11/02/2016

Tuệ Sĩ, điệp khúc dương trần


Nghe Trần Quan Long chơi bản nhạc do ông phổ từ hai bài thơ Dạ Khúc và Nhớ Dương Cầm (trong tập Dấu chân Trường Sơn) của Tuệ Sĩ, và đọc tập thơ Những điệp khúc cho dương cầm của vị thiền sư thi sĩ.





NHỮNG ĐIỆP KHÚC CHO DƯƠNG CẦM

1.
Ta nhận chìm thời gian trong khóe mắt
Rồi thời gian ửng đỏ đêm thiêng
Đêm chợt thành mùa đông huyễn hoặc
Cánh chim bạt ngàn từ quãng Vô biên

2
Từ đó ta trở về Thiên giới,
Một màu xanh mù tỏa Vô biên.
Bóng sao đêm dài vời vợi;
Thật hay hư, chiều nhỏ ưu phiền.
Chiều như thế, cung trầm khắc khỏai.
Rát đầu tay nốt nhạc triền miên.
Ôm dấu lặng, nhịp đàn đứt vội.
Anh ở đâu, khói lụa ngoài hiên?

3
Trên dấu thăng
âm đàn chĩu nặng
Khóe môi in dấu hận nghìn trùng
Âm đàn đó
chìm sâu ảo vọng
Nhịp tim ngừng trống trải thời gian
Thời gian ngưng
mặt trời vết bỏng
vẫn thời gian
sợi khói buông chùng
Anh đi mãi
thềm rêu vơi mỏng
Bởi nắng mòn
cỏ dại ven sông

4
Ta bay theo đốm lửa lập lòe
Chập chờn trên hoang mạc mùa hè
Khung trời nghiêng xuống nửa
Bên rèm nhung đôi mắt đỏ hoe
Thăm thẳm chòm sao Chức nữ
Heo hút đường về

5
Chiều tôi về
Em tô màu vàng ố
Màu bụi đường khô quạnh bóng trăng
Đường ngã màu
Bóng trăng vò võ
Em có chờ
Rêu sạm trong đêm?

6
Màu tối mù lan vách đá
Nhớ mênh mông đôi mắt giã từ
Rồi đi biệt
Để hờn trên đỉnh gió
Ta ở đâu?
Cánh mỏng phù du.

7
Chung trà đã lịm khói
Hàng chữ vẫn nối dài
Thế sự chùm hoa dại
Ủ mờ con mắt cay

8
Công Nương bỏ quên chút hờn trên dấu lặng
Chuổi cadence ray rứt ngón tay
Ấn sâu xuống ưu phiền trên phím trắng
Nửa phím cung chõi nhịp lưu đày

9
Đôi mắt cay
phím đen phím trắng
Đen trắng đuổi nhau
thành ảo tượng
Trên tận cùng
điểm lặng tròn xoe
Ta gửi đó
ưu phiền năm tháng

10
Cửa kín, chòm mây cuốn nẻo xa.
Ngu ngơ đếm chữ, mắt hoa nhòa.
Tay buồn vuốt mãi tờ hương rã;
Phảng phất mưa qua mấy cụm nhà.

11
Ve mùa hạ chợt về thành phố
Khóm cây già che nắng hoang lương
Đám bụi trắng cuốn lên đầu ngõ
Trên phím đàn lặng lẽ tàn hương
Tiếng ve dội lăn tăn nốt nhỏ
Khóc mùa hè mà khô cả đại dương

12
Đạo sỹ soi hình bên suối
Quên đâu con mắt giữa đêm
Vội bước gập ghềnh khe núi
Vơi mòn triền đá chân chim

13
Ô hay, giây đàn chợt đứt.
Bóng ma đêm như thật.
Cắn đầu ngón tay giá băng.
Điệp khúc lắng trầm trong mắt.
Rồi phím đàn lơi lỏng;
Chùm âm thanh rời, ngón tay rát bỏng.
Chợt nghe nguyệt quế thoảng hương
Điệp khúc chậm dần theo dấu lặng.

14
Đêm sụp xuống
Bóng dồn một phương
Lạnh toát âm đàn xao động
Trái tim vỗ nhịp dị thường.
Ngoài biên cương
Cây cao chói đỏ
Chiến binh già cổ mộ
Nắng tắt chiến trường
Giọt máu quạnh hơi sương.

15
Một ngày chơi vơi đỉnh thác;
Nghe bồn chồn tiếng gọi hư không.
Giai điệu nhỏ dồn lên đôi mắt.
Mặt hồ im ánh nước chập chờn.
Mặt hồ im, tảng màu man mác.
Ảnh tượng mờ, một chút sương trong.
Quãng im lặng thời gian nặng hạt;
Tôi nghe đời trong tẩu khúc Thiên hoang.

16
Phủi tay kinh nỗi đảo điên
Tôi theo con kiến quanh triền đỉnh hoang

17
Hơi thở ngưng từ đáy biển sâu
Mênh mông sắc ảo dậy muôn màu
Một trời sao nhỏ xoay khung cửa
Khoảnh khắc Thiên hà ánh hỏa châu

18
Tiếng xe đùa qua ngõ
Cành nguyệt quế rùng mình
Hương tan trên dấu lặng
Giai điệu tròn lung linh

19
Bỏng cỏ rơi, giật mình sửng sốt.
Mặt đất rung, Ma Quỷ rộn phương trời.
Chút hơi thở mong manh trên dấu lặng.
Đêm huyền vi, giai điệu không lời.

20
Theo chân kiến
luồn qua cụm cỏ
Bóng âm u
thế giới chập chùng
Quãng im lặng
nghe mùi đất thở

21
Nỗi nhớ đó khát khao
luồn sợi tóc.
Vòng tay ôm cuộn khói
bâng khuâng.
Uống chưa cạn chén trà
sương móc.
Trên đài cao Em ngự
mầy tầng.
Lên cao mãi đường mây
khép chặt.
Để xoi mòn ảo tượng
thiên chân.
Ồ, nguyệt quế!
trắng mờ đôi mắt.
Ồ, sao Em?
sao ấn mãi cung đàn?
Giai điệu cổ
thoáng buồn
u uất.
Xưa yêu Em
xao động trăng ngàn.

22
Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói
Vẫn yêu người từng khoảnh khắc chiêm bao
Từ nguyên sơ đã một lời không nói
Như trùng dương ngưng tụ ánh hoa đào
Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi
Vì yêu người ta vói bắt ngàn sao.

23
Giăng mộ cổ
mưa chiều hoen ngấn lệ
Bóng điêu tàn
huyền sử đứng trơ vơ
Sương thấm lạnh
làn vai hờn nguyệt quế
Ôm tượng đài
yêu suốt cõi hoang sơ.

Nguồn: Những điệp khúc cho dương cầm – Refrains pour piano, Tuệ Sỹ, NXB Phương Đông, 2009

(cop lại từ trang web thivien.net)

*

Bài viết của Đặng Tiến giới thiệu tập thơ

 ... Ngôn ngữ lấp lánh ánh sáng tâm cảm và ngoại giới, trầm tư và huyễn mộng. Hình ảnh chập chờn, ngôn từ lảo đảo, như những tiếng dương cầm đuổi bắt nhau, chưa kịp tương phùng đã muôn đời vĩnh quyết ...

Tuệ Sĩ,
điệp khúc dương trần


Đặng Tiến


Trước đây, mạng Diễn Đàn có giới thiệu tập thơ song ngữ Những điệp khúc cho dương cầm – Refrains pour piano – của Tuệ Sĩ, do bà Dominique de Miscault dịch ra tiếng Pháp, và minh họa trang nhã. Lúc đó, tác phẩm vừa mới in xong.

Hôm nay, tập thơ đã được phát hành và ra mắt dưới dạng một buổi tọa đàm tại Thành Phố Hồ Chí Minh, khách sạn Legend, ngày 27-9-2009, với sự hiện diện của tác giả và dịch giả.

Ngoài ra, chúng tôi được biết sách hiện có bày bán nhiều nơi tại Paris, giá 10 €uros.

Vậy xin trở lại, giới thiệu thi phẩm căn cơ hơn :

Tuệ Sĩ là bậc danh sĩ cao tăng, đã trọng nhiệm nhiều chức vụ trong hàng giáo phẩm Phật giáo Việt Nam. Trong và ngoài nước nhiều người biết danh và ái mộ, qua những trầm luân mà ông chịu đựng non nửa thế kỷ, chúng tôi không nhắc lại nơi đây, vì ai muốn truy tìm thì rất dễ.

Tuệ Sĩ còn là nhà thơ, nhiều người biết danh, nhưng ít người được đọc, vì thơ ông ít được phổ biến. Mới đây, trong nước, nhà xuất bản Phương Đông đã ấn hành tập thơ Những điệp khúc cho dương cầm, song ngữ Việt-Pháp đối chiếu, do Dominique de Miscault, nữ họa sĩ người Pháp, chuyển ngữ và trình bày, minh họa, bà gọi là « biểu cảm đồ họa » (expressions graphiques). Trang bên trái là văn bản Việt-Pháp nối tiếp, trang bên phải là hình cách điệu nhà sư đang lướt ngón tay trên phía dương cầm.

Sách gồm 23 bài thơ ngắn, trình bày trên 53 trang, khổ vuông 21 x 21 cm, giấy tốt, in đẹp và trình bày trang nhã.

Điều đáng mừng là độc giả Việt Nam và thế giới có dịp tiếp cận với thơ Tuệ Sĩ, trong niềm đồng cảm nhân loại, qua thi ca và nghệ thuật. Trong lời tựa, bà De Miscault kể lại :

« Tôi được hạnh ngộ với Tuệ Sĩ và người thân từ mùa xuân 2003.

Chúng tôi đã học tập phơi trải và trao đổi hai thế giới, diễn dịch những cảm xúc, đồng thời là dấn thân. Tôi không phải phật tử cũng không phải kẻ tu hành, lại không biết tiếng Việt, nhưng thơ Tuệ Sĩ thì đã gặp đâu đó tại châu Âu già cỗi. Đó chẳng phải là những khoảng hư không mà các tác gia thần bí đã trải nghiệm ? Kinh nghiệm phiêu du trong bóng đêm và tĩnh lặng, cũng như những tâm hồn khắc khoải, vô vọng truy tầm lời giải đáp cho những hy sinh, dù tự nguyện hay cưỡng chế ? »

Bà tiếp xúc với thơ Tuệ Sĩ nhờ việc lược dịch của một người Pháp được Tuệ Sĩ duyệt lại.

« Tôi cố gắng nắm bắt nội dung qua những hình ảnh, và không gian sống của Tuệ Sĩ như tôi được trông thấy và đã khai thị cho tôi. Tôi chọn những từ ngữ và ảnh tượng đơn giản nhất, đã giản lược và tát cạn tối đa thi pháp để tập trung vào cuộc phiêu lưu thần bí của nhà sư mệt mỏi vì đời sống và những truy tầm vô vọng…

Vô vọng hay không, vẫn là câu hỏi. Buông thả theo dòng đời.

Dương cầm và tịch lặng là thần giao giữa hai lục địa giữa chúng tôi.

Nơi đây không còn là hoài cảm hay xúc cảm, mà là phân tích khô khan cõi dửng dưng.

Tôi hân hoan được tiếp tục chia sẻ, và trong dài lâu tính nhẹ nhàng tuyệt đối của đời sống. »

Bài tựa này đã được Hạnh Viên dịch ở trang 7, tôi dịch lại để đóng góp.

Một cơ duyên khác, là với kỹ thuật điện tử hiện đại, toàn bộ công trình của TS – Dominique de Miscault và nhà xuất bản Phương Đông được đưa lên lưới, để người đọc, Việt hay ngoại quốc, khắp năm châu bốn biển đều có thể thưởng lãm. Năm mươi trang giấy không phải là công trình to tát gì, nội dung cũng không phải chuyện khai sơn phá thạch, nhưng là một sự kiện văn học, như cơn gió bất ngờ đưa đóa lan rừng ra ánh sáng.

Tuệ Sĩ không phải là người tìm danh vọng, nhất là bằng thi ca. Ông không tìm độc giả, tìm tri kỷ, tri âm. Ông thừa nội lực để sống an nhiên trong tịch lặng giữa cõi ta bà. Nhưng thơ ông xuất hiện như vầng trăng ra khỏi đám mây, như mùi hương bông sứ chợt thoảng vào vườn khuya, là một niềm vui chung, và cho người lữ khách ngồi lại bên đường, buổi chiều, « cười với nắng một ngày sao chóng thế… đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan », câu thơ ngày xưa của ông mà Bùi Giáng hết lời ca ngợi.

Thơ, thơ gì đi nữa, thì trước tiên phải là ngôn ngữ. Ngôn ngữ của ai đi nữa thì cũng mang sử tính. Thơ thiền sư làm bằng ngôn ngữ hàng ngày vẫn vang âm xã hội và lịch sử.

Ví dụ bài cuối :

Giăng mộ cổ
Mưa chiều hoen ngấn lệ
Bóng điêu tàn
Huyền sử đứng trơ vơ
Sương thấm lạnh
Làn vai hờn nguyệt quế
Ôm tượng đài
Yêu suốt cõi hoang sơ.

Ý nghĩa chính xác của bài thơ là gì ta không nên giải thích chân phương. Nhưng từ ngữ thì rõ ràng là trầm tích đau thương của con người trong lịch sử. Bà De Miscault dịch hay và thoát (xem Trên kệ sách của mạng Da màu). Tôi vẫn táy máy dịch lại xem như góp một nốt đàn vào bản hợp tấu :

Sur les tombes antiques
La pluie du soir se confond en larmes
Des mythes illusoires
En ruine esseulés,
La bruine givre
Les épaules meurtries de laurier
Serrant la statue
J’aime ô que j’aime les espaces innocents

Trầm tích lịch sử còn dư vang rõ hơn trong bài này ;

Ngoài biên cương
Cây cao chói đỏ
Chiến binh già cổ mộ
Nắng tắt chiến trường
Giọt máu quạnh hơi sương

Tr. 34

A la frontière
Le grand arbre rougeoie
Le soldat vieillit sur la tombe antique
Le soleil éteint la bataille
Le sang se condense en rosée.

Thơ gì, thơ ai, thơ nước nào, trong ngôn ngữ vẫn là một thứ ngoại ngữ ; người đọc một bài thơ trong tiếng mẹ đẻ là đã dịch bài thơ ấy ra ngôn ngữ của riêng mình. Gọi là tiếng lòng.

Trong nghề dạy học và việc bình luận văn chương tôi có đôi kinh nghiệm về việc dịch thuật và thông ngôn này. Gặp những bài thơ Tuệ Sĩ việc giảng luận có phần trắc trở. Ngôn ngữ vẫn là ngôn ngữ chung là tiếng Việt, nhưng tương quan giữa người nói và lời nói thì khác nhau. Khi Tuệ Sĩ viết đâu đó « Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang » thì ông không chỉ nói về màu áo, cũng không nói về ngọn đồi, mà phản ánh tâm linh trong một thế giới khác. Đưa lời thơ Tuệ Sĩ vào ngôn ngữ thế tục e dễ thành dung tục.

Thơ bao giờ cũng phản ánh ba tính cách : môi trường xã hội trong lịch sử ; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại ; và tác giả, qua đời sống hàng ngày ; nhưng ở Tuệ Sĩ đời sống hằng ngày, ý thức và vô thức dường như đã thăng hoa, thành một siêu thức. Ngôn ngữ do đó cũng siêu thoát, khó bề lý giải chân phưong và đơn phương.

Đầu thế kỷ XX giới văn học tây phương đưa ra khái niệm «  thơ thuần túy », và nghệ thuật nguyên chất theo nghĩa của hóa học : thực thể nguyên chất đối lập với những thực thể tạp chất « impur », có lẫn lộn nhiều ngoại tố. Nghệ thuật nguyên chất là kiến trúc của ngôn ngữ : một dạo khúc dương cầm, một tranh tĩnh vật, một bài thơ đẹp. Người thưởng thức không pha lẫn vào đó những kỷ niệm, buồn vui riêng tư, nhất là những thành kiến lịch sử, chính trị. Yêu một chân dung phụ nữ không phải vì nó hao hao giống một người bạn cũ.

Trong nghệ thuật, dân tộc là một tạp chất.

Tôi nghĩ khi Tuệ Sĩ đặt tên Những điệp khúc cho dương cầm, và làm những bài thơ mô tả tiếng dương cầm, là ông muốn cho tiếng thơ mình trong trẻo, thuần khiết « trong như tiếng hạc bay qua ». Do đó, bình giải thơ Tuệ Sĩ là tạo cơ nguy gây tạp âm không phải lẽ và không phải lúc. Bài viết này vẫn mang tạp âm là ngoài ý muốn của chúng tôi.

Lấy một ví dụ ngoài đề, cho thông thoáng. Nhà thơ Phạm công Thiện, thời trẻ, có lúc tu tại một Phật Viện Nha Trang. Một hôm anh về chơi với nhà văn Võ Hồng, ở lại mấy hôm, khi về Chùa, anh có thơ :

Mưa chiều thứ bảy, tôi về muộn
Cây khế đồi cao trổ hết bông.

Anh tâm đắc thường đọc cho chúng tôi nghe, và chúng tôi hiểu đại khái, nhưng chưng hửng khi nghe Phạm Công Thiện, mười năm sau, tự dịch câu thơ ra tiếng Pháp :

Je suis le Retour
Il fait Tard sur le Chemin
Sept jours après la pluie tombe
En haut
du Temple
L’arbre est le
Défleuri

Chúng tôi đã hiểu chung chung : thứ bảy là trước chủ nhật, cây khế là cây khế, ngọn đồi là ngọn đồi, nhưng qua bản dịch tiếng Pháp, thì nội hàm câu thơ không phải chỉ có vậy.

Nhưng nghĩ cho cùng, ai làm sao hiểu hết một câu thơ, kể cả tác giả ?

Và cách tiếp cận thơ Tuệ Sĩ của bà De Miscault biết đâu là cách hay nhất, như câu tiếng Pháp không biết của ai « la voix du cœur est la voie au cœur » : lời trái tim là lối đến con tim.

Đọc thơ Tuệ Sĩ. Bằng trái tim. Nỗi Nhớ

Màu tối mù lan vách đá
Nhớ mênh mông đôi mắt giã từ
Rồi đi biệt
Để hờn trên đỉnh gíó
Ta ở đâu ?
Cánh mộng phù du

Tr. 18

Les ténèbres envahissant les pierres du mur
Immense le souvenir des regards de nos adieux
Et je m’en vais à jamais
Délaissant les chagrins aux cimes de l’ouragan
Où suis-je ?
Frêles sont les ailes de l’éphémère

Tình người :

Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói,
Vẫn yêu người từ khoảnh khắc chiêm bao
Từ nguyên sơ đã một lời không nói
Nhưng trùng dương ngưng đọng cánh hoa đào
Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi
Vì yêu người ta vói bắt trời sao.

Tr. 50

Sur mes chagrins enfumés, je revis
L’Amour des hommes à chaque instant de mes songes
Dès l’origine la parole a été retenue
Comme l’océan retient le reflet du printemps en fleur
Des refrains animent mes ailes épuisées
Pour l’Homme, j’ouvre mes mains au firmament étoilé

Trần thế :

Theo chân kiến
Luồn qua cụm cỏ
Bóng âm u
Thế giới chập chùng
Quãng im lặng
Nghe mùi đất thở

Tr. 46

Traces de fourmi
Je faufile entre les herbes
Ténèbres des ténèbres
Les mondes s’amoncellent
Silences entre silences
J’accueille la terre respirante.

Thơ Tuệ Sĩ cô đúc, hàm súc, uyên áo. Người đọc không quen cho là khó hiểu, vì tác giả không đề cập đến một đề tài nào chính xác, không miêu tả không tự sự. Ngôn ngữ lấp lánh ánh sáng tâm cảm và ngoại giới, trầm tư và huyễn mộng. Hình ảnh chập chờn, ngôn từ lảo đảo, như những tiếng dương cầm đuổi bắt nhau, chưa kịp tương phùng đã muôn đời vĩnh quyết.

Thỉnh thoảng, người đọc cảm thấy an tâm trong đôi lời thơ mạch lạc :

Cửa kín chòm mây cuốn nẻo xa
Ngu ngơ đếm chữ, mắt hoa nhòa
Tay buồn vuốt mãi tờ hương rã
Phảng phất mưa qua mấy cụm nhà

Tr. 26

Người Thơ hé mở một thoáng tâm linh, nhưng hình ảnh vẫn mang tính cách tượng trưng, xa cách, xóa nhòa tâm sự cá nhân, pha loãng tình riêng vào làn mưa trên mái ngói.

Đôi khi người đọc gặp vài từ ngữ, ẩn dụ trở đi trở lại như những ám ảnh, tạo nên dăm viên đá cuội trên lộ trình cậu bé tí hon, nhưng dễ gì tìm được heo hút đường về.

Ngoại giới biết đâu là ảo giác :

Bóng sao đêm dài vời vợi
Thật hay hư, chiều nhỏ ưu phiền

Tr. 10

Và thơ, tập thơ mình cầm trong tay, những nốt nhạc, những hàng chữ  « đen trắng đuổi nhau thảnh ảo tượng ». Thơ, tất cả thi ca trên cõi trần này biết đâu chẳng là ảo giác của ảo giác ?

Cần gì để nói thêm về Những điệp khúc cho Dương cầm của Tuệ Sĩ ?.

Phải chăng là tiếng ve sầu chung thủy, ưu hoài những mùa hạ đã ra đi ?.

Tiếng ve trở về,

Khóc mùa hè mà khô cả đại dương

Đặng Tiến,
Orleans 17/8/2009.
Cập nhật 02-10-2009

Nguồn: diendan.org

*

16 nhận xét:

  1. Thơ của 1 bậc cao tăng mà nghe đậm chất đời, cũng ưu phiền, hờn giận, cũng yêu, cũng điên ... anh nhỉ ? Đúng là "Điệp khúc dương trần" !

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Dương cầm đổi thành dương trần, DT chơi chữ rất hay. Và quả là đọc tập thơ ta gặp rất nhiều những nỗi buồn, những ưu tư, và cả những yêu Em .. nghe có vẻ không giống giọng một bậc cao tăng. Thật ra anh nghĩ chính vì cao tăng nên ông mới thoải mái nhắc đến yêu, đến em, đến buồn .. một cách thoải mái trong nhiều bài thơ, cả tập Dấu chân Trường Sơn trước đó .. mà nói cho cùng, nếu không quan tâm gì đến dương trần, ông sao lại từng bị kết án tử hình ?

      Xóa
    2. Với em thì ông cũng là một thi sĩ như bao thi sĩ khác thôi. Em tin vào đạo, không mấy tin người, mà ông í thì cho dù có là một bậc cao tăng, phàm cũng chỉ là người thôi, thì thơ ông hỉ, nộ, ái, ố ... âu cũng là lẽ thường mà, có lạ gì đâu cái án tử hình, nếu có.

      Xóa
    3. Ui ! Em nói chưa rõ, ý em không tin "người" ở đây là những người kinh doanh tín ngưỡng, buôn thần bán thánh, lợi dụng tôn giáo để mưu cầu ích lợi riêng.
      Cách đây hơn 20 năm, những ngôi chùa lớn ở SG còn mang tính linh thiêng, trầm mặc (hồi nhỏ em hay vào chùa Vĩnh Nghiêm hay chùa Đại Giác học bài), còn bây giờ, thay vào đó là khung cảnh bát nháo như ở chợ, trong chùa cũng quán chay, vài chục ng bán nhang dạo, rồi quầy sách tử vi, rồi bán chim phóng sinh, tội nhất là có hàng chục con chim bị bắt đi bắt lại đến nỗi thả ra không thể bay được nữa, rồi bị chính những người đi phóng sinh vô tình dẫm đạp đến chết ngay trong sân chùa, nơi mà nó vừa được kẻ nhân danh lòng từ bi thả ra. Các bậc tăng ni trong chùa chẳng lẽ không thấy những điều này sao ???
      Chưa kể các thùng công đức được xếp từ ngoài sân chùa đến tận trong bệ thờ nếu đếm đủ cũng vài chục cái ! Rồi có những người đã xuất gia, miệng cũng nam mô như ai nhưng tuyền làm điều ác, nhiều khi còn ác hơn người đời ...
      Còn nhiều nữa ... nhưng thôi, nói vậy để anh đừng mắng em là đa nghi như Tào tháo ... Em còn sân si lắm, đôi khi em cũng bị mất tự chủ trước hành động của những người như vậy.

      Xóa
    4. uh, từ nhiều năm nay - và ngày càng thêm - rất nhiều chùa chiền sư sãi chả ra làm sao, chùa chẳng ra chùa sư chẳng ra sư. Điều này đã có nhiều người, nhiều báo nói đến rồi, chả phải đa nghi hay dèm pha gì, mà là một sự thực. Và đấy, theo chổ anh hiểu, cũng là một trong những nỗi buồn của thấy Tuệ Sĩ.

      Xóa
  2. Bài của Đào Tuấn:
    1. Dem thèm thần thánh

    Đến hẹn lại lên, cứ đầu năm mới là đền chùa miếu mạo xứ mình lại một phen náo động, Thánh, Phật, thần linh, người ngợm một phen ngã nghiêng bởi hình ảnh các em dạng háng, khoe mông, hở rốn...

    Và độ hở, tất nhiên là năm sau tăng cao hơn năm trước!

    Ta nói thời mạt pháp, chuyện chi cũng có thể xảy ra.


    laodong.com

    Trả lờiXóa
  3. Lâu nay cứ gặp hoài cái cảnh sư iphone, sư nhậu nhẹt; chùa chiền thì như cái chợ, thấy cũng nản. Hôm nay rằm lang thang gặp bài báo này, kể về một vị sư đã trăm tuổi:

    "Tôi trụ thế đến nay 99 năm, ở chùa 94 năm, thụ Đại giới được 78 năm, nghiệp là tu hành, nuôi thân thể chủ yếu bằng nghề làm ruộng, chưa từng dám lạm dụng một bát gạo, một đồng tiền của tín thí thập phương. "
    "Ngay cả khi tôi đã tám mươi tuổi vẫn còn ra đồng làm lụng tự nuôi thân để ngày đêm miệt mài nghiên cứu kinh Phật theo nếp của Tổ xưa."

    Anh vẫn tin dù hiện nhiều sư sãi bị tha hóa biến tướng nhiều, nhưng vẫn còn nhiều bậc chân tu. Có điều họ lặng lẽ tu hành nên không "hot", báo chí không đụng đến và vì thế không mấy ai biết thôi.

    “Muốn sống lâu trước hết phải sạch sẽ từ thân đến tâm!”

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Đúng rồi anh, bậc chân tu mới vậy chứ nhiều thể loại sư chẳng ra sư, thầy không ra thầy bi giờ nhan nhản.
      Năm ngoái, chính em thấy đi theo 1 xe hoa cổ động lễ Vu Lan là một đoàn xe máy của giới tăng ni cầm cờ phật giáo, cũng phóng nhanh, vượt đèn đỏ, lạng lách để theo được xe hoa, thậm chí gào hét "Nam mô ..." ngoài đường, y như ăn cướp, phản cảm vô cùng.
      Có lần trên đường dọc kênh Nhiêu lộc, có 1 ông thầy đi xe máy phóng cực nhanh, gần đền đường Út Tịch em chạy theo hỏi "thầy đua hong thầy ?" Cha quẹo luôn sang đường khác ! hehe !
      Rồi vụ khóa môi của ĐVH & vị sư trẻ nè !
      Kệ ha anh ! Phật tại tâm ! Em tin vậy !

      Xóa
    2. Thật ra điều này cũng dễ hiểu. Khi người ta mất tin tưởng vào bản thân mình, người ta phải hướng ngoại để cầu xin. Mà nay thì quá nhiều thứ để người ta mất tự tin.

      Xóa
    3. em chạy theo hỏi "thầy đua hong thầy ?" Cha quẹo luôn sang đường khác ! hehe !
      Hì, anh không nghĩ được một mẹ U50 đã 3 con người ốm còm nhom lại máu lửa thế :d

      Xóa
    4. Chời ! Em những 5 đứa chứ đâu phải 3 ! hehe !
      Mừ sao anh cứ rủa em còm nhom vậy nhỉ ! Em chỉ hơi ròm xíu thôi !
      Em chọc ổng thôi, chứ xe em 49cc hai thì, nào dám đua với thầy Exciter 150.

      Xóa
    5. Ba năm trước em đã 2 đứa, anh tính giờ thêm 1 là ba. Làm gì mà 5, định dọa Mít hả :d.
      Em đã lên dược 40 kg chưa mà bảo hết còm nhom ?

      Xóa
    6. Dĩ nhiên là em không dám qua mặt Mít rồi !
      Hì hì ! Trên "tinh thần" 3 năm 1 đứa như anh tính thì em sẽ phấn đấu đến 50 em là em đủ 5 đứa !
      Nếu 40Kg mà hết còm nhom thì em hết rồi nha !

      Xóa
    7. Uh, gắng lên em, nhà có tiếng trẻ con là vui lắm đấy. Đừng lười, chờ bồng cháu. Con mình quyền mình; con chúng nó, làm không khéo chúng mắng cho.

      P/s Lên được 40 kg rồi, giỏi hầy. :d

      Xóa
    8. Dạ ! "Đời cua, cua máy. Đời cáy, cáy đào" á anh !
      Em lên được 40 là do Mít đấy anh ! Mít chỉ em đủ đường, nào ăn, nào thuốc, nào thầy ...

      Xóa
    9. Uh, nghe mít ăn uống tập thể dục thể thao cho lên cân. Nghe anh đẻ thêm dăm đứa nữa cho vui cửa vui nhà, OX lại có việc làm, bớt đàn đúm bạn bè

      Xóa
Mẹo Comment

Chú ý: chỉ cần dán link vào, không cần gõ thẻ khi post
Hình (file có đuôi jpg, jpeg, png, bmp, gif ),
Nhạc (file có đuôi mp3 hoặc từ trang web nhaccuatui),
Video (từ Youtube)

Đổi cỡ, màu chữ:
[color="red"][size="20"] chữ cỡ 20 màu đỏ [/size][/color]
(màu dùng mã hexa hoặc tiếng Anh: red, blue, green, violet, gold ..)
Giới thiệu link: <a href="link"> tên link </a>
Chữ đậm <b> chữ đậm</b>
Chữ nghiêng: <i> chữ nghiêng </i>

Chèn Yahoo smiley (click Chèn emoticons để xem phím tắt)
Đã thêm mấy smiley nhưng chưa rảnh thêm vào bảng chèn. Phím tắt:

:-/ bối rối ;) nháy mắt ;;) đá lông nheo
:"> thẹn :X yêu thế =(( tan nát cõi lòng

Chèn Emoticons
:))
:D
:p
:)
:(
:-o
:-*
=))
:((
:-?
:-h
~o)
@};-
:D
[-X
=D>
*-:)
B-)
X(
:@)