Hoàng hạc lâu. Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, Bạch vân thiên tải không du du. Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, Phương thảo thê thê Anh Vũ châu. Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Nghĩa:
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi, Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc.
Hạc vàng một đi không trở lại, Mây trắng ngàn năm vẫn bồng bềnh trên không. Bóng cây Hán Dương trên mặt sông lúc trời tạnh rõ mồn một, Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.
Chiều xuống, quê nhà giờ nơi đâu? Khói sóng trên sông khiến
người thấy buồn bã.
Tạm dịch.
Chuyện xưa người cưỡi hạc vàng bay, Còn lại lầu không ở chốn này. Một thoáng hạc vàng không trở lại, Ngàn năm mây trắng ngẩn ngơ hoài. Hàng cây lấp loáng dòng sông lạnh, Thảm cỏ xanh xanh bãi cát dài. Chiều xuống quê nhà trông mịt mịt, Trên sông khói sóng mắt cay cay.
---
Thôi Hiệu là nhà thời Thịnh Đường. Ông đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 11 (723), làm quan đến chức Thượng thư tư huân viên ngoại lang. Thời kì đầu ông thường làm thơ tình ái khuê phòng, sau chuyển qua làm thơ biên tái, phong cách thơ thay đổi mạnh mẽ, danh chấn đương thời. Toàn Đường thi chỉ sưu tầm lưu giữ được 42 bài thơ của ông, trong đó nổi tiếng nhất là bài Hoàng hạc lâu trên đây. Theo “Đường thi kí sự” thì Lí Bạch có lần đến lầu Hoàng Hạc chơi, đọc được bài thơ của Thôi Hiệu đề trên tường, thán phục, thốt lên. Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu: trước mắt có cảnh mà không làm thơ được, vì đã có Thôi Hiệu đề thơ ở trên rồi.
Bài thơ này cũng đã được đưa vào học trong chương trình Ngư văn bậc phổ thông ở nước ta. Bài thơ cũng được rất nhiều người dịch. Bản sau đây của Vũ Hoàng Chương.
Xưa cánh hạc bay vút bóng người
Nay Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi
Trắng một mầu mây, vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống, đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!
Bản dịch đã được Cung Tiến phổ nhạc. Quỳnh Giao trình bày:
Văn Cao viết tác phẩm đầu tay của mình, Buồn Tàn Thu, lúc mới 16 tuổi. Cung Tiến còn sớm hơn, viết tác phẩm đầu tay của mình lúc chỉ mới 14 tuổi, đang học lớp đệ lục (= lớp 7 bây giờ), và cũng là một ca khúc về mùa thu.
Hôm trước nghe Đoàn Thế Ngữ nói chuyện về ngũ cung. Hôm nay nghe vài bài hát của Cung Tiến, và đọc bài phỏng vấn ông của Ngọc Lan (Người Việt)
Phỏng vấn tác giả 'Hoài Cảm': 'Âm giai ngũ cung là một kho tàng'
Ngày 10 tháng 7, 2010 sắp tới, Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt-Mỹ (VAALA) sẽ thực hiện chương trình nhạc Cung Tiến với chủ đề “Vết Chim Bay.” Nhân dịp này, Người Việt nói chuyện với người nhạc sĩ tài hoa, cũng là một nhà kinh tế, về nhiều vấn đề; về những bản nhạc xưa, và cả câu hỏi: có hay không, một mối liên hệ giữa âm nhạc và... luật cung cầu. Bài phỏng vấn do phóng viên Ngọc Lan thực hiện.
Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tưởng
Hay một vết chim bay!
nhà thơ Phạm Thiên Thư. Hình: net
Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh năm 1940 tại Hải phòng, quê Thái Bình. năm 1954 theo gia đình di cư vào sống ở Saigon cho đến nay. Có một thời gian (1964 - 1973) ông vào chùa khoác áo thầy tu.
Tác phẩm đã in:
Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (Thi hoá Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (Thơ) 1971); Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều - Đoạn Trường Vô Thanh, 1972; Kinh thơ (Thi hoá Kinh Pháp Cú); Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài (Thơ); ..
Hôm trước đã nghe một số bản nhạc Phạm Duy phổ từ thơ của ông. Hôm nay nghe Vết Chim Bay do Cung Tiến phổ, Camille Huyền ca
Hôm trước đã nghe Quỳnh Giao ca bài Hoàng Hạc Lâu của Cung Tiến. Có lẽ với người Việt, chẳng mấy ai ko biết đến bài thơ này của Thôi Hiệu. Ko thuộc cả bài thì cũng thuộc đôi câu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
hay ít ra câu dịch tương ứng của Tản Đà
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Nhạc sĩ Thành Trang có bản phổ nhạc dựa trên bản dịch này
Nếu phải chọn chỉ một nhà thơ trong số các nhà thơ làm thơ Đường luật của Tàu, có lẽ người ta ko chọn Thôi Hộ - sự nghiệp thi ca của ông còn kém xa so với Lý Bạch, Đổ Phủ ... Nhưng nếu phải chọn chỉ một bài trong số hàng vạn bài thơ Đường luật, nhiều người sẽ đồng ý chọn bài thơ Hoàng Hạc Lâu của ông, bài thơ mà chính Lý Bạch phải than - dù rằng đấy là một bài thơ thất luật.
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu ...
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Bài thơ đến nay nghe đâu đã có hàng trăm bản dịch, trong đó bản dịch của Tản Đà được biết đến nhiều nhất.
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Hoàng Hạc Lâu (黄鹤楼, ghi thêm bính âm Huang He Lou, và tên tiếng Anh để ai cần tiện gúc: Yellow Crane Tower) được xây dưng năm 223 ở Đông Ngô thời Tam Quốc, nơi hiện thuộc thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc bên Tàu, bên cạnh dòng sông Dương Tử. Theo một số tài liệu, ban đầu đây là một đài quan sát được sử dụng trong trận Xích Bích nổi tiếng. Sau chiến tranh do địa điểm đẹp, người ta biến cải thành một tửu quán, tao nhân mặc khách tụ bạ uống rượu bình thơ. Chính đám này tạo ra huyền thoại vị tiên cỡi hạc vàng dừng chân trên gò đất bên sông, để thêm duyên cho tên lầu Hoàng Hạc = hạc vàng. Gần 2 ngàn năm qua, lầu Hoàng Hạc đã hàng chục lần bị thiêu hủy, rồi tái thiết. Năm 1957, lầu bị dời khỏi vị trí cũ 1 km để lấy chổ xây cây cầu vượt sông Dương Tử. Năm 1981 khởi công xây lại lầu mới hoàn toàn bằng vật liệu hiện đại, đến 1985 thì hoàn thành. Lầu mới cao, to và được đánh giá là đẹp hơn lầu cũ. Nhưng nói cho đúng thì, nó chả còn dính dáng gì với Hoàng Hạc Lâu thời Thôi Hiệu, từ địa điểm cho đến kiểu dáng kiến trúc, ngoài cái tên lầu. Dù vậy, Hoàng Hạc Lâu cùng với Nhạc Dương Lâu ở Hồ Nam và Đằng Vương Các ở Giang Tây vẫn được xưng tụng là ba "đại danh lầu" của Tàu, hàng năm thu hút hàng triệu khách du lịch trong nước cũng như quốc tế.
Mời nghe Hoàng Hạc Lâu, ca khúc chủ đề trong Liên hoan Nghệ thuật Trung quốc lần thứ VIII tổ chức tại Vũ Hán, nhạc Mạnh Khánh Vân, lời Phan Gia Hoa do Đàm Tinh trình bày
Lời ca thật đẹp. Chép ra một đoạn cho ai biết chữ Hán dễ theo dõi vì trên clip khó thấy.
Tha tòng họa trung lai
Thải vân đan đính hạc
Minh nguyệt xuy ngọc địch
Tử khí tương dẫn ước
Hà lai không du du
Cổ kim vô dĩ sở thiên tú
Thiên bôi ân thập niên vũ
Thử khứ mạn thiên du
Tình du du hoàng hạc lâu
Hoàng hạc lâu tình du du
Thiên niên phán qui vạn cổ tuyệt xướng ..
Ai ko biết chữ Hán, muốn biết nghĩa thì chịu khó gúc nhé. Chữ nghĩa lem nhem chỉ hiểu lỏm bỏm, ko dám dịch :). Ai cần lyrics đầy đủ thì vô đây
Trong clip sau, Đồng Lệ (童丽 Tong Li) và Quỳnh Giao lần lượt trình bày ca khúc Hoàng Hạc Lâu, một Tàu một ta.
Ta thì nhạc của Cung Tiến, lời dựa trên bản dịch của Vũ Hoàng Chương. Còn Tàu thì ko biết do ai phổ nhạc bài thơ Thôi Hiệu, thấy nằm trong album 红豆生南国 (Hồng đậu sinh Nam quốc) của Đồng Lệ phát ành năm 2009. Hồng đậu sinh Nam quốc vốn là tựa một ca khúc trong bộ phim Hậu Tây du ký (2000), do Mao A Mẫn thể hiện, nhưng bản của Đồng Lệ cover sau đó được ưa thích hơn.
Tương tư toán thập yêu
Tảo vô nhân tại ý
..
Tối khẳng vong khước cổ nhân thi,
Tối bất tiết nhất cố thị tương tư.
Thủ trứ ái phạ nhân tiếu,
Hoàn phạ nhân khán thanh ..
Tương tư là cái chi chi
Sớm chẳng còn ai để ý
..
Thứ đáng quên nhất là thơ cổ nhân
Thứ chẳng nên đoái hoài là tương tư
Giữ mối tương tư chỉ tổ người ta cười cho
Lại còn sợ người ta thấy ..
Thơ cổ nhân nhắc đến trong lời ca là bài tứ tuyệt của Vương Duy, mà câu đầu được mượn làm tựa cho bản nhạc
紅豆生南國,
春來發幾枝。
願君多采擷,
此物最相思。
Hồng đậu sinh nam quốc,
Xuân lai phát kỷ chi.
Nguyện quân đa thái hiệt,
Thử vật tối tương ti (tư).
bản dịch của Hải Đà trên thivien.net
Nước nam sinh đậu đỏ
Xuân về nở cành xinh
Chàng ơi hái nhiều nhé
Nhớ nhau tha thiết tình
Hồng đậu có màu đỏ, hình trái tim, với người Tàu cũng tương tự như hoa tigon với Tây, tương trưng cho tình yêu, nỗi nhớ nên hồng đậu còn được gọi là hạt tương tư.
Nghe album Hồng đậu sinh Nam quốc (8/2009) của Đồng Lệ
Mời nghe album nhạc do Camille Huyền thực hiện, Phương Nam film sản xuất và phát hành tại VN
Cung Tien Art Songs
Camille Huyền tên thật là Huyền Tôn Nữ Cẩm Hồng (là họa sĩ và ca sĩ tự do) hiện ở Thụy Sĩ.
Trong lời tựa trong tập nhạc kèm theo Camille Huyền kể lại: “Venice, năm 2004, tình cờ Camille nắm trên tay tập nhạc Cung Tiến. Mượn tập nhạc mang về Thụy Sĩ, Camille bắt đầu tập hát mỗi đêm từng nốt từng nốt với cây guitar trong suốt một năm trời. Càng ngày càng đam mê trước ý tưởng sâu-sang-đẹp của những bài thơ, trước tài nghệ phi thường của anh Cung Tiến”.
Sau đó, được sự giúp đỡ của ông Walther Giger – nghệ sĩ Guitar danh tiếng trong ban nhạc ban nhạc thính phòng cổ điển Orches Trio Zurich, đồng thời cũng là thầy dạy đàn của mình, Camille Huyền đã thu âm những tác phẩm Cung Tiến.