Hiển thị các bài đăng có nhãn Quê hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quê hương. Hiển thị tất cả bài đăng
5/5/17
Về Ninh Bình ăn cơm cháy
Các trang mạng giới thiệu đặc sản Ninh Bình, bao giờ Cơm cháy cũng đứng vị trí số 1. Cơm cháy ? là cái thứ cơm mà hồi bé mẹ cấm tiệt, vì sợ ăn vào học dốt; và khi đã lớn không còn sợ học dốt, vợ thường nhường cho ăn vì răng anh chắc ? Thứ cơm cháy này làm như nào mà được xem là đặc sản của đất cố đô nhỉ ?
Ngay hôm đầu tiên đến Ninh Bình liền ghé một quán bên đường ăn thử cho biết
4/5/17
24/4/17
Về Huế đi chợ ăn hàng
Chợ Đông Ba nằm bên dòng sông Hương, cách chân cầu Trường Tiền vài trăm mét, là ngôi chợ lớn nhất Huế. Chợ do vua Đồng Khánh cho xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, được trùng tu nhiều lần, gần nhất là vào năm 1987.
Chợ có khu ẩm thực rất phong phú. Bánh bột lọc bánh nậm bánh bèo .. So với bánh cùng loại các nơi, bao giờ bánh Huế cũng bé hơn. Như giọng o gái Huế - nhỏ nhẻ, đằm thắm nhưng không kém nồng nàn (ý là ai không quen ăn cay thì vào một số hàng quán phải báo trước, không người ta cho ớt nhiều cay rán chịu).
21/4/17
15/4/17
Huế, thăm chơi vài di tích lịch sử
Mấy hôm nay trời nóng kinh, ngeh đài báo 34, 35 độ gì đấy. Nhớ mấy ngày ở Huế ..
Buổi sáng đang tắm biển ở Đà Nẵng, buổi chiều xe vừa qua khỏi đèo Hải Vân đã thấy trời âm u. Vào đến thành phố thì mưa lất phất bay
Cơn mưa cứ thế, lâm râm không lớn nhưng kéo dài suốt mấy ngày đêm, đúng kiểu mưa Huế, cơn mưa như chẳng tạnh bao giờ ...
5/4/17
Giấc mơ Đà Nẵng
GIẤC MƠ ĐÀ NẴNG
Con phố Đà Nẵng ngày xưa
Hun hút nẻo dài ngút mắt
Em về bên kia trầm mặc
Nỗi nhớ trong lòng trào dâng
Thương lắm những ngày gian khổ
Vời vợi dòng sông mênh mang
Tiếng gọi con đò xa vắng
Dáng em vời vợi vầng trăng
Bây giờ chiều sang bên ấy
Đón em khi vừa tan tầm
Mây giăng ngỡ ngàng con phố
Dòng sông ngỡ ngàng cầu giăng
Đà Nẵng, Đà Nẵng ngày nay
Đã qua một thời khắc khoải
Thành phố rộng dài mãi mãi
Sắc hoa bừng nở trong tôi
Đà Nẵng Tháng Ba trẩy hội
Bạn bè khắp nơi tụ về
Tôi chờ em nơi cuối phố
Tình yêu – hạnh phúc dâng tràn …
Nguyễn Đức Nam
Đà Nẵng tháng 10/2009
Bài thơ đã được Quỳnh Hợp dựa vào làm lời cho ca khúc Xôn Xao Đà Nẵng. Nghe Mỹ Tâm ca.
Nghe thêm vài bài hát về Đà Nẵng
3/4/17
Xôn xao Đà nẵng
| Bình minh trên bán đảo Sơn Trà, |
| Sông Cổ Cò, đoạn chảy ngang qua Kim Sơn |
Rất nhiều hang động với đủ các loại ban thờ, từ Phật, Bồ tát đến các Thánh các Mẫu thỏa mãn mọi nhu cầu lễ bái. Hang Tam Thanh, động Huyền Không, động Tàng Chơn, .. Vào động Tàng Chơn định thử thọc tay vào các hốc đá, biết đâu may mắn thu được một bộ Cửu dương cửu âm gì đấy, nhưng nhìn cái động nông choèn choẹt, chỉ dăm bước là rảo khắp nên chả còn hứng thú thử. Vào một động quên tên gặp một gã khùng nào đấy đang gà cờ cho ông tiên
| Chùa Quan Âm ở Kim Sơn |
| Chùa Linh Ứng Bãi Bụt |
| Chùa Linh Ứng ở Thủy Sơn |
| Trứng đà điểu, to bằng nắm tay, 300k/cái bán ở chợ Hàn |
| Khách du lịch tây trước tượng ông tây Balan Kazik ở Hội An |
Bánh tráng cuốn thịt heo, món ăn rất quen thuộc, ở Đà Nẵng bỗng lạ hẳn với những lát thịt heo dài, giữa nạc hai đầu đều có lớp mỏng mỡ và da trông rất hấp dẫn. Ham ăn không chụp hình, mượn tạm hình trên net cho ai chưa thấy
Quán phục vụ cũng rất chu đáo. Vờ ngu không biết cuốn, gặp lúc quán không đông lắm, cô bồi bàn xinh xắn vui vẻ chạy đi rửa tay cuốn dùm một hai cái làm mẫu.
Nhưng thích nhất khi về Đà Nẵng là tắm biển. Thanh Khê thì nước sâu sóng êm dễ bơi, Mỹ Khê thì nược cạn sóng lớn dễ chơi .. đâu biển cũng sạch. Cả ngày đi chơi, nửa chiều ra biển tắm, tối về vừa ăn được nhiều, vừa ngủ rất ngon.
| Bãi biển Mỹ Khê |
*
Đà Nẵng là do tiếng Chăm daknan có nghĩa là sông lớn, cửa sông cái, thuộc châu Lý được sát nhập vào Đại Việt từ thế kỉ XIV sau cuộc hôn nhân của Huyền Trân Công Chúa với vua Chăm Chế Mân. Năm 1858 Pháp mở đầu xâm lược Đại Việt bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng, sau đó ép triều đình Huế mở cửa Đà nẵng thông thương và lập khu nhượng địa ở đây. Thời Pháp thuộc Đà Nẵng có tên là Tourane. Hiện nay Đà Nẵng là một trong năm tp trực thuộc trung ương, với diện tích hơn 1200 km2 và dân số hơn 1 triệu. Quần đảo Hoàng Sa được qui vào tp Đà Nẵng.
21/3/17
Một thoáng Nha Trang
Nha Trang là cách đọc của người Việt địa danh Chăm YjaTran hay Ea Trang (có nghĩa là Sông Lau, do con sông cái chảy qua nơi đây có nhiều lau), chúa Nguyễn đánh chiếm của Chăm Pa từ giữa thế kỉ XVII. Thời Pháp thuộc, Nha Trang là tỉnh lị của tỉnh Khánh Hòa, hiện nay là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Khánh Hòa, với diện tích 251 km2 và dân số gần nửa triệu.
Định dành ra 3 - 5 ngày chơi Nha Trang, nhưng rồi vì nhiều lí do chỉ ở chơi Nha Trang được vài giờ buổi chiều. Sau khi xuống tàu, đón xe đến một tiệm trên đường Bạch Đằng ăn tô bún ké lấy sức rồi đi thăm chùa Phật Trắng. Rời chùa, trời đã xế chiều, leo núi đói bụng nên vào chợ Đầm ngó nghiêng ngó ngữa tí rồi ăn dĩa xâu ké, sau đó đến thăm Viện Hải dương, và chùa Linh Sơn cạnh đó.
Muốn vào thăm lầu Bảo Đại nhưng có biển cấm, lầu đang tu sửa, nên tạt vào Central Park lang thang dọc bờ biển, đến sập tối đói bụng thì ghé một quán bar bên bờ biển. Trong quán lác đác vài khách tây, hẳn là Nga. Có lẽ quán chuyên phục vụ khách Nga, nên menu toàn tiếng Nga, phải nhờ bồi bàn giới thiệu. Gọi li cafe và cái sandwich bánh mì đen.
Lâu nay đọc truyện Nga nghe nhắc nhiều đến bánh mì đen, giờ mới được ăn - thơm, ngọt, nói chung là lạ miệng, ngon. Khá lạ là thấy mấy cặp Nga ăn sandwich cũng dùng dao nĩa. Thấy mềnh cầm tay ngoạm, cô gái Nga tre trẻ bàn bên liếc nhìn cười cười. Chuyến đi này gặp khá nhiều người Nga. các cô gái Nga trẻ xinh thế, nhưng sao các bà sồn sồn thì sồ sề thế, ngực to mông to bụng to, cả bắp tay bắp chân cũng to kềnh.
Khoảng 8, 9 giờ tối, người đi dạo dọc biển, rồi ghé quán ăn uống khá nhiều, chả mấy chốc các bàn đã kín khách. Hầu hết là tây, cũng có một nhóm tàu.
Từ chiều đến giờ, ở chùa Long Sơn, ở viện Hải dương, ở lầu Bảo Đại, ở Central Park đâu cũng chỉ gặp khách Nga. Nhưng hỏi mấy anh tài xế taxi họ cho biết hồi này khách Tàu ở Nha Trang còn nhiều hơn khách Nga. Tuy nhiên khi lên taxi, cũng chỉ nghe có lời chào tự động bằng tiếng Việt và tiếng Nga, có lẽ hãng xe chưa kịp cập nhật tiếng Tàu.
Tối ghé thăm nhà thờ Núi một lát rồi lội bộ ra ga, tạm biệt Nha Trang, hẹn ngày trở lại, về Đại Lãnh, ra Hòn Mun Hòn Tằm và ghé tháp Bà tắm bùn. Thật tiếc, chưa kịp tắm lại biển Nha Trang - tối hôm ấy trời khá lạnh. Đã hơn 40 năm ..
| Nha Trang, nhìn từ đỉnh đồi chùa Phật Trắng |
| Cá Mao tiên, Viện Hải dương học |
| Chiều Nha Trang |
| Đêm Nha Trang |
| Một gia đình tây đi dạo phố đêm |
![]() |
| Nhà thờ Núi |
| Bún ké Nhe Treng |
| Xôi ké chợ Đồm |
| Biển đêm |
6/11/15
Trả lại em yêu ..
Nhìn cảnh biểu tình hai hôm nay, nghe mọi người hát vang Dậy mà đi, nhớ Saigon xưa .. Lang thang gặp trên tờ Đô thị bài của Nguyễn Thị Hậu, cop về mọi người đọc cho vui
13/11/14
Quảng Trị trong tôi
Tôi sẽ về ăn nem chợ Sãi
Món quê hương thèm đến nao lòng
Xa quê, ngoài những nơi chốn kỷ niệm: giếng nước gốc đa, con sông nơi mối tình đầu tôi đã đánh rơi, người ta thường nhớ đến những món ăn chỉ riêng quê nhà có. Quảng Trị có khá nhiều món đặc sản được truyền tụng:
Nem chợ Sãi, vải La Vang
Khoai Quán Ngang, dầu tràm Đại Nại
Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ
Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông
Cá bống Bích La, gà Trại Lộc...
Còn nữa: bánh ướt Phương Lang, mắm đam Trà Trì, lòng thả Diên Sanh, .. Nhưng nói thật lòng, kể cho vui vậy thôi, chả mấy món kể trên đây đủ tầm vượt ra khỏi ranh giới Quảng Trị, kể cả món số 1 - nem chợ Sãi, thì cũng phải ra Quảng Trị hỏi thăm bạn bè mới được giới thiệu ăn cho biết.
Thật ra Quảng Trị có hai món đặc sản theo tôi là xứng tầm quốc gia, nhưng lại ít được nhắc đến,
Một, là cá dở. Gọi cá dở, nhưng ngon tuyệt, Chả biết tả làm sao, song so với các loại cá ngon quen thuộc như cá chim, cá thu, cá lăng, cá lóc, cá bống, cá chép, .. chả cá nào bì được. Tra cứu trên mạng, thấy loại cá này được gắn với Quảng Bình. Tuy nhiên tôi nhớ vào những năm cuối 197x, đầu 198x vào chợ Đông Hà bao giờ cũng có thể mua được cá dở, trong khi cũng thời điểm ấy có dịp ra Đồng Hới, Ba Đồn nhiều lần, tìm đỏ mắt ko ra một khúc. Tìm ở Hà Tĩnh, Huế cũng ko thấy có loại cá này. Giá cá lúc ấy ở chợ Đông Hà khá rẻ, ko nhớ cụ thể nhưng so sánh thì chỉ ngang với giá cá thu, cá chim. Ai ngờ hiện nay nghe nói giá 4, 5 trăm ngàn/kg mà ko phải khi nào cũng có. Với giá như này thì e là ăn cá dở ko phải vì bản thân con cá dở nữa rồi.
Hai, là nước mắm. Có dịp đi qua nhiều địa phương nổi tiếng về nước mắm: Thuận An - Huế, Nam Ô - Đà nẳng, Nha Trang, Phan Thiết, Phước Hải, .. ra đến tận Dương Đông, An Thới ở Phú Quốc ... phía bắc cũng đã ra đến Nghệ An, nơi từng có những con thuyền chở nước mắm nổi tiếng nặng mùi, được Cao Bá Quát ví von câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An .. tôi chưa thấy nơi nào có nước mắm ngon như nước mắm ở vùng biển Cửa Việt, Quảng Trị. Hồi 1987 có dịp về đấy. Ngay hôm đầu, bạn cho ăn thịt ba chỉ chấm nước mắm nhà làm lấy. Hơn mười ngày còn lại ở nhà bạn, đến bữa cơm chỉ xin chén nhỏ nước mắm nguyên chất ko pha chế thêm bất kì gì, kèm trái ớt xanh .. tôm mực thịt cá gì gì nhường hết cho bạn, thế mà bữa nào bụng đã no căng, miệng vẫn còn muốn ăn thêm ... Tết vừa rồi, bạn gởi vào cho một chai 3 xị, dùng thật dè sẻn, nhưng tháng trước cũng đã hết rồi. Nghe bạn kể có cô Hằng mắm ruốc người Quảng Trị qua Úc du học lấy xong cái MS về quê lập hảng làm nước mắm, đã có chi nhánh ở Saigon. Bảo con gái tìm mua, nó cứ hẹn rày hẹn mai .. e là có người xúi nó quên, bởi nghe tên lang băm nào đó bảo ăn nước mắm ko tốt cho ngượi bị tension cao ..
Nem chợ Sãi, vải La Vang
Khoai Quán Ngang, dầu tràm Đại Nại
Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ
Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông
Cá bống Bích La, gà Trại Lộc...
Còn nữa: bánh ướt Phương Lang, mắm đam Trà Trì, lòng thả Diên Sanh, .. Nhưng nói thật lòng, kể cho vui vậy thôi, chả mấy món kể trên đây đủ tầm vượt ra khỏi ranh giới Quảng Trị, kể cả món số 1 - nem chợ Sãi, thì cũng phải ra Quảng Trị hỏi thăm bạn bè mới được giới thiệu ăn cho biết.
Thật ra Quảng Trị có hai món đặc sản theo tôi là xứng tầm quốc gia, nhưng lại ít được nhắc đến,
Một, là cá dở. Gọi cá dở, nhưng ngon tuyệt, Chả biết tả làm sao, song so với các loại cá ngon quen thuộc như cá chim, cá thu, cá lăng, cá lóc, cá bống, cá chép, .. chả cá nào bì được. Tra cứu trên mạng, thấy loại cá này được gắn với Quảng Bình. Tuy nhiên tôi nhớ vào những năm cuối 197x, đầu 198x vào chợ Đông Hà bao giờ cũng có thể mua được cá dở, trong khi cũng thời điểm ấy có dịp ra Đồng Hới, Ba Đồn nhiều lần, tìm đỏ mắt ko ra một khúc. Tìm ở Hà Tĩnh, Huế cũng ko thấy có loại cá này. Giá cá lúc ấy ở chợ Đông Hà khá rẻ, ko nhớ cụ thể nhưng so sánh thì chỉ ngang với giá cá thu, cá chim. Ai ngờ hiện nay nghe nói giá 4, 5 trăm ngàn/kg mà ko phải khi nào cũng có. Với giá như này thì e là ăn cá dở ko phải vì bản thân con cá dở nữa rồi.
Hai, là nước mắm. Có dịp đi qua nhiều địa phương nổi tiếng về nước mắm: Thuận An - Huế, Nam Ô - Đà nẳng, Nha Trang, Phan Thiết, Phước Hải, .. ra đến tận Dương Đông, An Thới ở Phú Quốc ... phía bắc cũng đã ra đến Nghệ An, nơi từng có những con thuyền chở nước mắm nổi tiếng nặng mùi, được Cao Bá Quát ví von câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An .. tôi chưa thấy nơi nào có nước mắm ngon như nước mắm ở vùng biển Cửa Việt, Quảng Trị. Hồi 1987 có dịp về đấy. Ngay hôm đầu, bạn cho ăn thịt ba chỉ chấm nước mắm nhà làm lấy. Hơn mười ngày còn lại ở nhà bạn, đến bữa cơm chỉ xin chén nhỏ nước mắm nguyên chất ko pha chế thêm bất kì gì, kèm trái ớt xanh .. tôm mực thịt cá gì gì nhường hết cho bạn, thế mà bữa nào bụng đã no căng, miệng vẫn còn muốn ăn thêm ... Tết vừa rồi, bạn gởi vào cho một chai 3 xị, dùng thật dè sẻn, nhưng tháng trước cũng đã hết rồi. Nghe bạn kể có cô Hằng mắm ruốc người Quảng Trị qua Úc du học lấy xong cái MS về quê lập hảng làm nước mắm, đã có chi nhánh ở Saigon. Bảo con gái tìm mua, nó cứ hẹn rày hẹn mai .. e là có người xúi nó quên, bởi nghe tên lang băm nào đó bảo ăn nước mắm ko tốt cho ngượi bị tension cao ..
Nghe Quảng Trị Trong Tôi, Nguyễn Tất Tùng phổ thơ Tạ Nghi Lễ
Bài thơ sau lấy trên một trang nhacso.net, ko phải ca từ của bản nhạc, nhưng ko rõ có phải là nguyên tác bài thơ của Tạ Nghi Lễ ko.
...Nếu một mai phải xa Quảng Trị
Nhớ quá chừng em bé Triệu Phong
Trên lưng trâu tay cầm sách học
Lời mẹ ru mài sắt nên kim
Gửi ước mơ bay cùng cánh diều...
Ôi thương quá đi thôi
Đất Vĩnh Linh tấm lòng chung thuỷ
Áo nâu sờn mẹ vẫn dạy con
Đói cho sạch rách cho thơm
Nghĩa tình nào hơn mất mạ bú dì
Nếu một mai phải xa Quảng Trị
Tôi sẽ mang theo gió cát Hải Lăng
Hoa yêu thương trên đồi vẫn nở
Như nghĩa tào khang chồng vợ Đông Hà
Cam Lộ ghi sâu tình người với đất .
Nếu một mai phải xa Quảng Trị
Lưu lạc phương Nam ngày tháng nổi trôi
Nhớ quê hương như gà nhớ mẹ
Nhớ tiếng quê mình trọ trẹ thân thương
Xa Quảng Trị sao đành ?!.
...Nếu một mai phải xa Quảng Trị
Tôi sẽ mang theo nắm đất quê hương..
Mời nghe một số bản nhạc viết về Quảng Trị
![]() |
| Bông súng . tranh Lê Bá Đảng |
15/4/14
Kinh thành Huế và vương triều Nguyễn
![]() |
| Bô lão Ái Tử (Quảng Trị) dâng nước cho Nguyễn Hoàng (hình: net) |
Tính từ năm 1558, để tránh họa sát thân Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hóa, đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần bị Trịnh đánh đuổi khỏi Phú Xuân (1774), rồi bị Tây Sơn truy sát tử trận tại Long Xuyên năm 1777, họ Nguyễn ở Đàng trong đã trải qua 221 năm với 9 đời chúa. Tiếp đến, tính từ Gia Long lên ngôi năm 1802 đến Bảo Đại thoái vị năm 1945, nhà Nguyễn trị vị thêm 143 năm với 13 đời vua nữa. Tiểu sử 9 chúa Nguyễn xin click để xem ở cuối bài. Lịch sử tóm tắt 13 vị vua thì đã post ở đây.
Việc đánh giá nhà Nguyễn đến nay vẫn còn nhiều điều chưa thống nhất, dù đã có một hội nghị năm 2008 tại Thanh Hóa, và mới năm ngoái, 2013, một hội nghị nữa tại Quảng Trị. Sau đây mời tham khảo một tài liệu do Ban Khoa giáo Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện
click đọc: Các Chúa Nguyễn
12/4/14
Phục dựng Hoàng thành Huế bằng kỹ thuật số
Tối nay Festival Huế 2014. Về thăm lại Hoàng thành ..
Hoàng thành Huế được xây dựng từ năm 1803 ngay sau khi Gia Long lên ngôi (1802), và hoàn tất năm 1933 dưới thời Minh Mạng.
Rất nhiều công trình kiến trúc ở Đại nội đã bị tàn phá trong chiến tranh - một lần vào 1946, với chủ trương tiêu thổ kháng chiến; một lần vào 1968, với 25 ngày đêm giao tranh ác liệt giữa quân đội 2 phe ngay trong đại nội.
Trong những năm gần đây một số công trình đã được phục dựng, nhưng chưa nhiều. Năm 2007 một dự án phục dựng Hoàng thành Huế bằng kỹ thuật số vào thời điểm huy hoàng của nó đã được Hàn Quốc giúp đỡ thực hiện. Người ta đã sử dụng kỹ thuật quét ba chiều và đồ họa vi tính để tạo lại hình ảnh của Đại nội, với những công trình tiêu biểu: Ngọ môn, điện Thái hòa, kỳ đài ...
27/12/13
Quê Hương 2 - Giang Nam
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ
"Ai bảo chăn trâu là khổ?"
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được..
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích..
Bài thơ từng gắn bó với nhiều thế hệ học trò, và cả với những người ko còn tuổi học trò khi giải phóng .. Ngâm nga trong đám cưới, trong bữa nhậu .. bởi ngoài ra chẳng biết ngâm nga hát hò gì - nhạc cũ thì bị cấm, nhạc đỏ thì không hợp không khí tí nào .. .
Trong entry trước đã có dịp nghe Hồng Vân, Minh Ngọc, Lệ Quyên ngâm, cũng như nghe nhạc của Vũ Đức Quân, Võ Tá Hân, Nguyễn Khắc Chính phổ từ bài thơ. Hôm nay mời nghe Vũ Kim Dung, Bảo Cường ngâm, và nghe nhạc do Phạm Trọng Cầu phổ
3/9/13
Quê hương 3
![]() |
| nhà thơ Đỗ Trung Quân |
Ta đã có 2 bài Quê Hương của Tế Hanh và của Giang Nam. Hôm nay đến bài Quê Hương thứ 3 của Đỗ Trung Quân.
Đúng ra nhan đề bài thơ của Đỗ Trung Quân không phải Quê Hương mà là Bài Học Đầu Cho Con, Quê Hương chỉ là nhan đề bản nhạc do Giáp Văn Thạch phổ từ bài thơ, nhưng từ bản nhạc, người ta mới biết đến bài thơ, và vì thế bài thơ thường được nhớ dưới tên Quê Hương.
Mời nghe tác giả đọc bài thơ và kể về hoàn cảnh sáng tácnó
Đúng ra nhan đề bài thơ của Đỗ Trung Quân không phải Quê Hương mà là Bài Học Đầu Cho Con, Quê Hương chỉ là nhan đề bản nhạc do Giáp Văn Thạch phổ từ bài thơ, nhưng từ bản nhạc, người ta mới biết đến bài thơ, và vì thế bài thơ thường được nhớ dưới tên Quê Hương.
Mời nghe tác giả đọc bài thơ và kể về hoàn cảnh sáng tácnó
13/8/13
Quê hương - Tế Hanh
![]() |
| nhà thơ Tế Hanh (1921 - 2009) |
Hơn 20 năm trước đó, Tế Hanh cũng đã viết một bài thơ với tựa Quê Hương
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá ..
4/8/13
Quê Hương - Giang Nam
![]() |
| tranh: lấy trên net |
Nhà thơ Giang Nam tên thật Nguyễn Sung, sinh năm 1929 tại Khánh Hòa, tham gia Việt Minh từ 8/1945, đã từ giữ nhiểu trọng trách: Tổng biên tập báo Văn Nghệ, CT Hội Văn nghệ Phú Khánh, PCT UBND tỉnh Phú Khánh ..
Ông đã cho xuất bản hơn 10 tập thơ, truyện .. nhưng người ta biết ông chủ yếu qua bài thơ Quê Hương.
Bài thơ Quê Hương được ông viết năm 1960 khi nghe tin vợ hoạt động du kích bị bắt cùng với con gái và bị giết.. Bài thơ sau đó được trao giải nhì Báo Văn Nghệ, và vợ con ông thật ra cũng không hề bị giết chết, đã được thả ra sau hai năm tù.
Bài thơ từng được chọn đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông, nhưng trong một đợt cải cách chương trình, bài thơ đã bị loại; nghe đâu là vì những từ chim bướm được dùng trong bài, ngày nay bị xem là nhạy cảm . Thật ra có lẻ còn vì bài thơ có nhiều chổ viết khá dễ dãi.
Bài thơ đã được một số nhạc sĩ phổ nhạc. Mời nghe lại bài thơ nổi tiếng một thời qua một số giọng ngâm, và mấy bản nhạc phổ từ bài thơ ..26/4/13
Âm nhạc truyền thống Huế 1
Âm nhạc truyền thống Huế có hai dòng chính
1. Âm nhạc dân gian gồm:
1. Âm nhạc dân gian gồm:
| anh: tapchi Song Huong |
- các điệu hò: hò mái nhì, hò mái đẩy, hò giã gạo, hò nện, hò ru em, hò bài chòi, hò đưa linh ..
- nói vè: là hình thức kể chuyện bằng văn vần (lục bát, song thất lục bát, hay thể thơ 4 chữ .. dài ngắn tùy nội dung câu chuyện muốn kể) nhạc điệu đơn giản.
- các điệu lý: Lý giang nam, lý hoài xuân (lý con sáo Huế), lý hoài nam (lý qua đèo), lý ngựa ô, ..
Hò, nói vè, lý trong truyền thống không yêu cầu nhạc khí phụ họa.
- nhạc lễ: hát bả trạo (trong lễ cầu ngư), hát chầu văn (trong lễ hầu bóng)
- nói vè: là hình thức kể chuyện bằng văn vần (lục bát, song thất lục bát, hay thể thơ 4 chữ .. dài ngắn tùy nội dung câu chuyện muốn kể) nhạc điệu đơn giản.
- các điệu lý: Lý giang nam, lý hoài xuân (lý con sáo Huế), lý hoài nam (lý qua đèo), lý ngựa ô, ..
Hò, nói vè, lý trong truyền thống không yêu cầu nhạc khí phụ họa.
- nhạc lễ: hát bả trạo (trong lễ cầu ngư), hát chầu văn (trong lễ hầu bóng)
16/4/13
Bà mẹ Gio Linh - hồi ức
| trước nhà Bà mẹ Gio Linh |
Hôm nay mời mọi người về Quảng Trị, theo chân Phạm Duy và Duy Quang thăm lại bà mẹ Gio Linh đã đi vào huyền thoại, nghe Phạm Duy kể về hoàn cảnh sáng tác Bà Mẹ Gio Linh và nghe Thái Thanh kể kỉ niệm những lần hát nhạc phẩm này bằng giọng Hà Nội gốc mà đến chính nhiều người gốc Hà Nội trẻ tuổi hôm nay cũng ngỡ ngàng vì ko nghĩ nó đẹp đẽ sang trọng đến thế
.
Đặc biệt cho các em nghe Thái Thanh trình bày nhạc phẩm này để hiểu như nào như nào là hát
Đặc biệt cho các em nghe Thái Thanh trình bày nhạc phẩm này để hiểu như nào như nào là hát
Bà Mẹ Gio Linh - Duy Quang
Phạm Duy, Thái Thanh nhắc lại về Bà Mẹ Gio Linh - Thùy Khuê
Bà mẹ Gio Linh - Thái Thanh
15/4/13
13/4/13
Về Miền Trung - Pham Duy
Về Miền Trung được Phạm Duy sáng tác năm 1947, thời gian ông tham gia kháng chiến dưới trướng tướng Nguyễn Sơn, được cử về miền Trung và những cảnh đời xót xa ở đấy đã khiến ông viết một loạt những ca khúc cảm động như Bao giờ anh lấy được đồn Tây (Quê nghèo), Bà mẹ Gio Linh ..
Mời nghe bài hát qua một số giọng ca và nghe nhà phê bình Thụy Khuê phỏng vấn Phạm Duy và Thái Thanh về bài hát này
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)











1. Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên, 1558-1613)
Mạc Đǎng Dung cướp ngôi nhà Lê, Nguyễn Kim lánh sang Ai Lao, thu nạp hào kiệt, phò giúp nhà Lê trung hưng, được vua Lê Trang Tông phong là Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công. Nǎm Canh Tý - l540 Nguyễn Kim đem quân về chiếm Nghệ An, nǎm l542 chiếm được Tây Đô - Thanh Hóa. Nǎm ất Tị - 1545, Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, thọ 75 tuổi, quyền hành rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm.
Khi Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao thì Nguyễn Hoàng mới 2 tuổi, được Thái phó Nguyễn Ư Dĩ là cậu ruột nuôi dạy nên người.
Trịnh Kiểm là anh rể, muốn thâu tóm quyền hành nên đã ngấm ngầm ám hại các em vợ. Nguyễn Uông, con trưởng của Nguyễn Kim đã bị hãm hại. Nguyễn Hoàng rất lo sợ, sai người đến yết kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xin mách cho kế an toàn, Trạng Trình đã ứng khẩu câu thơ: ''Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân!'' (một dãy núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời).
Nguyễn Hoàng nghĩ ra, đến nói với chị gái là Ngọc Bảo xin với anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hoá là nơi hoang vu nhiều giặc dã. Trịnh Kiểm đồng ý cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá với ý đồ mượn tay giặc giết em vợ.
Nǎm Mậu Ngọ - 1558, Trịnh Kiểm tâu với vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá.
Được lệnh vào Nam, bất chấp mùa đông giá rét, Nguyễn Hoàng giong buồm đi ngay, những người họ hàng ở huyện Tống Sơn cùng quân lính ở đất Thanh - Nghệ nhiều người đem cả vợ con đi theo có đến nghìn người. Các danh thần cùng đi có Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị, Mạc Cảnh Huống...
Vào Nam, đoàn người của Nguyễn Hoàng đổ bộ lên cảng Cửa Việt, dựng dinh thự ở Ái Tử thuộc huyện Đǎng Xương, Quảng Trị.
Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, nhân hậu, lưu tâm đến dân tình, hết lòng thu dung hào kiệt. ông giảm sưu, hạ thuế khiến lòng người ai cũng mến phục. Nhân dân xưng tụng ông là chúa Tiên.
Để tránh sự nghi kỵ của chúa Trịnh, nǎm 1569, ông ra chầu vua Lê ở An Trường, được vua Lê, chúa Trịnh khen ngợi. Nǎm 1570, Nguyễn Hoàng được giao trấn thủ luôn đất Quảng Nam với ấn Tổng trấn. ông dời đô vào làng Trà Bát (tức Cát Dinh) cũng thuộc huyện Đǎng Xương.
Nǎm 1572, tướng Lập Bạo của nhà Mạc theo đường biển đem quân vào đóng ở hai làng Hồ Xá và Lang Uyển (Quảng Trị) định phá sự nghiệp ở Thuận - Quảng của Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng đã dùng kế mỹ nhân phá được âm mưu của Lập Bạo và đánh tan được quân nhà Mạc.
Nǎm 1593, Nguyễn Hoàng đem quân ra Đông Đô giúp Trịnh Tùng đánh dẹp dư đảng họ Mạc. Vì lập được nhiều chiến công, ông được vua Lê tấn phong làm Trung quân Đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự thái uý Đoan quốc công. Để tránh Trịnh Tùng hãm hại, nǎm Canh Tý - 1600 Nguyễn Hoàng lấy cớ đem quân đi dẹp cuộc nổi loạn ở Nam Định, sau đó cùng các tướng tâm phúc ra biển giong thẳng vào đất Thuận - Quảng để con trai thứ 5 là Hải và cháu là Hắc ở lại làm con tin. Vua Lê sai sứ giả vào phủ dụ và vẫn để Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận - Quảng. Tháng 10 nǎm Canh Tý - 1600, Nguyễn Hoàng gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con cả Trịnh Tùng).
Có thể nói từ nǎm 1600, Nguyễn Hoàng bắt đầu xây dựng giang sơn riêng cho họ Nguyễn ở Đàng Trong.
Thuận - Quảng vốn là đất cũ của người Chǎm chịu ảnh hưởng vǎn hóa Chǎmpa, chúa Tiên dã dùng Phật giáo để thuần hoá nhân dân. ông sửa sang và xây dựng nhiều ngôi chùa.
Đặc biệt, nǎm 1601 ông cho xây dựng chùa Thiên Mụ là công việc to lớn có giá trị nhất. Ngôi chùa lịch sử này đã có quan hệ mật thiết với quá trình phát triển đất Thuận Hoá và triều Nguyễn ở Việt Nam.
Nguyễn Hoàng sinh ngày 28/8/1525, mất ngày 21/5/1613 thọ 89 tuổi, trấn thủ Thuận - Quảng 55 nǎm (1558-1613). ông sinh 10 con trai và 2 con gái. Sau này, triều Nguyễn truy tôn ông là Thái tổ Gia dụ Hoàng đế.
2. Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi, 1613-1635)
Nguyễn Hoàng sắp mất, gọi con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên vào dặn dò: Đất Thuận - Quảng này phía bắc thì có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía nam thì có núi Hải Vân và núi Bi Sơn thật là nơi trời để cho người anh hùng dụng võ. Vậy con phải thương yêu nhân dân, luyện tập binh sĩ mới gây dựng cơ nghiệp muôn đời.
Nguyễn Phúc Nguyên khóc và bái tạ lãnh mạng. Vua Lê sai sứ giả vào viếng và truy tặng Nguyễn Hoàng là Cẩn nghi công, vẫn cho Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ Thuận - Quảng với hàm Thái bảo, tước Thuỵ quận công. Nguyễn Phúc Nguyên xưng là Sãi vương và cho rời cung phủ về xã Phúc Yên, huyện Quảng Điền, ngày đêm lo việc chính sự, thu dụng nhân tài. Quan khám lý Trần Đức Hoà tiến cử Đào Duy Từ cho chúa Nguyễn, chúa mừng lắm phong cho Đào Duy Từ tước Lộc kê hầu, chức Nha uý nội tán. Đào Duy Từ giúp chúa Nguyễn đắp luỹ Trường Dục luỹ Thầy để phòng ngự, chống nhau với quân Trịnh, Đào Duy Từ còn bày kế sách cho chúa Nguyễn trả lại sắc phong của vua Lê, không chịu nộp thuế cống cho chúa Trịnh.
Chuyện kể rằng nǎm Đinh Mão - 1627, Trịnh Tráng sai sứ mang sắc vua Lê dụ chúa Sãi cho con vào chầu và nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền để đưa cống nhà Minh. Nhận được sắc vua, chúa Sãi họp triều thần hỏi mưu kế. Đào Duy Từ dâng kế, cho người làm một cái mâm hai đáy, trên sắp đầy sản vật, giữa để sắc thư, rồi cử Lại Vǎn Khuông làm chánh sứ đem phẩm vật ra tạ ơn chúa Trịnh. Nhờ đã được chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến chúa Trịnh, Lại Vǎn Khuông ứng đối khá trôi chảy. Chúa hậu đãi, cho phép Khuông cùng phái đoàn đi thǎm kinh thành để chờ chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Sau khi đọc cẩm nang, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn đột ngột trốn về, chúa Trịnh nghi hoặc, bèn cho người đập vỡ mâm mới thấy tờ sắc trước, và một bài thơ, mỗi câu bốn chữ như sau.
Mâu nhi địch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch
Cả triều thần không ai hiểu ý nghĩa. Trịnh Tráng phải mời Trạng Bùng Phùng Khắc Hoan giải mã... Đọc xong Phùng Khắc Khoan giải thích: Đấy là lối chơi chữ của Đào Duy Từ, chữ mâu không có dấu phẩy là chữ dư, chữ mịch không thấy chữ kiến thì còn chữ bất, chữ ái rơi chữ tâm thành chữ thụ, chữ lực cùng đối địch với chữ lai thành chữ sắc. Vậy ý nghĩa của bài thơ 4 câu trên là Dư bất thụ sắc tức là Ta không nhận sắc.
Nghe xong, Trịnh Tráng vội cho người tìm bắt Lại Vǎn Khuông, nhưng Khuông đã cao chạy xa bay rồi. Tráng muốn phát binh vào đánh chúa Nguyễn, nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc, đành phải hoãn lại chưa đi hỏi tội chúa Nguyễn.
Đào Duy Từ còn tiến cử cho chúa Nguyễn một viên tướng tài ba, mưu lược là Nguyễn Hữu Tiến, quân lực của chúa Nguyễn từ đó ngày thêm mạnh. Đào Duy Từ chỉ giúp chúa Nguyễn 8 nǎm mà cơ nghiệp chúa Nguyễn thay đổi hẳn về chất, đất Đàng Trong trở nên có vǎn hiến và quy củ hơn trước nhiều.
Đối với lân bang, chúa Sãi chủ trương thân thiện với Chiêm Thành và Chân Lạp. Nǎm 1620, chúa gả công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chetta II (1618?1686) để tạo thuận lợi cho dân chúng vào khai khẩn đất hoang ở Thuỷ Chân Lạp. Nǎm 1631, chúa Sãi lại gả công nữ Ngọc Khoa cho vua Chiêm Pô Romê để củng cố nền hoà hiếu một thời gian khá dài giữa hai nước Chiêm ? Việt.
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, sinh 16/8/1563, mất ngày 19/12/1635 thọ 73 tuổi, ở ngôi chúa 22 nǎm. Sau triều Nguyễn truy tôn Hy tông Hiếu vǎn Hoàng đế. Chúa Sãi có 15 người con (11 con trai và 4 con gái).
3. Chúa Nguyễn Phúc Lan (chúa Thượng, 1635-1648)
Nguyễn Phúc Nguyên có 11 con trai. Nguyễn Phúc Lan là con trai thứ hai được truyền ngôi chúa.
Năm Ất Hợi (1635) chúa Sãi mất, Nguyễn Phúc Lan lên ngôi chúa gọi là chúa Thượng.
Nghe tin Phúc Lan nối nghiệp, hoàng tử thứ 3 là Nguyễn Phúc Anh đang trấn giữ Quảng Nam âm mưu phản nghịch, liên kết với chúa Trịnh đem quân vào đánh miền Nam. Phúc Anh sai đắp luỹ Câu Ðê làm kế cố thủ. Phúc Lan đánh bắt được, không nỡ giết người ruột thịt, nhưng tướng sĩ và ông chú là Trường quận công Nguyễn Phúc Khê đều xin giết để trừ hậu hoạ.
Chúa dù đau xót cũng phải nghe theo.
Năm Kỷ Mão (1639), Tống Thị (vợ goá của Phúc Anh) dâng cho chúa chuỗi hoa vòng ngọc liên châu rất đẹp. Chúa cầm lên ngửi thấy mùi hương thơm ngát xúc động lòng yêu. Tống Thị lại vào sụp lạy dưới thềm, thưa trình về tình cảnh goá bụa thảm thiết, nhan sắc lại cực kỳ diễm lệ. Chúa Thượng nổi tình riêng, sau đó mời nàng vào nội thất chung chăn gối.
Từ đó chúa rất mực sủng ái Tống Thị. Nàng trình bẩm việc gì chúa cũng nghe theo. Tống Thị lựa lời khéo léo để chúa vui lòng, nghĩ cách chiếm đoạt của cải của dân để làm giàu riêng. Các quan đại thần căm ghét Tống Thị, tìm cách can gián nhưng chúa không nghe. Cho hay, nhan sắc, gái đẹp có mãnh lực vô biên, làm lung lạc cả đấng quân vương.
Làm chúa được 9 năm, vị chúa đa tình này lập được chiến công vang dội. Lần đầu tiên trong lịch sử, thuỷ quân Việt Nam đã đánh thắng thủy quân Âu Châu.
Ðó là năm 1643, Hà Lan theo yêu cầu của chúa Trịnh đã cho 3 chiếc tàu đồng kiểu tròn, trang bị nhiều trọng pháo tiến vào cửa Eo (Thuận An) mưu đồ xâm lược nước ta.
Chúa Thượng họp quần thần bàn định có nên đưa chiến thuyền của mình ra đánh tàu Hà Lan hay không. Các quần thần không dám hứa là chắc thắng. Chúa hỏi một người Hà Lan đang giúp việc cho chúa. Người ấy tự phụ trả lời: Tầu Hà Lan chỉ sợ mãnh lực và quân đội của trời thôi. Nghe vậy, chúa cảm thấy bị xúc phạm. Ông thân hành đến Eo, ra lệnh cho thuỷ quân chèo thuyền ra đánh thẳng vào 3 chiếc tàu của Hà Lan.
Hàng trăm chiếc thuyền Việt Nam xông thẳng vào các chiếc tàu Hà Lan, mặc đại bác bắn ra như mưa. Bốn mặt tàu Hà Lan đều bị tấn công. Nhờ thuyền nhỏ cơ động, nhanh nhẹn nên mặc dù bị một số đạn, thuyền Việt Nam vẫn bao vây tấn công vào tàu Hà Lan quyết liệt. Chúng vô cùng kinh hoàng, không ngờ thủy quân chúa Nguyễn lại gan dạ đến thế. Chiếc nhỏ nhất vội luồn lách chạy thoát thân. Chiếc thứ hai thảng thốt đâm vào đá, cả đoàn thuỷ thủ và tàu chìm nghỉm xuống biển. Chiếc thứ 3 lớn nhất chống cự lại, các thuỷ quân chúa Nguyễn bám sát tàu bẻ bánh lái. Một số nhảy lên tàu, chặt gẫy cột buồm. Bị dồn vào thế tuyệt vọng, thuyền trưởng Hà Lan cho nổ kho thuốc súng. Thế là tất cả thủy thủ bị hoả thiêu chết la liệt trên biển. Có 7 tên trên tàu nhảy xuống biển, cố bơi thoát nhưng đều bị tóm cổ.
Thắng trận trở về, chúa Thượng dẫn 7 tên tù binh đến trước mặt người Hà Lan nói:
- Cần chi mãnh lực và quân đội của trời mới phá được. Chiến thuyền của ta cũng khá đấy chứ.
Năm 1648, Trịnh Tráng cho các đạo quân thuỷ bộ đánh vào miền Nam. Bộ binh đóng ở đất Nam Bố Chính, còn thuỷ quân thì đánh vào cửa Nhật Lệ. Nguyễn Phúc Lan phải tự cầm quân đánh lại. Sau Phúc Lan thấy trong người không được khoẻ, mới trao binh quyền cho con trai là Nguyễn Phúc Tần và tướng Nguyễn Hữu Dật chỉ huy còn mình thì rút về. Ðến phá Tam Giang thì chúa mất, thọ đến 48 tuổi, ở ngôi chúa 13 năm. Sau triều Nguyễn truy tôn là Thần tôn Hiến chiêu Hoàng đế. Chúa Thượng có 4 người con (3 con trai, 1 con gái).
4. Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền, 1648-1687)
Nguyễn Phúc Tần sinh năm Canh Thìn (1620). Lúc đầu được phong Phó tướng Dũng lễ hầu, đã từng đánh giặc ở cửa biển, được chúa Phúc Lan rất khen ngợi. Năm Mậu Tý - 1648 được tấn phong là tiết chế chủ quân, thay Phúc Lan phá quân Trịnh ở sông Gianh. Bấy giờ ông 29 tuổi. Chúa Nguyễn Phúc Lan mất đột ngột, bày tôi tôn Nguyễn Phúc Tần lên ngôi chúa, gọi là chúa Hiền. Chúa Nguyễn Phúc Tần là người chăm chỉ chính sự, không chuộng yến tiệc vui chơi.
Phúc Tần biết tận dụng hai tướng tài giỏi là Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến. Quân chúa Nguyễn nhiều lần vượt sông Gianh tiến ra đất Đàng Ngoài. Năm 1656, sau hai năm tấn công ta Bắc, quân Nguyễn đã chiếm được 7 huyện của Nghệ An. Tự thân Nguyễn Phúc Tần đã đem quân ra đến Nghệ An đóng tại xã Vân Cát, quân Nguyễn có thể tiến sâu thêm nữa, nhưng nghe tin Trịnh Tráng mất, con là Trịnh Tạc lên ngôi chúa đang chịu tang, chúa Nguyễn cho người sang điếu rồi rút quân về, lưu các tướng đóng đồn từ sông Lam trở về Nam, đắp luỹ từ núi đến cửa biển để phòng ngự. Sau đợt tấn công đó, quân Nguyễn còn chiếm đất Nghệ An thêm 5 lần nữa, năm 1660 chúa Trịnh mới khôi phục lại được. Từ đó Trịnh - Nguyễn cầm cự nhau suốt mấy chục năm không phân thắng bại.
Năm Kỷ Mùi - 1679, chúa Nguyễn cho phép Dương Ngạn Địch, một tướng cũ của triều Minh cùng với Trần Thượng Xuyên đem gia thuộc hơn 3000 người và hơn 50 chiến thuyền đến khai phá vùng đất Gia Định - Mỹ Tho. Từ đó phố xá, chợ búa mọc lên sầm uất, thuyền buôn của các nước Thanh, Nhật Bản và các nước phương Tây ra vào tấp nập, do đó phong hoá ngày càng mở mang
Dưới thời chúa Hiền, nhiều kênh dẫn nước tưới ruộng được khơi đào, như Trung Đàn, Mai Xá. Bấy giờ bờ cõi được thái bình, thóc lúa được mùa. Chúa càng chăm lo chính sự, không xây đền đài, không gần gái đẹp, bớt lao dịch thuế khoá, nhân dân đều khen ngợi thời thái bình thịnh trị.
Năm Đinh Mão - 1687, chúa Hiền mất, thọ 65 tuổi, ở ngôi chúa 39 năm. Triều Nguyễn truy tôn ông là Thái tông hiền triết hoàng đế. Chúa Hiền có 9 người con (6 con trai, 3 con gái).
5. Nguyễn Phúc Thái (chúa Nghĩa, 1687-1691)
Nguyễn Phúc Tần có 6 người con trai, Nguyễn Phúc Thái là con thứ 2 của bà vợ thứ hai người họ Tống, nhưng lớn tuổi và hiền đức. Khi Nguyễn Phúc Tần mất, Thái đã 39 tuổi.
Nguyễn Phúc Thái nổi tiếng là người rộng rãi, hình phạt và phú thuế đã nhẹ, trăm họ ai cũng vui mừng. Quan lại cũ của triều trước đều được trọng đãi.
Người đời sau nhắc đến chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái là nhớ chúa đã dời phủ từ Kim Long về Phú Xuân địa thế bằng phẳng, đẹp đẽ, tiếp nối nhiều đời chọn làm kinh đô.
Chúa không thọ được lâu. Sau 4 năm ở ngôi chúa, năm Tân Mùi - 1691, Nguyễn Phúc Thái mất, thọ 43 tuổi. Triều Nguyễn truy tôn ông là Anh tông hiếu nghĩa hoàng đế. Chúa Nghĩa có 10 người con (5 con trai, 5 con gái).
6. Nguyễn Phúc Chu (chúa Quốc, 1691-1725)
Nguyễn Phúc Chu là con cả Nguyễn Phúc Thái, sinh nǎm ất Mão - 1675, được ǎn học khá cẩn thận vì thế vǎn hay chữ tốt, đủ tài lược vǎn võ. Khi nối ngôi Chúa mới 17 tuổi.
Chúa Nguyễn Phúc Chu mộ đạo Phật. Nǎm 1710 chúa sai đúc chuông lớn nặng tới 3.285 cân, đặt ở chùa Thiên Mụ và xây dựng một loạt chùa miếu khác. Chúa cho mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa núi Mỹ An. Tự chúa cũng ǎn chay ở vườn Côn Gia một tháng trời. Chúa phát tiền gạo cho người nghèo. Đây là thời kỳ mà chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã tạm ngừng hơn 30 nǎm, đất nước bình yên, chúa Nguyễn Phúc Chu có điều kiện mở mang đất đai về phía Nam và đạt được những thành tựu đáng kể: đặt phủ Bình Thuận nǎm Đinh Sửu - 1697 gồm đất Phan Rang, Phan Rí, chia làm hai huyện An Phúc và Hoà Đa; bắt đầu đặt phủ Gia Định, chia đất Đông Phố lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long; dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hoà) lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình; dựng dinh Phiên Trấn; lập xã Minh Hương... Từ đó người Thanh đi lại buôn bán rất sầm uất.
Nǎm 1702, Công ty ấn Độ của Anh do Allen Catohpole đem 200 quân đến chiếm đảo Côn Lôn, chúa Quốc lập tức sai con là Nguyễn Phúc Phan dùng mưu đánh đuổi ra khỏi đảo.
Nǎm 1708, chúa Quốc dùng Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên.
Nǎm 1709, chúa Quốc cho đúc ấn Quốc Bửu "Đại Việt Quốc, Nguyễn Phúc Vĩnh Trấn chi bửu" ấn ấy về sau trở thành vật báu truyền ngôi. Nǎm 1714, chúa Quốc đại trùng tu chùa Thiên Mụ và đi thǎm phố Hội An. Nhân thấy cầu do người Nhật làm tụ tập nhiều thuyền buôn các nước, chúa bèn đặt là Lai Viễn Kiều và ban biển chữ vàng ngày nay vẫn còn biển đó.
Ngày 1/6/1725, chúa Quốc mất, thọ 51 tuổi, ở ngôi 34 nǎm. Sau triều Nguyễn truy tôn là Hiến Tông Hiếu Minh Hoàng đế. Chúa Quốc có 42 người con (38 con trai và 4 con gái).
7. Nguyễn Phúc Thụ (Ninh Vương, 1725-1738)
Nguyễn Phúc Thụ (nhiều sách viết là Chú) sinh ngày 14/1/1697, là con trai cả của chúa Quốc, khi chúa Quốc mất được lên ngôi Chúa lúc đó đã 30 tuổi, xưng hiệu là Ninh Vương.
Nǎm Quý Sửu - 1733, chúa cho đặt đồng hồ mua của Tây phương ở các dinh và các đồn tàu dọc biển. Sau có người thợ thủ công là Nguyễn Vǎn Tú chế tạo được chiếc đồng hồ y hệt.
Nǎm Bính Thìn - 1736, Mạc Cửu mất, con trai là Mạc Thiên Tứ được chúa cho làm Đô đốc trấn Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ là một nhà cai trị giỏi, mà lại vǎn thơ hay, Mạc Thiên Tứ mở Chiêu Anh Các để tụ họp các vǎn nhân thi sĩ cùng nhau xướng hoạ. Mạc Thiên Tứ để lại 10 bài thơ ca ngợi phong cảnh đẹp của Hà Tiên (Hà Tiên thập vịnh).
Ngày 7/6/1738, Ninh Vương mất, thọ 42 tuổi, ở ngôi 13 nǎm. Sau triều Nguyễn truy tôn là Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế. Ninh Vương có 9 người con (3 con trai, 6 con gái).
8. Nguyễn Phúc Khoát (Võ Vương, 1738-1765)
Nguyễn Phúc Khoát, sinh nǎm Giáp Ngọ (1714), là con trưởng của Ninh Vương được lên ngôi chúa ngày 7/6/1738, lấy hiệu là Từ Tế Đạo nhân. Nǎm Giáp Tý (1744), Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi vương xưng là Võ Vương cho đúc ấn Quốc Vương. Xuống chiếu bố cáo thiên hạ, lấy Phú Xuân làm kinh đô.
Từ nǎm Giáp Tuất (1754), để xứng đáng với kinh đô của Nguyễn Vương, Phú Xuân được xây dựng thêm hàng loạt cung điện theo quy mô đế vương. Đặc biệt chiếc áo dài Việt Nam tha thướt xinh đẹp như hiện nay, phải trải qua một quá trình phát triển, nó được hình thành từ đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát.
Nǎm 1757, Võ Vương đặt Rạch Giá làm đạo Kiên Giang, Cà Mau làm đạo Long Xuyên.
Ngày 7/6/1765, Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát mất, thọ 52 tuổi, nối ngôi được 27 nǎm.
Triều Nguyễn truy tôn ông làThế tông Hiếu vũ Hoàng đế. Võ Vương có 30 người con (18 con trai, 12 con gái).
9. Nguyễn Phúc Thuần (Định Vương, 1765-1777)
Nguyễn Phúc Thuần sinh ngày 31/12/1753, là con thứ 16 của Nguyễn Phúc Khoát.
Võ Vương lúc đầu lập con thứ 9 là Phúc Hiệu làm thái tử, nhưng Hiệu mất sớm, con trai Hiệu là Hoàng tôn Phúc Dương còn thơ ấu mà hoàng tử cả là Chương cũng đã mất. Hoàng tử thứ hai là Nguyễn Phúc Luân cũng rất khôi ngô tuấn tú, theo thứ tự sẽ phải lập Hoàng tôn Dương hoặc Phúc Luân lên ngôi nên đã trao Luân cho một thầy học nổi tiếng là Trương Vǎn Hạnh dạy bảo. Nhưng khi Võ Vương mất, tình hình lại đảo ngược. Quyền thần Trương Phúc Loan không muốn lập Phúc Luân vì Luân đã lớn tuổi, khó bề lộng hành. Trương Phúc Loan lại chọn Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi vua.
Phúc Luân không được lập mà còn bị bắt giam. Trương Vǎn Hạnh cũng bị giết chết.
Nguyễn Phúc Thuần còn nhỏ tuổi, mọi quyền hành đều do Trương Phúc Loan sắp đặt. Loan tự phong là Quốc phó. Loan thâu tóm toàn bộ từ chính sự đến kinh tế. Các nguồn lợi chủ yếu của vương quốc Đàng Trong đều rơi vào tay Trương Phúc Loan và họ hàng của hắn.
Ngày nắng, Loan cho đem phơi của cải quý báu làm sáng rực cả một góc trời. Có tiền, có quyền, Loan mặc sức hoành hành ngang ngược, người người ai nấy đều oán giận.
Nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc cầm đầu ở Quy Nhơn được nhân dân đồng tình ủng hộ ngày càng lớn mạnh. Thêm vào đó, tháng 5 nǎm Giáp Ngọ (1774) Chúa Trịnh lại cho đại quân vào đánh Nguyễn. Cả nghĩa quân Tây Sơn lẫn quân Trịnh đều nêu khẩu hiệu : "Trừ khử quyền thần Trương Phúc Loan và tôn phò Hoàng tôn Dương". Chiến tranh loạn lạc lại nổ ra, đất Thuận Hoá trước trù phú là thế mà nay trǎm bề xơ xác tiêu điều, người chết đói đầy đường. Trước tình cảnh đó, không có cách nào khác, tôn thất nhà Nguyễn cùng nhau lập tức bắt trói Trương Phúc Loan nộp cho quân Trịnh. Tháng 12 nǎm 1974, quân Trịnh chiếm được Phú Xuân và đặt quan cai trị Thuận Hoá. Trong số quan lại nhà Trịnh cử vào trấn thủ Thuận Hoá có Lê Quý Đôn (1776).
Nghĩa quân Tây Sơn tìm cách hoà hoãn với quân Trịnh để yên mặt Bắc và rảnh tay đánh Nguyễn ở phía Nam. Đại quân Tây Sơn cả thuỷ lẫn bộ đánh vào Gia Định. Chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy về Định Tường rồi lại chạy sang Long Xuyên. Tháng 9 nǎm Đinh Dậu (1777), quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ thống lĩnh đánh chiếm Long Xuyên, chúa Nguyễn bị chết trận. Như vậy Nguyễn Phúc Thuần ở ngôi chúa được 12 nǎm, thọ 24 tuổi không có con nối. Sau triều Nguyễn truy tôn là Duệ Tông Hiếu định Hoàng đế. Định vương Nguyễn Phúc Thuần chết, kết thúc giai đoạn lịch sử của 9 đời chúa Nguyễn Đàng Trong.
Nguồn: http://www.quehuong.org.vn
cóp lại từ: lichsuvietnam.org.vn
----
(*) Trên vi.wiki trong mục từ Chúa Nguyễn đã dẫn tác giả Đinh Công Vĩ, khẳng định Nguyễn Hoằng Dụ ko phải cha, mà là em họ của Nguyễn Kim.