điều mang ý nghĩa to lớn hay đơn giản, nhỏ bé mà, người khác không “bắt được!”

Nhưng khi chuyển từ ngữ-cảnh “qua phên vênh có bao mái đầu” tới “hắt hiu vàng ánh điện câu,” theo tôi, cả một thực tại xóm nghèo, đã được họ Phạm ghi khắc bằng những nhát búa cuối cùng, hoàn tất bức tượng ba chiều của cảnh đời hiu hắt này.

Ở đây, tôi xin mở một dấu ngoặc, để bạn đọc sinh trưởng ngoài Việt Nam hiểu rằng, tại những nước chậm tiến (như Việt Nam, nhất là những xóm nghèo), không phải ai cũng có được cho gia đình mình một đường giây điện riêng. Muốn có điện dùng, người nghèo phải dùng giây câu điện từ những nhà có đường giây điện chính. Vì thế, dòng điện trở nên quá yếu. Những ngọn đèn vẫn sáng lên, nhưng nó cũng chỉ có thể cho những gia đình này, một thứ ánh sáng yếu ớt, vàng vọt!…

Du Tử Lê (trích bài viết)


Ảnh mạng. Cô gái nghèo trong một xóm đêm


20/10/16

SNTN 17. Phạm Ðình Chương, Quê Hương Là Người Ðó


Phạm Đình Chương (1929 – 1991)
Ðối với người Việt ở trong nước, Phạm Ðình Chương có thể là tên tuổi lạ vì đa số hiện nay sinh sau 1975 nên còn quá trẻ để biết, để nghe và để yêu nhạc Phạm Ðình Chương.

Nhưng, nói tới nhạc tình của quê hương mà không nhắc tới Phạm Ðình Chương thì là một thiếu sót lớn. Ông sinh vào mùa Thu năm 1929 trên đất Bắc, và dưới tên Hoài Bắc đã là một trong những giọng ca nam điêu luyện nhất của Việt Nam trong những thập niên 50-70. Nhưng, tiếng hát Hoài Bắc đã hy sinh cho sự lẫy lừng của ban hợp ca Thăng Long, mà ông là linh hồn, là con chim đầu đàn và người hòa âm tuyệt vời, dưới tên Phạm Ðình Chương.

Thật không phải là quá đáng nếu nói rằng Saigon trước 75 đã chẳng có phong thái văn nghệ rất phong lưu nếu không có ly rượu Hoài Bắc và tiếng nhạc Phạm Ðình Chương. Có lẽ vì vậy mà cho đến nay, các nhạc khúc của ông vẫn chưa được khôi phục đúng ngôi vị ở trong nước, và đây là một thiệt thòi lớn cho mọi người chúng ta.

Ông đã mất năm 91, và ở nơi chốn ông đang tạm dung, có lẽ Phạm Ðình Chương vẫn phóng dật với âm nhạc và bằng hữu, trong sự đầm ấm ân cần ở nét cư xử cực kỳ dễ thương, dễ mến...

23/9/16

đêm, nhớ trăng sài gòn


người nay xa xôi người bên kia trời
người nay xa xôi người bên kia đời
chân người có vui, những chiều cuối phố
mắt người có nguôi, những chiều mưa rơi ..

Cũng trong dòng nhạc mà Quỳnh Giao gọi là Khuynh hướng hoài hương, mời nghe thêm ba bài hát Phạm Đình Chương (1929 - 1991) phổ nhạc ba bài thơ của Du Tử Lê. Đây cũng là những tác phẩm cuối cùng của người nhạc sĩ tài danh này.

29/11/14

Người đi qua đời tôi




Bản nhạc của Phạm Đình Chương, lời lấy từ bài thơ của Trần Dạ Từ

Thơ Cũ Của Nàng

Người đi qua đời tôi
Trong những chiều đông sầu
Mưa mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời
Mây mù lên mấy biển

Người đi qua đời tôi
Hồn lưng mùa rét mướt
Đường bay đầy lá mùa
Vàng xưa đầy dấu chân
Lòng vắng như ngày tháng
Đen tối vùng lãng quên

Người đi qua đời tôi
Chiều ầm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương
Tiếng hát nào hơ nóng

Người đi qua đời tôi
Nghe những lời linh hồn
Phi lao dài tiếng ru
Êm ái lòng hối tiếc
Trên lối về nghĩa trang
Trong mộ phần tối đen

Người đi qua đời tôi
Không nhớ gì sao người

Em đi qua đời anh
Không nhớ gì sao em


bìa tập thơ, bản in năm 1971. Hình lấy trên net
Trần Dạ Từ tên thật là Lê Hạ Vĩnh, sinh năm 1940 tại Hải Dương, Một mình vào Nam năm 1954, lúc chỉ mới 14 tuổi. Ban đầu từng đi bán báo kiếm sống, sau đó là làm báo, Ông làm thơ sớm, nhớ ko lầm thì bài thơ trên ông viết từ 1956, khi mới 16 tuổi. Tuổi ấy thơ ấy cũng lạ, là bươn chải đời sớm chăng. Trước 1975 ông đã cho xuất bản 2 tập thơ Thủa làm thơ yêu em (1960) và Tỏ tình trong đêm (1965), Nhưng người ta biết đến ông nhiều hơn trong tư cách là nhà báo. Ông cộng tác với nhiều tờ báo trong vai trò là người tổ chức biên tập. Ông cũng cộng tác làm một số chương trình phát thanh.

Sau 1975 ông bị tù từ 1976 - 1988. Ra tù, được chính phủ Thụy Ðiển bảo trợ qua định cư tại đấy. Đến 1992 sang sinh sống tại quận Cam, Hoa Kỳ, cùng với vợ, nhà văn Nhã Ca, xuất bản tờ Việt Báo. Về sau ông còn soạn nhạc, phổ khá nhiều bài thơ của chính ông.

Nghe lại bài hát với Trần Thái Hòa




- Nghe: Thuở làm thơ yêu em, Cung Tiến phổ nhạc
- Nụ hôn đầu

ref: wikivietlit và dutule.com (Trò chuyện với nhà thơ Trần dạ Từ)


27/11/14

Lệ đá xanh




Theo dõi các sáng tác của Phạm Đình Chương, dễ thấy có hai thời kỳ phân chia rõ rệt. Thời kì đầu là những bản nhạc tươi vui hào hùng hoặc lãng mạn kiểu tiền chiến như Ly Rượu Mừng, Tiếng Dân Chài, Hội Trùng Dương, Mộng Dưới Hoa .. , thời kỳ sau, là những ca khúc buồn rũ người, trong đó Nửa Hồn Thương Đau  là đỉnh cao. Khá nhiều giai thoại thêu dệt xung quanh ca khúc nổi tiếng này. Có người kể sau khi phát hiện vợ mình dan díu với ông anh rể Phạm Duy, dù còn rất yêu vợ nhưng ông cũng phải quyết định ra tòa li dị. Sau đó, một hôm đi phòng trà uống rượu giải khuây, ông gặp người vợ cũ, ca sĩ Khánh Ngọc hat trên sân khấu. Hình như hôm ấy Khánh Ngọc ốm, sắc mặt thẩn thờ. Ông đợi bà hát xong, đến đề nghị đưa bà về, nhưng bà lạnh lùng từ chối. Đấy là một đêm mưa, ông trở về nhà ngồi uống rượu nhìn mưa rơi, trong nỗi đau khôn cùng, ông quyết định tìm đến cái chết. Nhưng khi bưng chén rượu độc định uống thì tiếng khóc của đứa con 4 tuổi nằm cạnh đó vang lên, kéo ông ra khỏi cơn mê, về với trách nhiệm .. Ông ko uống li rượu độc nữa, mà trút lòng mình vào nốt nhạc .. Thật ra, Nửa Hồn Thương Đau là ca khúc ông nhận viết cho bộ phim Chân Trời Tím (1971), bấy giờ đã cách vụ scandal hơn 10 năm, bà Khánh Ngọc cũng đã qua Mỹ từ hồi 1961, và đứa con cũng ko còn 4 tuổi ... 

Ca từ của Nửa Hồn Thương Đau được Phạm Đình Chương dựa trên bài thơ của Thanh Tâm Tuyền:

Lệ Đá Xanh
thơ Thanh Tâm Tuyền

tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
đôi khi anh muốn tin
ngoài trời chỉ còn trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái
đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi


Thanh Tâm Tuyền . tranh Đinh Cường
Thanh Tâm Tuyền (1936 - 2006) tên thật là Dư Văn Tâm, sinh ngày 13/3/1936 tại Vinh, Nghệ An. Ông là nhà thơ nổi tiếng ở Nam trước 1975, được xem là một trong những người mở đầu cho thể thơ tự do ở Việt Nam.

Một số tác phẩm đã xuất bản:

Tôi Không Còn Cô Độc (thơ, 1955)
Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy (thơ, 1964)
Khuôn Mặt (truyện, 1964)
Bếp Lửa (truyện, 1957)
Dọc Đường (truyện, 1966)
Cát Lầy (truyện, 1967)

Sau 1975 ông bị đi cải tạo một thời gian, sau đó qua Mỹ định cư. tiếp tục sáng tác. Ông bệnh mất năm 2006 tại Mỹ. 

Ngoài Lệ Đá Xanh, ông còn một số bài thơ cũng được phổ nhạc: Bài ngợi ca tình yêu, Dạ tâm khúc, Đêm màu hồng, .. Riêng Lệ Đá Xanh cũng được Cung Tiến phổ nhạc, nhan đề Lệ Đá Xanh



Nghe một số sáng tác của Phạm Đình Chương




20/11/14

Tinh khúc Phạm Đình Chương


Nghe một chương trình về nhạc Phạm Đình Chương do Thu Hương thực hiện trên Radio Saigon Dallas




5/9/14

Bài Ngợi Ca Tình Yêu . Phạm Đình Chương


Manhã de canaval được Phạm Duy viết lời Việt với tên Dáng tiên nữ hay Bài ngợi ca tình yêu. Bài ngợi ca tình yêu cũng là tên một bài thơ của Thanh Tâm Tuyền được Phạm Đình Chương phổ nhạc



7/5/13

Đôi mắt người Sơn Tây


Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương?

Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan

Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi có thằng em còn bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây
Cho nhẹ lòng nhớ thương
Em mơ cùng tôi nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ.

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc màu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta?